Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 1)

MỞ ĐƯỜNG

Giao điểm đường Trường Sơn với đường Hồ Chí Minh qua Tây Giang.

Sau 50 năm, nhóm phóng viên Báo Quảng Nam đã có chuyến đi dọc đường Trường Sơn năm xưa, đường Hồ Chí Minh hôm nay qua địa phận Quảng Nam thực hiện loạt bài để phác họa đôi nét về một con đường đã đi vào huyền thoại…

Chúng tôi thực hiện chuyến đi dọc đường Trường Sơn bằng xe máy trong những ngày cuối tháng tư lịch sử. Cách đây mấy mươi năm, núi rừng nơi đây rầm rập bước chân của hàng vạn bộ đội ào ào tiến về Nam, còn giờ đây Trường Sơn đang đón nhận đợt gió Lào nóng rát đầu tiên của năm. Núi rừng Trường Sơn giờ đã xanh ngút ngàn như cố xóa đi những vết tích của chiến tranh, nhưng ký ức về những năm tháng mở đường năm xưa vẫn im đậm trong tâm trí mọi người khi chúng tôi tìm về.

Ngược dấu chân xưa

Nếu khởi điểm của tuyến đường Trường Sơn là Km số 0 tại Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, nơi xuất phát chuyến hàng đầu tiên vượt rừng vào Nam do “Đoàn công tác đặc biệt”, tức Đoàn 559 hành quân vào ngày 13-8-1959, thì cột mốc T2 với cao điểm 1484 tại thôn Asò, xã A Nông, huyện Tây Giang là nơi khởi đầu tuyến đường Trường Sơn vào địa phận Quảng Nam. Để đến cao điểm này, chúng tôi phải vượt 12km đường đá lởm chởm từ giao lộ đường Hồ Chí Minh hiện nay tại đầu thôn Atép, xã Bha Lêê, huyện Tây Giang. Từ khi mở tuyến đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đi suốt Bắc Nam thì 12km này vẫn còn nguyên vẹn của dấu ấn đường Trường Sơn năm xưa, và đây là đoạn đường Trường Sơn dài nhất còn lưu dấu của một thời ác liệt. Chiếc xe máy bò trên những đoạn đường đá nhấp nhô cũng chỉ được gần 8km. Gửi xe lại một nhà dân ven đường, chúng tôi trực chỉ hướng tây “hành quân” trong cái nắng và gió Lào.

Phóng viên Báo Quảng Nam khảo sát tuyến đường Trường Sơn đoạn 12km qua Tây Giang.

Lội bộ hơn 3km không xa, nhưng hôm đó giữa cái nắng đợt đầu như đổ lửa cứ hắt vào mặt người khiến ai nấy cũng ướt đẫm mồ hôi. Đường rừng là những con dốc thẳng đứng bò lên đã rã rời đôi chân, lại phải hứng chịu những đợt gió Lào thổi ngược. Tuyến đường Trường Sơn này rộng khoảng 6m, nhưng cỏ lau và cây rừng đã lấn vào gần hết mặt đường, nhiều đoạn chỉ còn lại một lối mòn đủ một người đi. Con đường đơn độc này lâu nay ít dấu chân người, nhưng thật may là hôm ấy, được bác Alăng Đàn, nguyên Chủ tịch UBND xã A Nông, giờ là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Tây Giang, từng là chiến sĩ giao liên trên tuyến đường này dẫn đường nên chúng tôi không cô độc và thỏa sức “khai thác” kho tư liệu quý ấy.

Cao điểm 1484

Chúng tôi chạm chân đến bìa rừng của ngọn núi Bha – Nơơm hùng vĩ khi mặt trời đã đứng bóng. Đây là ngọn núi cao nhất của dãy Trường Sơn, điểm khởi đầu của tuyến đường Trường Sơn từ Lào qua xã A Nông, huyện Tây Giang. Bác Alăng Đàn nói ngọn núi này vô cùng hiểm trở, dốc đá dựng đứng. Ngay từ đầu năm 1960, địch đã xây dựng dọc vùng ranh giới Việt – Lào tại nơi đây các đồn Atép, Apăl, Caxar… nhằm khống chế việc bộ đội ta mở đường từ Hạ Lào qua. Trên cao điểm 1484, do núi đá dựng đứng không thể trèo lên được, địch cho máy bay chở lính đem theo hàng hóa, đạn dược nhảy dù làm đồn án ngự, khống chế. Những tưởng với đội quân được trang bị vũ khí tối tân đến tận chân răng kẽ tóc, chặn chốt ở những điểm yết hầu sẽ hạ gục ý chí mở đường của bộ đội Trường Sơn. Nhưng chúng đã lầm, chính nơi nguy hiểm nhất lại là nơi an toàn nhất! Sau những chiến thắng vang dội đánh địch tại các vùng Hạ Lào, bộ đội Binh đoàn 559 đã lần theo đường mòn, vượt qua cao điểm 1484.

Bia di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh đông Trường Sơn.

Những năm tháng đó, ngày cũng như đêm, trên cao điểm 1484 địch thi nhau bắn đạn xuống uy hiếp. Nhưng chúng không ngờ rằng ngay ở dưới chân cao điểm, dọc theo sườn núi dựng đứng, bộ đội mở đường của Binh đoàn 559 dùng những cuốc, xẻng, xà beng, đục đá mở những con đường mòn ban đầu đủ một người đi, về sau cứ nới rộng ra dần để cho những đoàn quân âm thầm vượt qua làn bom rơi, đạn nổ ngay dưới chân địch.

Đường đã có rồi, nhưng việc vận chuyển vũ khí, lương thực vượt qua biên giới đi qua ngay dưới họng súng của kè thù lại vô cùng khó khăn và nếu bộ đội Trường Sơn không dựa vào người dân của bản Klô, huyện Kờ Lùm (Lào) và đồng bào Cơtu của bản Asò, Arớt của xã A Nông thì khó hoàn thành được nhiệm vụ vừa mở đường, vừa vận chuyển lương thực vũ khí vào chiến trường. Già làng Alăng Xê, 70 tuổi rồi nhưng còn rắn rỏi, khỏe mạnh lắm. Ông từng là Xã đội phó của xã A Nông, là du kích và là bạn cùng chiến đấu với đơn vị với Alăng Đàn, kể việc người dân của bản tham gia khoét núi, đào địa đạo chung quanh đường Trường Sơn để cất giữ vũ khí, lương thực và là nơi trú ẩn, nghỉ ngơi của bộ đội khi vượt biên giới. Già bảo, ngày xưa thằng giặc nó bảo người Cơtu mình cái đầu ngu lắm, không biết gì nhưng được bộ đội mở đường về đánh thằng giặc nó cướp sắn, đốt rẫy của đồng bào nên đồng bào mình khuyên nhau thà chết chứ không ai khai báo cho giặc.

– Ngày 5-5-1959, lãnh đạo Bộ Quốc phòng thừa lệnh Bộ Chính trị trực tiếp giao cho Thượng tá Võ Bẩm tổ chức “Đoàn công tác đặc biệt”, gọi là Đoàn 559 làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn;

– Ngày 19-5-1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn mở đường Trường Sơn;

– Trong 16 năm mở đường, đường Trường Sơn dài 16.700km đường xe cơ giới xuyên qua ba nước Đông Dương, dọc theo 10 tỉnh của Việt Nam, 7 tỉnh của Lào, 4 tỉnh của Campuchia;

-Trên tuyến đường đã có 20 nghìn cán bộ, chiến sĩ hy sinh; gần 5.000 xe tải, pháo bị phá hủy.

Tiến về Nam

Sau cuộc khám phá 12km tuyến đường Trường Sơn còn nguyên vẹn qua xã A Nông, huyện Tây Giang, chúng tôi tiếp tục theo đường Hồ Chí Minh qua xã Bha Lêê, xã A Vương huyện Tây Giang) dài trên 28km, xã Za Hung, A Roi, Mà Cooih và thị trấn Prao (huyện Đông Giang) dài 45km. Tuyến đường Trường Sơn năm xưa giờ được “khoác” lên bộ áo mới bởi trùng với đường Hồ Chí Minh hiện nay nhưng đã rộng thênh thang và thảm nhựa phẳng lỳ. Nhưng ký ức về những tháng năm đầu tiên mở đường qua đây (giai đoạn 1960-1965) vẫn còn in đậm trong tâm trí các cựu chiến binh Binh đoàn 559 và cán bộ lão thành cách mạng. Theo các bác Đoàn Ngọc Giảng, Trung úy Trung đoàn 70, hiện ở tại phường An Xuân, TP. Tam Kỳ; Phạm Hào, Trung úy Binh trạm 04; Nguyễn Thanh Đình, Thượng úy Đoàn 185 hiện ở tại xã Ba, huyện Đông Giang thì những ngày đầu mở đường qua đây vô cùng vất vả bởi núi non hiểm trở, dốc cao dựng đứng và nhiều ngầm, suối chảy xiết. Để có đường, ban đầu chỉ là đường mòn vừa đủ một người đi, bộ đội Đoàn 559 phải treo mình trên những vách núi rồi dùng cuốc, xẻng, xà beng mở đường; nếu núi đá thì phải nổ mìn; khi vượt ngầm, suối thì dùng đôi vai vác đá lấp để tạo những lối đi. Bom giặc cứ rơi, đạn cứ nổ nhưng đường thì không bao giờ tắc, cứ dài ra theo năm tháng, bởi với các chiến sĩ 559 việc mở đường như mở những mạch máu chảy trong cơ thể họ vậy.

Từ năm 1965, do nhu cầu chiến trường ngày càng được mở rộng, bộ đội Trường Sơn tiếp tục mở đường, vượt bến Giằng, xoi mở đường qua Nam Giang. Tại đây, gặp đường 14 làm thời Mỹ – Diệm, bộ đội cùng với lực lượng thanh niên xung phong tiếp tục mở đường, lấp hố bom địch bắn phá đảm bảo cho xe thông tuyến từ Thạnh Mỹ lên Ca Dy (Nam Giang) đi qua 5 xã, thị trấn của Phước Sơn là Phước Xuân, Phước Mỹ, Phước Đức, Phước Năng, Khâm Đức. Tuyến đường đi qua Nam Giang và Phước Sơn để lên giáp tỉnh Kon Tum dài trên 100km, là cửa ngõ của bộ đội ta tiến lên Tây Nguyên nên luôn là tọa độ bắn phá của địch. Giặc muốn biến cung đường này làm mồ chôn Cộng sản nên máu của biết bao chiến sĩ và lực lượng thanh niên xung phong đã đổ xuống…

Bài 2: Trên tuyến lửa Trường Sơn

Bom cứ rơi, đạn cứ nổ, nhưng đường thì không bao giờ tắc. Nhằm bảo vệ “mạch máu” đường Trường Sơn thông suốt, những trận quyết tử ở sông Bung, Bến Giằng, làng Rô… đã đi vào lịch sử như huyền thoại.

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 2)

TRÊN “TUYẾN LỬA” TRƯỜNG SƠN

Bến Giằng - sông Bung, nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trên đường Trường Sơn.

Nhiều cung đường, ngọn núi, con suối, đèo dốc, cây cầu, dòng sông… nằm dọc ngang trên đường mòn Trường Sơn qua Quảng Nam những năm tháng chiến tranh là “tuyến lửa”. Nhằm bảo vệ “mạch máu” đường Trường Sơn thông suốt, quân dân ta đã thực hiện những trận đánh quyết tử trên dòng sông Bung, Bến Giằng, làng Rô, Khâm Đức…

Bến Giằng… “phải chăng đất Quảng anh hùng là đây!”

Bến Giằng (Nam Giang) là một trong số những “tọa độ chết”, do nằm ở vị trí quan trọng về mặt quân sự. Từ đây có hai nhánh rẽ lớn. Một lên tây Trường Sơn qua các xã Cà Dy, Chà Vàl, A Xăh, Bến Yên rồi đi xuống vùng B Đại Lộc. Nhánh hai rẽ xuống Tà Lu, Za Hung, Trung Mang… Nắm rõ vị trí chiến lược này, Mỹ – ngụy đã huy động trên 20 lượt máy bay B52 rải bom xuống khu vực này sau khi phát hiện đường Trường Sơn đã mở nhằm chia cắt không cho quân và dân ta vận chuyển hàng hóa, lương thực và vũ khí phục vụ chiến trường. Bên cạnh đó, địch còn dùng máy bay trinh sát quần thảo liên tục trên bầu trời, nhất là vùng giáp ranh biên giới Việt – Lào, dọc sông Bung, sông Thanh, dọc các đường 13,14…

Nguyên Bí thư Huyện ủy Nam Giang Zơ Râm Un kể về năm tháng vận động thanh niên dân tộc mở đường.

Trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều lần quân ta chủ trương đánh giao thông nhằm cắt đứt sự viện trợ bằng đường bộ của địch cho các đồn bốt dọc đường 14 lên cụm cứ điểm Khâm Đức. Trung đội bộ đội địa phương do đồng chí Nguyễn Tùng Lưu chỉ huy phối hợp với du kích xã Cà Dy đánh địch trên trục đường 14, đoạn giữa làng Rô và làng Ngói. Điển hình, ngày 10-11-1962, quân ta bố trí cán bộ trinh sát theo dõi chặt chẽ tình hình địch, phục kích trên đường từ Khâm Đức về miền xuôi, rồi chớp thời cơ thuận lợi tấn công địch. Kết quả trận này, ta đánh hỏng 1 chiếc xe GMC, diệt 10 tên địch và nhiều vũ khí, quân dụng khác… tạo tiền đề thắng lợi cho các cuộc chiến đấu về sau.

Năm 1970, Mỹ tiếp tục dùng thủ đoạn rải chất độc hóa học để tàn phá hoa màu, hủy hoại môi trường, làm cây rừng trút lá nhằm hủy diệt nguồn sống và tán xanh che chở của quân dân dọc sông Bung, đường 14, sông Cái đoạn từ Thác Cạn, Đầu Gò lên Thạnh Mỹ, Bến Giằng đến các làng Rô, làng Ngói… (Một tài liệu giải mật của Mỹ còn cho biết, Mỹ đã sử dụng hóa chất gây ra sình bùn và tạo mây, kéo dài mùa mưa trên Trường Sơn). Hậu quả, thời điểm này, nhân dân chung quanh khu vực Bến Giằng có đến 800 người bị đói. Thêm vào đó, nạn dịch sởi hoành hành làm cho 250 người dân ở đây bị chết. Chúng còn dùng trực thăng bắn phá, thả máy kiểm thính để phát hiện cán bộ, đảng viên đi lại trên các trục đường. Mỹ – ngụy cũng tăng cường quân càn quét, ném bom tàn phá, hòng chiếm Bến Giằng. Chúng sử dụng máy bay B52 rải bom, đồng thời huy động 4 tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ – ngụy mở nhiều đợt càn quét lên Thạnh Mỹ nhằm ngăn chặn sự tiếp tế của quân ta từ sông Bung lên Bến Giằng, nơi có hành lang Nam Bắc, Đông – Tây ngang qua. Tuy nhiên, du kích của ta đã dùng kế un khói bên bờ sông Bung để nghi binh, nhử máy bay địch đến ném bom rồi dùng súng bắn rơi nhiều máy bay địch. Hai cứ điểm Coong Zêl, dưới chân núi La Dêê, huyện Nam Giang và cứ điểm Cơ Noong, thuộc xã Ta Xiêng, huyện Tây Giang, giặc đặt nhiều đồn bốt để kiểm soát và khống chế đường chiến lược Trường Sơn và vùng biên giới Hạ Lào. Lợi dụng lúc địch chưa quen với địa hình, ta bao vây bám sát, bắn tỉa, lập vành đai chông thò, cài mìn tự tạo vây quanh đồn. Địch bắn trả quyết liệt, nhưng do rơi vào thế cô lập, nên chúng vội vã huy động hàng chục trực thăng đổ xuống Coong Zêl bốc quân rút chạy về xuôi. Chốt điểm cuối cùng của Mỹ – ngụy trên núi rừng Nam Giang bị xóa sổ hoàn toàn.

Một góc làng Rô.

Đường Trường Sơn = đạn bom + máu

Năm 1965 là thời điểm phong trào mở đường Trường Sơn của bộ đội chủ lực và thanh niên xung phong lên đến cao điểm nhằm phục vụ cho chiến dịch vận chuyển bằng xe tải vào miền Nam. Từng là bộ đội Trường Sơn, trực tiếp tham gia lái xe mở đường cùng Đoàn 559, ông Nguyễn Văn Luyến hiện sinh sống tại thôn Pà Dấu 1, thị trấn Thạnh Mỹ (Nam Giang) kể: “Lúc đó, trên dòng sông Bung, đạn giặc trút như vãi. Các chiến sĩ lái xe cố gắng làm giảm tiếng động, đề phòng sự phát hiện của địch. Xe chủ yếu chở đạn dược và các thiết bị hàn điện ở cầu. Do áp lực khẩn trương mở đường, làm cầu, nên có khi một ngày có đến hàng chục chiếc xe của ta bị cháy. Đường mòn cũ xưa chỉ vừa đủ cho một làn xe qua lại. Hai bên là vực thẳm”. Theo ông Luyến, khi vượt sông Bung phải qua ngầm Dần dài 3km. Xe lưu thông không đèn lù lù chạy trong đêm vì sợ địch phát hiện. Nhưng địch đã dùng máy bay loại C130 bắn pháo xối xả xuống đường Trường Sơn. Có ngày, hai xe bị cháy ông phải thay đến chiếc xe thứ ba để vận chuyển quân khí, thiết bị hàn điện cho cầu. Một lần khác, khi đi cùng với Đoàn 559 để lấy vũ khí, súng đạn từ Lào về, địch phát hiện bắn tỉa. Xe ông Luyến bị cháy, nhiều đồng đội đã hi sinh. Khi kể về trường hợp hi sinh của trung sĩ Đoàn, một người đồng đội, ông Luyến không cầm được nước mắt. Lúc ấy, Đoàn chỉ 13 tuổi, tình nguyện xung phong vào Nam mở đường. Dù còn rất trẻ, nhưng anh xin được làm “hoa tiêu”chỉ đường cho bộ đội và không may bị địch bắn bị thương nặng.

Trận đánh đồn Đất Bắc, đoạn giáp ranh giữa Lào với Quảng Nam, nơi có đường Trường Sơn đi qua cũng ác liệt không kém. Trong khi bộ đội đang mở đường vòng Trường Sơn để tiện vận chuyển hàng hóa, vũ khí thì địch đã sử dụng máy bay rải hàng tấn bom phá hoại. Ông Zơ Râm Un, nguyên Bí thư Huyện ủy Nam Giang, người trực tiếp chỉ huy, huy động 500 thanh niên đều là đồng bào dân tộc thiểu số làm đường Trường Sơn đoạn từ cầu Xơi đến cầu Bến Giằng. Mỗi một đoạn đường đi qua nơi đây luôn thấm đẫm mồ hôi, máu và sự hy sinh của bộ đội, thanh niên xung phong, kể cả dân làng. Theo ông Un, trên hanh lang chuyển từ kho K81 về Bến Giằng – Thạnh Mỹ đến các xã giáp ranh Đại Lộc, Quế Sơn, ngoài Trung đoàn 38, địa phương huy động trên 1.800 dân công vận chuyển bằng tất cả phương tiện như dùng sức người gùi cõng, xe đạp thồ, thuyền, hoặc cho hàng vào bao nylon thả xuôi dòng sông… Ngày nào cũng xuất hiện hình ảnh những chiến sĩ dân công tải đạn, tải gạo trên đường mòn Hồ Chí Minh… “Biết bao máu xương của chiến sĩ, đồng bào đã đổ xuống trên vùng đất Bến Giằng này. Mở đường và giữ đường trên tuyến lửa này quan trọng không kém như mục tiêu bắn hạ máy bay, tiêu hao sinh lực địch. Nói như vậy để thấy giá trị lịch sử vô biên của đường Trường Sơn huyền thoại” – ông Un nói.

 Đã từng chứng kiến cảnh máy bay B52 của giặc Mỹ quần thảo, thả bom mìn phá đường Trường Sơn qua làng Rô, xã Cà Dy (Nam Giang), mế Len nay đã sống gần hết 100 mùa rẫy vẫn còn ám ảnh khi nhắc đến cảnh bồng bế mấy đứa con trốn chạy dưới làn mưa đạn. Dường như bà là thế hệ già nhất còn sót lại ở cái làng Rô bé nhỏ này. Già làng Hồ Văn Seng cũng là nhân chứng sống của cuộc chiến tranh khốc liệt ở làng Rô, người đóng góp công sức mở đường Trường Sơn, nuôi nấng nhà cách mạng, nhà thơ Tố Hữu… Thật tiếc là ông đã đi xa cách đây vài tháng trong một cơn bạo bệnh.

Bài 3: Năm tháng không quên

Chiến tranh khốc liệt nhưng không giết chết được lý tưởng và tình yêu của người lính Trường Sơn, của những mối tình quân dân nở như rừng hoa lan…

Trong hành trình mở đường và giữ đường Trường Sơn có cả máu và hoa, là những năm tháng không thể nào quên…

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 3)

Năm tháng không quên

Bến Giằng được xem là một trong những “tọa độ chết” - nơi đây nhiều TNXP đã hy sinh.

Chiến tranh có thể xóa mờ đi tất cả. Nhưng những năm tháng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” là quãng đời đẹp nhất sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí các cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn 559 và các thế hệ thanh niên xung phong…

Máu và hoa

Căn nhà nhỏ của ông Nguyễn Thanh Đình, Trung đội trưởng Trung đoàn 185, Đoàn 559 nằm khuất sau một đồi chè xanh mướt của Nông trường Quyết Thắng ở xã Ba, huyện Đông Giang. Đã 70 tuổi, nhưng ông còn khỏe mạnh và khi chúng tôi gợi nhớ về một thời mở đường Trường Sơn năm xưa, dòng hồi ức của ông tuôn chảy như mạch nguồn không cạn.

Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, lực lượng TNXP Quảng Nam được Đảng và Nhà nước trao tặng: 5 Huân chương Độc lập, 1.250 huân chương chiến công các loại; 3.500 Huân chương, Huy chương Kháng chiến; 4.200 Huy chương Quyết thắng và hàng trăm hội viên được phong tặng danh hiệu “Kiện tướng hành lang”; được Chủ tịch nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Từ một thanh niên của làng Hồng Thủy, Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, theo tiếng gọi vì miền Nam, ông nhập ngũ vào Đoàn 559 vừa tham gia mở đường, vừa vận chuyển lương thực, đạn dược vượt Trường Sơn. Từ năm 1965-1972, chiến trường miền tây Quảng Đà và Quảng Nam vô cùng ác liệt, nhưng càng ác liệt, gian khổ thì con người xứ Quảng lại càng kiên trung bất khuất, như câu nói: “Dốc Quảng Nam, gan cộng sản”. Trên hành trình mở đường qua địa phận miền núi giáp ranh với Thừa Thiên Huế qua huyện Hiên, Giằng (cũ) của Quảng Nam phải vượt qua bao nhiều dốc cao, núi thẳm và những ngầm, suối chảy xiết. Hành trình mở đường, vận chuyển lương thực và vũ khí qua đây biết bao đồng đội của ông đã hy sinh. Cùng đơn vị của ông Đình có Thiếu úy Lê Hồng Phong, quê Hà Nam Ninh hy sinh trong một trường hợp đặc biệt. Sau một khóa học tại trường Lục quân 1, Hà Đông, Đình và Phong kết nghĩa bạn bè, những tháng ngày vượt Trường Sơn hai người sống chết có nhau. Nhiều đêm ngủ chung một võng, Phong ước ao mau hành quân vào giải phóng Kon Tum sẽ tìm mẹ. Mẹ Phong xa nhà vào Tây Nguyên làm phu cao su thời thuộc Pháp. Phong hiền lành, trắng trẻo, có má lúm đồng tiền và hát hay nhất nên được anh em trong đơn vị yêu quý. Hôm vượt qua ngầm Xêmăng Hiên, Đình qua trước. Bất ngờ một cơn mưa ào đến, từ trên đỉnh núi cao một túi nước khổng lồ trút xuống. Nhiều đồng đội kịp bám vào vách đá, nhưng Phong thì bị lũ cuốn phăng đi. Sau một ngày cả đơn vị kiếm tìm, xác Phong được tìm thấy dưới một gốc cây. Đồng đội lấy đá bên suối đắp cho anh, đốn một thân cây khắc tên cắm lại để sau này dễ tìm. Hôm ấy Đình khóc suốt, anh rút khẩu AK dốc lên trời bắn một hồi chín phát súng để tiễn người bạn thân đã ra đi và cũng vùi chôn luôn ước mơ tìm mẹ…

Bác Nguyễn Thanh Đình (trái), Trung đoàn trưởng 185, Đoàn 559 hiện ở tại xã Ba, Đông Giang.

Chiến tranh đã dập tắt bao ước mơ của con người, nhưng không thể làm lụi tàn ước vọng cao đẹp. Bom đạn của giặc có thể tàn phá thể xác con người, nhưng không giết được tình yêu. Trên hành trình tìm về ký ức mở đường Trường Sơn năm xưa, chỉ riêng đoạn đường qua Quảng Nam, chúng tôi đã gặp rất nhiều sự trùng lặp, nhiều mối tình vượt qua lửa đạn để họ cùng thương yêu nhau, cùng chung khát khao chờ ngày chiến thắng. “Trên chặng đường Trường Sơn anh qua/ Gặp chị giữa lưng chừng bom nổ/ Thế rồi thương, thế rồi xa, rồi nhớ/ Thế rồi yêu cô gái mở đường…”. Đó là mối tình của Thượng úy Trung đoàn 185 – anh Nguyễn Thanh Đình. Sau thời gian mở đường rồi chuyển qua Điện ảnh quân đội phục vụ chiến trường Quảng Nam, dưới bom rơi đạn nổ anh Đình đã đến với nữ thanh niên xung phong (TNXP) Phạm Thị Duyến và giờ đây cả hai vợ chồng quê Quảng Bình chọn xã Ba, huyện Đông Giang làm quê hương thứ hai cùng nhau vun đắp cuộc sống. Đó là Hạ sĩ Hà Quốc Cường, lái xe của Đại đội 2, Tiểu đoàn 62, Binh trạm 27, Đoàn 559 trên đoạn đường chở đạn vượt các tọa độ “chết” của tuyến đường từ Hiên lên Tây Nguyên vào miền Nam bị thương được nữ TNXP chăm sóc và họ đến với nhau. Hạ sĩ lái xe năm xưa quê Hương Sơn, Hà Tĩnh giờ đã là thiếu tá, hai vợ chồng gắn bó với Quảng Nam và ông Cường đang say mê với công việc mới mà bao đồng đội tín nhiệm – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Tân Thạnh, TP. Tam Kỳ. Đó kỹ sư cầu đường Nguyễn Đăng Lâm, quê Hải Phòng, sau khi tốt nghiệp Đại học Xây dựng Hà Nội, từ bỏ nghiên cứu sinh tại Tiệp Khắc để “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”. Vào chiến trường Quảng Đà tham gia mở đường, chàng sinh viên Lâm gặp và đến với nữ TNXP Nguyễn Thị Mười, rồi gắn bó với mảnh đất này, sau giải phóng đã đảm nhận những nhiệm vụ cao của tỉnh (Giám đốc Sở Giao thông – vận tải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ))…

Vận chuyển hàng trên đường Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

“Vai trăm cân, chân ngàn dặm”

Giai đoạn đầu mở đường Trường Sơn thì công sức chính dựa vào lực lượng bộ đội chủ lực là Binh đoàn 559, nhưng để tuyến đường luôn liền mạch trong suốt thời kỳ chống Mỹ thì bao mồ hôi và cả máu của lực lượng TNXP đã đổ xuống. Nối tiếp phong trào “xẻ dọc Trường Sơn” của các đơn vị TNXP thuộc Đoàn 559, tại chiến trường Quảng Nam, lớp lớp thanh niên đã lên đường.

Phó Chủ tịch Hội Cựu TNXP tỉnh, ông Nguyễn Ngọc Bảo cho biết, trên chiến trường Quảng Nam, địch sử dụng nhiều vũ khí tối tân như pháo cực nhanh, máy bay “thần sấm, con ma” B52, B57, F111 rồi trực thăng vận, xe tăng ra sức kiểm soát đường biên, chặn mọi sự chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhưng kẻ thù đã không thể nào ngăn nổi ngọn lửa sục sôi của cao trào thanh niên “Năm xung phong” với khẩu hiệu: “Nơi đâu chiến trường cần thanh niên có mặt, nơi đâu có giặc thanh niên xuất quân”, các đơn vị TNXP Quảng Nam từ đó hình thành. Đến tháng 5-1965, có 2.050 hội viên TNXP Quảng Nam gia nhập Tổng đội TNXP Nguyễn Văn Trỗi, Liên đội Võ Thị Sáu, Võ Như Hưng. Tiếp đến từ năm 1966 đến đầu năm 1967 lại thêm 2.963 thanh niên gia nhập Tổng đội Quảng Đà, Nguyễn Văn Bé, Đồng Phước Huyến. Những năm tháng ở núi rừng Trường Sơn, hàng nghìn TNXP đã lấy tiếng hát át tiếng bom, vượt qua dưới bom rơi đạn nổ để giữ trọn từng cung đường. Mặc cho địch bắn phá, anh chị em TNXP vẫn không bỏ trận địa, lấy thân mình làm cọc tiêu cho những đoàn xe vượt suối, băng rừng tải đạn vào miền Nam. Những ngày tháng cơm vắt rau rừng, có lúc chiến trường ác liệt rau không đủ bữa, muối không còn một hạt phải sử dụng dương xỉ, củ mài, môn thục thay cơm, lấy tro tranh thay muối để sống qua ngày nhưng anh em năm này sang năm khác vẫn “vai trăm cân, chân ngàn dặm”, vững vàng tay cuốc, tay xẻng vừa mở đường Trường Sơn, vừa tải đạn, chăm sóc thương binh, bảo vệ đường dây huyết mạch Bắc – Nam thông suốt. Đó là hình ảnh của chị Nguyễn Thị Huấn, Nguyễn Thị Chín, Nguyễn Thị Hựu, chị Lan, chị Trúc, chị Hồng, chị Nga, chị Hường, chị Lợi, anh Phan Đắc Lức, Nguyễn Văn Hai, anh Địch… đã phấn đấu gùi đạn dược từ 60kg đến 125kg, gấp ba lần trọng lượng cơ thể mình, xứng đáng với danh hiệu “Kiện tướng hành lang, gương mẫu đảm đang, chân đồng vai sắt”.

Ông Bảo là Đại đội trưởng Liên đội TNXP Võ Thị Sáu cho biết, liên tiếp từ năm 1966-1972, khi chiến trường miền Nam đang sục sôi đánh Mỹ, để những đoàn xe Nam tiến bình yên trên những tuyến đường, liên đội có trên 1.500 thanh niên di chuyển liên tục từ Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn. Trên tuyến đường địch rải bom như rải cát, nhưng đường thì không bao giờ tắt và biết bao đồng đội ông đã vĩnh viễn nằm lại trên những cung đường ác liệt. Có người ngã xuống khi đang trên đường vận chuyển bị biệt kích Mỹ – ngụy bắn chết như anh Nguyễn Khang, Liên đội phó Võ Thị Sáu; người bị sốt rét rừng như chị Nguyễn Thị Dục, Nguyễn Thị Hoa; vì nước lũ cuốn trôi như đại đội trưởng Trần Thị Lâu. Ông Bảo vẫn nhớ tại cao điểm đồi 1.090 ở Phước Sơn, đại đội trưởng Hồ Bốn, đại đội phó Nguyễn Văn Hải bị địch tập kích bất ngờ vẫn kiên cường chỉ huy đồng đội chống càn. Các anh bảo, chúng tôi còn thì cao điểm còn, chúng tôi hy sinh thì cao điểm mới vào tay giặc. Suốt ba ngày đêm chiến đấu dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù, trước khi các anh hy sinh đã căn dặn đồng đội quyết tâm giữ vững trận địa, bảo vệ kho đầu mối B46 đưa hàng từ Bắc vào Nam. Hoặc như anh Chính, trước khi bị địch bắt đã bảo vệ an toàn tài liệu bí mật và chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Như chị Huệ một mình đánh trả với hai đại đội địch đến viên đạn cuối cùng mới chịu hy sinh… Biết bao TNXP nằm xuống khi tuổi mới đôi mươi, với bao khát khao cháy bỏng của tuổi trẻ, trong đó có cả những mối tình đẹp của núi rừng đã theo họ vùi sâu trong từng mét đường.

Bài 4: Những anh hùng chân đất

Họ là đồng bào Cơtu luôn đi chân đất. Như một phụ nữ đang mang thai, một thanh niên mù lòa nhưng trong họ có trái tim rực lửa để vượt qua lửa đạn vận chuyển vũ khí phục vụ bộ đội Trường Sơn…

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (bài 4)

Những anh hùng chân đất

ALăng Bhuốch mù hai mắt nhưng 3 năm tham gia gùi hàng cho bộ đội Trường Sơn.

Họ là đồng bào Cơtu luôn đi chân đất, nhưng cái bụng thì trong như suối rừng và trái tim rực lửa cách mạng. Năm tháng chiến tranh ác liệt, trên đường Trường Sơn qua địa phận Quảng Nam, hình ảnh một phụ nữ đang mang thai và một thanh niên mù hai mắt vẫn ngày đêm vận chuyển vũ khí là hai trong vô vàn những biểu tượng cao đẹp của lòng dân đất Quảng…

Ngọn đuốc trong tim

Một cán bộ lão thành cách mạng ở huyện Đông Giang cho biết ông ALăng Bhuốch – chàng thanh niên mù hai mắt cõng đạn năm xưa, hiện ở tại thôn A Ruung, xã Bha Lêê, huyện Tây Giang. Ngay đầu cái bản nhỏ của thôn A Ruung nằm ven đường Trường Sơn năm xưa – đường Hồ Chí Minh nay, là ngôi nhà tình nghĩa do Sở Giao thông vận tải Quảng Nam xây tặng cho Bhuốch. Chủ nhà đi vắng, người dân bảo ông sống trong bản. Lội vào bản, căn nhà sàn của ông cũng vắng hoe, một mế trong bản bảo có lẽ ông vào rừng, mù vậy nhưng ngày nào ông cũng không chịu bó gối ngồi nhà.

Trời nhá nhem tối, một ông cụ tóc đã nhuốm trắng nhưng trông còn rắn rỏi chống gậy lọ mọ đi về. Vừa chạm ngõ đã hỏi khách nào vậy, khiến chúng tôi hết sức bất ngờ; còn vợ ông quen rồi, ông đi theo cái tai.

Bhuốch sinh ra tại bản A Zứt, xã A Vương, huyện Tây Giang. Khi mới lên tám tuổi đã bị một cơn đau nặng khiến hai mắt mờ hẳn, tưởng đời ông vứt đi cho con ma rừng nó hại. Rồi bom rơi, đạn nổ. Hết giặc Pháp rồi giặc Mỹ lên đốt rẫy, phá rừng làm con suối hết trong, lòng dân Cơtu uất hận. Từ đó Bhuốch không chịu ngồi nhà, hôm thì theo mẹ lên rẫy, lúc thì cầm gậy dọ tìm đường đi theo các già làng, trai làng vận chuyển lúa gạo cho bộ đội. Những năm 1963-1968, núi rừng nơi đây chuyển mình theo những cuộc hành quân của bộ đội Trường Sơn mở đường, vận chuyển lương thực, vũ khí. Bhuốch nằng nặc xin cán bộ Hà thuộc Trung đoàn 98, Binh đoàn 559 được tham gia cõng đạn. Lúc đầu gùi ít, dần dần tăng lên khi số lương thực, vũ khí ông cõng đi không hao hụt một cân. Khi đó Bhuốch nặng khoảng 50kg, nhưng lại đảm nhận gùi từ 60 – 80kg vũ khí, lương thực. Người bình thường vận chuyển nơi núi rừng đã khó, nhưng với một người mù hai mắt như ông quả là kỳ tích. Một tay chống gậy, trên lưng gùi vũ khí, hai tai căng ra nghe ngóng, cứ thế đôi chân của ông đã vượt qua bao ngọn núi, con suối. Mắt ông mù nhưng khi cõng lương thực, vũ khí, đôi chân ông đi không thua kém các trai trong bản và ông lại có biệt tài “đánh mùi” máy bay địch. Đang đi, bất chợt ông dừng lại, để hàng xuống rồi nhanh như một con sóc thoắt cái đã ở trên ngọn cây. Hai tai căng như chiếc máy ra-đa “dò” máy bay địch. Nhận ra “mùi”, ông bảo mọi người nhanh chóng gùi hàng núp vào hóc đá, và sau đó chừng nửa giờ quả đúng thật “thần ma” của giặc quần vũ trên bầu trời thi nhau rải bom, nhờ vậy mọi người được an toàn, nhiều chuyến hàng về tập kết đúng địa điểm.

ALăng Bhuốch trò chuyện với PV. Báo Quảng Nam

Hơn 3 năm (từ 1965 – 1968), dường như không có ngày nghỉ, đôi chân của Bhuốch vẫn đều đặn bước đi mặc cho bom rơi, đạn nổ. Từ kho 31 về tới A Rớt, Cơ Rích rồi trạm Ta Rêêl, Ta Coo… đôi chân Bhuốch phải vượt qua bao núi non hiểm trở, suối chảy xiết nhưng anh đã đi là về đến chốn, gùi không thiếu một cân. Chỉ trong năm 1968, trên đoạn đường này, Bhuốch đã 3 lần bị máy bay địch bất ngờ thả bom, đất đá vùi lấp người. Bom đạn giặc không giết được, khi chúng vừa rút, Bhuốch dồn hết sức lực trong người rũ đất đá ngồi dậy, rồi lần mò tìm cho ra gùi hàng của mình để tiếp tục về trao cho bộ đội. Sau tháng năm ác liệt đó, Bhuốch được bộ đội Trường Sơn tuyên dương và được cấp trên chọn đi báo cáo điển hình chiến sĩ thi đua toàn quốc. Sau ngày giải phóng, Bhuốch vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng Huân chương Chiến công hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba và đang được huyện đề nghị tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Bhuốch bảo với chúng tôi rằng, mình già rồi việc mình làm bộ đội và dân trong bản đều biết là sướng cái bụng, giờ có thêm cái nhà tình nghĩa sát bên lề đường Hồ Chí Minh đi qua nên rất vui. Hàng ngày cùng với chiếc gậy năm xưa ông vẫn đều đặn đi về. Có lẽ, ngọn đuốc trong tim ông không bao giờ tắt!

Con và mẹ cùng hành quân

Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, bộ đội mở đường Trường Sơn không chỉ được đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh đùm bọc, chở che mà nhiều trai làng không ngại mọi hiểm nguy cùng bộ đội phục vụ chiến trường. Tại thôn A Ruung, xã Bha Lêê, huyện Tây Giang cũng như nhiều bản làng khác, đồng bào tích cực hưởng ứng khẩu hiệu “đóng cửa nhà, trẻ già vận chuyển”. Trong cuộc hành quân ấy, có cả những bà mẹ bụng đang mang thai vẫn vượt núi băng rừng gùi đạn. Zơ Râm Thị Tim là một người như thế.

“Một trong những cách đánh khác, cách đánh của Việt Nam là đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng thế giới, một hệ thống đường liên lạc, giao thông vận chuyển kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh của loài người dọc theo đường Trường Sơn nối hai miền Nam Bắc”

(Trích hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Đầu năm 1968, khi bộ đội mở đường qua đây, Zơ Râm Thị Tim đang có bầu được ba tháng. Chồng không cho đi gùi hàng, nhưng Tim bảo, già làng Lem đã nói ai khỏe mạnh trong làng không đi giúp bộ đội coi như không yêu Bác Hồ. Sau vài ngày trốn chồng đi gùi hàng, già làng Lem biết chuyện khuyên về làng nghỉ, mặc kệ, Tim vẫn đều đặn hàng ngày ra trạm bộ đội nhận hàng và đi. Đi mãi thành quen, thấy sức khỏe vẫn bình thường, Tim lại xin gùi thêm hàng, lúc đầu chỉ 40kg, sau lên 50kg, có lúc lên đến 60kg. Hàng gùi phía sau, bụng mang con phía trước, đôi chân Tim chăm chỉ bước đều, khi băng qua dốc cao, lúc lội qua suối Tim cẩn thận hơn mọi người, phần giữ cho gùi hàng, phần giữ cho mình khỏi phải mất đi đứa con đầu lòng mà Tim và chồng cưới đã một mùa rẫy đang khao khát có con bế, con bồng.

Nửa thế kỷ trước Zơ Râm Thị Tim đang mang thai vẫn xung phong tải đạn.

Liên tục gùi hàng được hơn ba tháng Tim “bị lộ” rồi bộ đội không cho vận chuyển nữa. Đó là một hôm gùi hàng qua suối Tà La, mưa như trút nước, Tim cố men theo mép đá vượt suối chẳng may trượt chân ngã, khi giao hàng bị ướt bộ đội hỏi và phát hiện Tim đang mang thai, may được y tá khám không ảnh hưởng gì nhưng “bắt” ở nhà. Hôm sinh ra bé A Râm Têm, con Tim, già Lem cũng có mặt, bộ đội cũng đến cho gạo và cá, thịt khô để Tim bồi dưỡng. Sinh con được hơn hai tuần, Tim gùi con phía trước ngực lên trạm nằng nặc xin bộ đội cho đi cõng hàng tiếp. Tim bảo, lần này mình gùi hàng nhẹ hơn, nhưng được đi vui hơn ở nhà. Những tháng ngày tiếp theo, mọi người trong bản đều thấy hai mẹ con Tim cùng hành quân gùi hàng, vượt dưới bom đạn.

Cô gái ẵm con gùi súng đạn năm xưa giờ là một bà lão đã đi qua gần 70 mùa rẫy. Mế Tim cao chưa đầy mét rưỡi, tóc trắng xóa, lưng đã còng, đôi tai đeo nhiều vòng trì xuống khuôn mặt nhăn nheo nhưng miệng luôn cười. Mế bảo khi gùi hàng lúc mệt mỏi nhất nhưng miệng luôn cười, cười cho… quên mệt; lúc đạn bom bắn phá cũng cười, cười chế giễu thằng giặc nó ác nhưng làm sao giết hết được dân làng; cười khi giao hàng cho bộ đội không thiếu một cân; nhận được lời khen và để lấy sức gùi tiếp. Và nay, mế Tim cười nhiều hơn khi thấy con A Râm Têm của mế thời cùng hành quân nay đã có con bế, con bồng đang tăng gia sản xuất bên cạch con đường Trường Sơn năm xưa…

Bài 5: Mở đường lên Tây Nguyên

Nếu cao điểm 1484 tại thôn A Sò, xã A Nông, huyện Tây Giang là điểm khởi đầu đường Trường Sơn đi qua địa phận Quảng Nam thì đỉnh dốc Lò Xo, xã Phước Năng, huyện Phước Sơn là điểm cuối. Tại đây bao máu của chiến sĩ, đồng bào đã đổ xuống nhằm mở cánh cửa cho bộ đội tiến vào đại ngàn Tây Nguyên.

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 5)

Mở đường lên Tây Nguyên

Đường Hồ Chí Minh qua thị trấn Khâm Đức (Phước Sơn). Ảnh: Vũ Công Điền.

Đi theo “bản đồ hành trình” Trường Sơn huyền thoại bắt đầu từ huyện Phước Sơn (Quảng Nam) đến giáp địa phận Đắc Lây (Kon Tum) dài hơn 50km, khi dừng lại ở bất cứ điểm nào, chúng tôi cũng được sống lại với ký ức của những người từng một thời in dấu chân mình trong công cuộc mở và giữ đường Trường Sơn.

Cửa ngõ lên Tây Nguyên

Khâm Đức (Phước Sơn) một buổi sáng đổ mưa bất chợt. Mưa xối xả, ướt trũng phố xá. Nước rào rạt tuôn chảy trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Phố xá Khâm Đức bỗng chốc mang dáng vẻ lạ thường như một nhánh lan vừa hái từ rừng đẹp rực rỡ, đầy màu sắc nhưng tinh khiết, giản dị.

Đoạn đường Hồ Chí Minh qua Khâm Đức được xây dựng rất tươm tất với dải phân cách hai làn xe, bóng nhẵn nền nhựa và tinh tươm ở từng cột đèn đường. Phố càng nhộn nhịp sau mưa. Lịch sử của Khâm Đức đã ghi lại rằng, phố này chỉ thật sự là trung tâm của Phước Sơn từ năm 1976 khi địa phương thực hiện chủ trương đưa dân cư từ các bản làng xa xôi đến định cư tại đây. Trước 1976, dân cư Phước Sơn chủ yếu tập trung ở các vùng núi cao hẻo lánh và từng thế hệ nối tiếp chi viện sức nguời cho công cuộc giải phóng đất nước cũng từ những bản làng vùng cao ấy.

Khâm Đức là cứ điểm quan trọng của Mỹ-ngụy với những cơ sở quân sự được xây dựng nhằm ngăn chặn “mạch máu” Trường Sơn trong chiến tranh. Cách trụ sở UBND huyện bây giờ không xa, là bản doanh của trường Biệt kích toàn miền Nam do Mỹ trực tiếp huấn luyện. Sân bay Khâm Đức, căn cứ Ngok Ta-vat (xã Phước Mỹ) là mắt xích quan trọng của địch để ngăn cản hoạt động của căn cứ 614. Căn cứ này nằm giữa Chavane (Lào) và thung lũng Khâm Đức nhằm vận chuyển quân và hàng hóa vào vùng 2 chiến thuật và mặt trận B3 (Tây Nguyên) của bộ đội Trường Sơn. Chính vì thế nơi đây từng là điểm xảy ra những trận chiến ác liệt. Sau 1968, những mắt xích ấy mới chính thức bị xóa sổ bằng chiến thắng Khâm Đức lẫy lừng giải phóng quê hương Phước Sơn khỏi “vòi bạch tuộc” Mỹ – ngụy. Theo ông Hồ Văn Điều, nguyên Bí thư Huyện ủy Phước Sơn thời kỳ này, chủ trương giải phóng Khâm Đức của Khu ủy Khu V vào tháng 5-1968 là nhằm giải phóng và giành thế chủ động cho tuyến đường mòn Thống Nhất (Hồ Chí Minh) qua Phước Sơn để kết nối với các căn cứ cách mạng khác từ đồng bằng lên Tây Nguyên. Bởi thế đường mòn Hồ Chí Minh từ Khâm Đức lên Đắc Lây càng có vai trò quan trọng là cửa ngõ để tiến vào Tây Nguyên.

Sau mưa, chúng tôi vội vã tìm đến nhà cựu chiến binh Đinh Xuân Mỏi (khối 2B, thị trấn Khâm Đức). Chưa kịp hỏi chuyện Trường Sơn, ông Mỏi đã tâm sự rằng vẫn còn xúc động sau khi xem xong chương trình “Chúng tôi là chiến sĩ” trên tivi và ước ao được một ngày gặp lại những đồng đội cũ của thời mở đường đầy gian khó. Gần 15 năm gắn bó với Trường Sơn, dù nhiều lần thay đổi đơn vị nhưng ông Mỏi vẫn là lính thuộc Đoàn 559 (Đoàn Nam Sơn) và trực tiếp tham gia mở đường Trường Sơn, dẫn bộ đội, cõng lương thực, chuyển công văn, giấy tờ… trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh qua Phước Sơn trong khoảng thời gian từ 1962-1968.

Ký ức của ông Mỏi như sống lại trong những ngày còn len lỏi trong từng lối mòn giữa rừng sâu. Ông kể rằng, đường Thống Nhất lúc ấy chỉ là những lối mòn giữa núi rừng và chia làm nhiều nhánh rẽ, duy nhất chỉ dành để đi bộ. Lúc đó, những người hoạt động trên đường mòn Hồ Chí Minh như ông luôn thường trực tinh thần sắt đá, nhất nhất thực hiện phương châm “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Lặng lẽ trải vải dưới đất mà đi, một lần có thể đưa khoảng 100 bộ đội cắt rừng Đắc Re, vượt Cổng trời Nước Xa, qua Nước Che, về Làng Hồi… Ông Mỏi từng trải qua những trận đói kinh niên, có lần nhịn đói hàng chục ngày, nhai lá chè xanh, rồi bị sốt rét, chết hụt khi bị địch phát hiện…

Một đoạn đường Trường Sơn còn lại qua địa phận Phước Sơn. Ảnh: VŨ CÔNG ĐIỀN

Hành khúc giữa rừng

“Men” theo ký ức của ông Mỏi, chúng tôi tiếp tục rong ruổi trên đường Trường Sơn huyền thoại. Làng Hồi, Khâm Đức, ngầm Nước Mỹ, sông Đắc Chè, đèo Lò Xo, ngã ba Long Viên…, những địa danh chiến thắng lừng lẫy và sống trong tiềm thức của bao người một thời lần lượt hiện ra trước mắt. Đoạn đường từ Nước Trẻo (Phước Xuân) đến chân đèo Lò Xo (Phước Năng) khoảng 35km là đoạn lặp lại của đường Thống Nhất xưa – đường Hồ Chí Minh hôm nay. Những dãy núi cao chập chùng, núi liền núi cao chất ngất. Những vực sâu thăm thẳm xa tít lởm chởm đá chất chồng. Con đường vòng vèo, gấp khúc liên tiếp với những “cùi chỏ” cũng chỉ là khúc mở đầu dưới chân Lò Xo.

Kỷ vật của cựu chiến binh Đinh Xuân Mỏi trong những năm tháng mở đường Trường Sơn: chiếc cà mèn và tấm vải dù. Ảnh: T.MINH

Nhiều người nói rằng, tuy tuyến đường Hồ Chí Minh qua đây đã được xây dựng trên nền con đường cũ nhưng thật ra đã khác ở những đoạn bạt núi, mở cua, phóng tuyến để giảm bớt nguy hiểm. Bởi thế, di dọc đường Hồ Chí Minh qua đoạn này, thi thoảng vẫn bắt gặp dấu tích của con đường cũ, chạy len lỏi theo núi, có đoạn mất hút trong những vạt rừng già. Nền đường cũ là đá, sỏi. Nhiều đoạn bờ ta-lu dương thậm chí vẫn còn in dấu cuốc xẻng, những vật dụng mở đường thô sơ năm xưa. Và có thể hình dung sức người phi thường in dấu trên huyền thoại Trường Sơn như thế nào.

Ông Vũ Quang Minh, Trưởng Thi hành án dân sự huyện Phước Sơn, người đã từng tham gia lực lượng thanh niên xung phong mở đường Trường Sơn ở tuyến này vào những năm 70 (thế kỷ XX) kể lại rằng, ông đã từng thập tử nhất sinh vì bom bi, vì những dốc đá cao chót vót. Giai đoạn đó, đường Trường Sơn từ Khâm Đức đến đèo Lò Xo đã thông được xe ôtô loại nhỏ nhưng vẫn rất khó khăn. Nhằm nhanh chóng mở đường liên kết với các căn cứ ở đồng bằng Quảng Đà, các tỉnh ven biển miền Trung và chi viện cho chiến trường Tây Nguyên, đầu năm 1971 Trung đoàn vận tải Trường Sơn E230 đã huy động hàng trăm thanh niên ở 4 xã Phước Hiệp, Phước Kim, Phước Mỹ, Phước Chánh (Phước Sơn) tập trung mở đường Trường Sơn với dụng cụ chủ yếu là cuốc, xẻng, ky, ván đẩy… Làm suốt ngày đêm, thần tốc mở đường dưới mưa bom bão đạn. Làm xong đoạn nào là lấy tán rừng và cọc làm dàn che (như kiểu dàn mướp) để tránh bị máy bay phát hiện.

Ông Minh kể, chỉ sau 6 tháng đầu tiên, trong số 360 thanh niên xung phong cùng đơn vị với ông đã có 10 người hy sinh. Thế nhưng, chẳng thấy ai nao núng. Thanh niên xung phong lao vào công việc với khẩu hiệu “ngày không thứ, tháng không tuần”, chia sẻ với nhau từng điếu thuốc, củ sắn… Dòng ký ức của ông Minh điểm những vệt nước mắt tuôn trào khi ông nhớ lại lời cuối cùng của người bạn cùng quê Hồ Văn Phong (thôn Là Toi, xã Phước Năng) khi Phong nằm sóng soài trên tay ông vì bom bi. Rằng, “nói lại giùm với vợ và mẹ là Phong không thể sống nữa, nhớ rừng và mọi người”… Đó hẳn là khúc bi tráng của những chiến sĩ trên huyền thoại Trường Sơn năm xưa.

Ký ức đó cũng lặp lại với ông Hồ Văn Điều. Ông Điều là cán bộ lãnh đạo địa phương trong suốt thời gian từ lúc đường Thống Nhất chỉ là những lối mòn (thập niên 60) cho đến khi tuyến đường này đã có xe ô tô của bộ đội Trường Sơn xuôi ngược (thập niên 70). Ông bảo rằng, cách làm dân vận thuở xưa là tuyệt vời, bộ đội cần là lực lượng địa phương sẵn sàng. “Mình huy động thanh niên từng đợt từ 3 đến 6 tháng với khẩu hiệu “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Thanh niên từ khắp các bản làng xa xôi hăng hái lên đường. Người ta hát hò khi làm đường, khi cận kề với những hiểm nguy. Có nhiều gia đình chỉ có một người con trai cũng xung phong tham gia mở đường”- ông Điều nói. Và cũng chính từ sự hăng hái, thần tốc này, “tuyến lửa” Khâm Đức -đèo Lò Xo – Đắc Lây được mở rộng từng ngày và trở thành cửa ngõ để bộ đội Trường Sơn tiến về giải phóng “nóc nhà Đông Dương”, mở đầu cho đại thắng mùa xuân 1975.

Bài 6: Đường về đồng bằng

Nhiều con đường bí mật đã mở ra nhằm tạo ra thế phòng thủ vững chắc, hỗ trợ đắc lực cho “mạch máu” đường Trường Sơn không bị chia cắt. Hàng vạn tấn bom của địch rải thảm xuống dãy Trường Sơn, nhưng những con đường vẫn cứ kiên trì mở, tỏa xuống đồng bằng phục vụ cho chiến trường Quảng Nam…

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 6)

Đường về đồng bằng

Thanh niên đội Nam Trà (Quảng Nam) mở đường Trà My - Tắc Pỏ.

Nhiều con đường bí mật đã mở ra nhằm tạo ra thế phòng thủ vững chắc, hỗ trợ đắc lực cho “mạch máu” đường Trường Sơn không bị chia cắt. Hàng vạn tấn bom của địch rải thảm xuống dãy Trường Sơn, nhưng những con đường vẫn cứ kiên trì mở, tỏa xuống đồng bằng phục vụ cho chiến trường Quảng Nam…

Đường bí mật

Khi đường Trường Sơn đã phóng tuyến qua các huyện miền núi Quảng Nam, Khu ủy khu V và Tỉnh ủy Quảng Nam chủ trương khẩn trương mở đường, đa dạng hóa mạng lưới giao thông ngang dọc nối với “tử huyệt” Trường Sơn. Từ đây, những con đường nhánh hình thành tạo nên hành lang tuyến khoét sâu vào vùng địch, ngày đêm mang những tin báo, mệnh lệnh chỉ huy của cấp trên cũng như vận chuyển lương thực, vũ khí phục vụ chiến trường.

Gian khổ nhất trong khi mở đường bí mật là phải tháo gỡ bom mìn, san lấp hố bom, đập đá, làm cầu… Nằm sâu trong các khu rừng già đang hứng chịu nhiều “thương tích” vì đạn bom của giặc, các Công trường Thắng Lợi, Công trường 2-9 ra đời với nhiệm vụ đặc biệt để mở các tuyến đường Trà My – Tứ Mỹ – Kỳ Sanh, ngã ba Làng Hồi – Trà Nô, Hiệp Đức – Việt An – Quế Sơn, Hiệp Đức – Việt An -Phước Hà… Hàng nghìn thanh niên xung phong (TNXP) ở các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số đã tham gia mở đường Quyết Thắng từ Trà My lên Nước Ca, Nước Vin, lên Nước Giáp, Nước Xa, Nước Là… Khí thế tình nguyện vào lực lượng TNXP mở đường lan tỏa khắp miền ngược xuống miền xuôi. Nổi bật, Công trường 2-9 đã mở đường 16 nối từ đường mòn Trường Sơn xuống Làng Hồi, thuộc xã Phước Xuân. Đây là ngã ba một thời tấp nập xe cộ vận chuyển súng đạn, lương thực phục vụ cho chiến trường miền Nam.

Ngã ba Làng Hồi giờ đã rộng thênh thang, nhưng dấu mòn đường cũ như vẫn còn in đậm trong tâm trí của bao người dựng xây. Đi trong làn bụi và cái nóng hầm hập, chúng tôi cố tìm gặp những người góp công, góp của vào sự hình thành của “cửa ngõ” Làng Hồi. Trưởng thôn 1 xã Phước Xuân – ông Amớ, một trong số những thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số tham gia mở đường Trường Sơn năm xưa nhớ lại, vì đây là nơi giao điểm của đường Trường Sơn rẽ xuống vùng căn cứ địa cách mạng của ta nên có nhiều ngày đêm bom đạn địch trút xuống như mưa. Nhưng ta xác định kiên quyết đánh địch giữ đường, giữ sự chi viện lương thực, vũ khí của bộ đội chủ lực cho chiến trường Quảng Nam nên Khu ủy khu V huy động tối đa lực lượng bộ đội địa phương và TNXP tham gia. Đồng bào mình thời ấy chỉ góp gạo, hái rau rừng cho bộ đội ăn để có sức làm đường. Mỗi một nhà ít nhất nuôi một chú bộ đội làm đường. Xưa là vậy, còn nay, “Làng Hồi gồm 450 nhân khẩu đã khởi sắc, người dân có cuộc sống ổn định hơn là nhờ có con đường Hồ Chí Minh chạy ngang qua” – Amớ thật thà bảo.

Đường mở xuyên trong rừng, len lỏi dưới những tán cây âm u. Phương châm lúc bấy giờ là mở đường nhưng không chặt phá cây cối. Hệ thống đường ngầm giữa rừng mở nhằm tránh sự phát hiện, phá hoại của kẻ thù. Ban ngày, địch chỉ thấy lèo tèo vài ba túp lều hoang vắng giữa rừng hoang, nhưng ban đêm lại trở thành các trạm giao liên, tiếp vận trên trục hành lang. Năm 1967, địch tăng cường máy bay B52 thả bom dày đặc xuống dãy Trường Sơn. Do vậy, quân dân ta chủ động mở đường bất hợp pháp. Đầu tiên, mở tuyến hành lang đường thủy xuôi ngược sông Thu Bồn lên Bà Huỳnh, Bà Xá; từ sông Tranh lên Trà My, nối đồng bằng với miền núi hậu cứ. Chỉ trong vòng 6 tháng, thông qua con đường này, đã vận chuyển 200 tấn gạo ở Trà My để tiếp tế cho chiến trường Bờ Y, tỉnh Kon Tum, đúng như sự chỉ đạo của Khu ủy khu V và Tỉnh ủy Quảng Nam. Phục vụ cho chiến dịch tổng tiến công vào nổi dậy Tết Mậu Thân (chiến dịch T25), lực lượng giao thông vận tải Quảng Nam tiếp tục khôi phục và mở thêm các tuyến đường từ ngã ba Làng Hồi xuống Hiệp Đức, Sơn -Cẩm – Hà (Tiên Phước), đường từ Trà My xuống Cẩm Khê – Kỳ Sơn -Kỳ Sanh đi Tam Nghĩa (Núi Thành) dài 187km để vận chuyển lương thực, vũ khí và chuyển thương binh lên căn cứ.

Mở đường chờ ngày giải phóng

Thanh niên các dân tộc Nam Trà (Quảng Nam) tham gia mở đường đến công trường 2-9 (1974).

Đầu năm 1970, Nghị quyết Hội nghị Đảng bộ tỉnh Quảng Nam xác định: “Mạch máu giao thông được củng cố và phát triển, cùng với những con đường ở miền tây các huyện nối với trục đường 559, việc mở các nhánh đường tỏa xuống đồng bằng được khẩn trương thực hiện để xe cơ giới đưa hàng từ Trường Sơn về cơ sở. Quân dân các huyện miền núi Quảng Nam cùng bộ đội bạt núi san đồi, mở rộng mạng lưới đường thồ, đường ô tô…”. Nghị quyết ra đời, Ban Giao vận Quảng Nam đã huy động hàng vạn ngày công, mở hơn 200km đường mới, sửa chữa nâng cấp 300km đường cũ, làm mới 42 cầu qua khe suối, nạo vét 21km đường sông. Hàng vạn bộ đội, TNXP và dân công đã miệt mài lao động dưới mưa đạn của địch để mở đường, khai thông tuyến vận tải Làng Hồi – Khâm Đức xuống Hiệp Đức…

Theo ông Nguyễn Đức Toàn, nguyên Phó ban Giao vận Quảng Nam, nguyên Phó Giám đốc Sở GTVT Quảng Nam – Đà Nẵng, năm 1975 ngành giao vận của tỉnh mang sứ mệnh mở đường phục vụ đắc lực cho yêu cầu của các mũi tiến công trên khắp các chiến trường. Trên đường thủy, thuyền bè được tăng cường khẩn cấp gấp hai lần để đưa bộ đội qua sông. Các tuyến đường luôn có lực lượng sẵn sàng tu sửa, cho các loại phương tiện qua lại. Mỗi ngày có hàng chục lượt bộ đội qua sông chiến đấu. Kỳ tích nhất là hoàn thành con đường ở Dốc Cọp trong điều kiện đạn bom của địch cày xới dọc dãy Trường Sơn, mà tâm điểm là đường chiến lược Hồ Chí Minh. Đường đi từ Sơn Hà xuống Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi phải vượt qua nhiều đồn bốt địch ở Giá Vụt, Minh Long; do vậy, phải vòng qua Dốc Cọp. Nếu xuất phát từ Làng Hồi thì về Trà Giáp phải qua ngầm Xà Lo, qua nà Tà Ma, rồi mới đi hướng Dốc Cọp. Sở dĩ có tên gọi Dốc Cọp vì ở đây cọp rất nhiều, gầm suốt đêm.

Những con đường đi giữa lòng dân được mở ra, không chỉ có ý nghĩa phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa, lương thực, vũ khí phục vụ chiến trường miền Nam, mà còn là bàn đạp quan trọng để quân ta có nhiều cách đánh thắng lợi khác nhau nhằm từng bước giải phóng các vùng trọng yếu, giành quyền chủ động tiến về đồng bằng của tỉnh. Cùng với việc mở đường, quân và dân Sơn – Cẩm – Hà (Tiên Phước) đã hoàn thành chiến dịch sau 20 ngày chiến đấu, hình thành thế trận bao vây đánh quân ngụy tháo chạy khỏi Tam Kỳ…

Bản anh hùng ca “mở đường bí mật”

 Trực tiếp chỉ huy mở đường nhánh bí mật nối ngang với đường Trường Sơn huyền thoại, đoạn từ ngã ba Làng Hồi xuống Hiệp Đức, về Trà My, ông Lê Viết Quang (ảnh) – nguyên Phó ban Giao vận tỉnh Quảng Nam nhớ lại: Việc xây dựng mạng lưới đường bí mật thời đó có ý nghĩa quan trọng về mặt quân sự lẫn dân sự. Bởi, trong tình huống xấu nhất, nếu địch cắt đứt “mạch máu” đường Trường Sơn, quân dân ta vẫn có “đường dự trữ” lưu thông. Phương châm của bộ đội, TNXP thời đó là “gạo lên, đạn xuống”. Nghĩa là, lúc di chuyển lên miền ngược phải gùi gạo, muối, tiếp tế lương thực lên chiến khu, khi xuống chuyển đạn về phục vụ cho vùng hậu cứ…

Mở đường bí mật thời chiến tranh là nỗi gian khổ vô cùng cho bộ đội và TNXP, vì phải lao động trong rừng thiêng nước độc, rình rập đối mặt với bệnh sốt rét, sốt xuất huyết và ghẻ lở. Riêng việc mở đường lên Trà My, mỗi ngày tôi chỉ huy trực tiếp hàng nghìn TNXP và dân công. Đây là lực lượng đã viết nên bản anh hùng ca, cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ thiêng liêng vừa cầm súng đánh giặc, vừa mở đường” – ông Quang nói.

Bài 7: Đường Thắng Lợi, tiến về Đà Nẵng

Tiến về đồng bằng, về Đà Nẵng, đánh tan căn cứ liên hợp quân sự lớn nhất miền Trung của Mỹ – ngụy, là khát vọng cháy bỏng của quân dân khu V nói chung, Quảng Nam nói riêng. Để có chiến thắng trong chiến dịch giải phóng Quảng Nam – Đà Nẵng, những con đường Quyết Thắng, Thắng Lợi đã được mở, kết nối từ Trường Sơn…

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 7)

Đường Thắng Lợi, tiến về Đà Nẵng

Đoàn cán bộ khu V thăm công trường 2-9.

Chuẩn bị cho những trận tiến công lớn, trên vùng căn cứ của Quảng Nam – Đà Nẵng, quân giải phóng đã hình thành nên 2 đơn vị cầu đường là Ban Giao vận khu V do ông Nguyễn Chí Quyết làm trưởng ban và Ban Giao vận tỉnh ra đời ngày 30-8-1968, do ông Phạm Thâm (Sáu Do) làm trưởng ban. Hai ban này thường phối hợp thành lập những công trường mở đường để phục vụ các chiến dịch tấn công quân thù.

Đội đá vá trời…

Công trường Thắng Lợi ra đời ngày 22-4-1973, tại Thạnh Mỹ-Đông Giang, giữa thời kỳ ác liệt và khẩn trương nhất trên chiến trường Quảng Nam – Quảng Đà. Một công trường thuộc Công ty cầu đường 3, với vốn liếng ban đầu trên 500 con người, trong kho chỉ có 18 ang sắn lát, 3 ang muối, 7 ang gạo, mà yêu cầu phải làm đường nối đường mòn Hồ Chí Minh để kịp đưa vũ khí, lương thực xuống đồng bằng, phục vụ chiến dịch lớn. Làm đường bằng rìu, cuốc, xà beng, với một lò rèn gồm 4 thợ, tự rèn bằng nguyên liệu lấy từ các cây cầu hư trên đường 14 – con đường thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và nỗi đau của những người “phu” Việt Nam từ thời Pháp thuộc.

Trên con đường mới mở, từ trong núi, xuyên rừng, vượt sông đã một lần ông Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, người từng làm đau đầu “cáo già” Kissinger tại Hội nghị Paris về Việt Nam, một lần đi qua Trao, trên con đường mới mở, đã thốt lên: “Qua Trao thì đến bến Giằng/ Phải chăng đất Quảng anh hùng là đây?”.

Công trường S của khu V và công trường Thắng Lợi đã mở các tuyến đường Trà My – Tứ Mỹ – Kỳ Sanh,Trà My – Dùi Chiêng – Nông Sơn, Hiệp Đức – Việt An – Quế Sơn, Hiệp Đức – Việt An – Phước Hà… Tháng 5-1973, trên giao cho Ban cán sự Nam Trà, do ông Võ Văn Đoàn – Phó Bí thư Tỉnh ủy – làm Bí thư, sau đó là ông Phạm Xuân Thâm (Sáu Do), Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm Bí thư, huy động hàng ngàn thanh niên xung phong ở các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số, mở đường Quyết Thắng từ Trà My lên Nước Ca, Nước Vin, lên Nước Giáp, Nước Xa, Nước Là… Bước sang năm 1974, Công trường 2-9 được thành lập. Hôm làm lễ ra mắt công trường, Tướng Hai Mạnh (Chu Huy Mân), lúc bấy giờ là Tư lệnh Quân khu V, đến dự để động viên anh chị em. Công trường 2-9 mở đường 16, nối từ đường mòn Hồ Chí Minh xuống Làng Hồi, tại đây có “Ngã ba Làng Hồi”, một thời tấp nập xe lớn, xe nhỏ, hàng hóa, gạo và súng đạn. Từ đây mở đường xuống Hiệp Đức, đường Hiệp Đức – Việt An – Thăng Bình, Hiệp Đức – Phước Hà – Tam Kỳ…

Ngày xưa, bà Nữ Oa đội đá vá trời, còn lúc bấy giờ quyết thắng giặc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, anh chị em thanh niên xung phong đã đội nắng mưa, đội đất, đội đá, đội cả bom đạn “lấp” sông Hiệp Đức để xe vận tải nặng, xe bọc thép có thể vượt sông. Theo những con đường mới mở dưới bóng cây rừng, ngày 18-7-1974, quân giải phóng diệt gọn cụm cứ điểm Nông Sơn – Trung Phước. Ngày 7-8-1974, quân giải phóng tiếp tục bao vây tiêu diệt chi khu quận lỵ Thượng Đức.

Làm con đường từ dốc Bền xuống Thọ Lâm phục vụ chiến trường Thượng Đức, những người mở đường Trường Sơn đã đổ biết bao mồ hôi, xương máu và để lại bao nhiêu kỷ niệm buồn vui. Trong số hàng chục nghìn dân được giải phóng từ Thượng Đức, có hàng trăm thanh niên được chọn đưa lên công trường tham gia mở đường. Từ ngã ba Thắng Lợi đi Khe Hoa, muốn đến Thượng Đức phải qua dốc Ngật, anh chị em đặt tên là dốc Ngất (đi từ chân lên đỉnh dốc là… ngất). Với vài kỹ sư ít ỏi được học bài bản ở trường, nhưng khi tham gia mở đường rừng thì không thể áp dụng những gì đã học ở trường mà phải vận dụng với điều kiện thực tế. Sau khi cùng những thanh niên thông thạo địa hình băng rừng, lội suối, định hướng chọn địa hình cho xe kéo pháo có thể vượt qua, chờ chiều xuống, sương mù tràn đến phủ đỉnh núi Ngật thì ra quân bạt cây, phá đá… làm sao khi đường thông, xe ta băng qua mà máy bay do thám của địch không hề hay biết cho đến khi trận đánh được khai hỏa.

Nhắc lại chuyện mở đường ngày nào càng nhớ thương anh chị em thanh niên xung phong, những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân và máu đào cho độc lập tự do, cho hòa bình, nhưng khi có hòa bình thì họ là những người chịu nhiều thiệt thòi. Có đơn vị thanh niên xung phong mở đường 98% là nữ (chỉ đội trưởng, chính trị viên và hai bảo vệ là nam). Những cô gái trẻ trung ấy rất gan dạ, quên mình cho đồng đội, cho con đường, ngày đêm mong làm sao đạn dược, súng ống, lương thực… và cả những chuyến “hàng đặc biệt” sớm đến với chiến trường. Hàng đặc biệt đó là những thùng sắt được niêm phong, ngoài ghi 20T, 30T, 15T, chỉ có cán bộ chỉ huy mới biết trong ấy là đô la, được đưa vào từ miền Bắc, chi viện cho chiến trường, để đổi thành tiền Sài Gòn, mua lương thực, thực phẩm từ vùng địch đưa lên phục vụ chiến đấu…

Các chiến sĩ mở đường từng có mặt với con đường Túy Loan – Trao, với công ty cầu, đã lăn lộn cùng cán bộ, kỹ sư, công nhân, với nhiều xông pha và kinh nghiệm, cho nên sự có mặt kịp thời và tiếng nói có trọng lượng của các anh kỹ sư trẻ được học từ miền Bắc chi viện cho miền Nam đã giúp anh em thi công vượt qua được những khó khăn vướng mắc trước một công trình đang gặp ách tắc, như công trình cầu Bà Huỳnh, cầu sông Tiên, cầu Thanh Niên… Hay như các công trình cầu Bưng Khảm, bến phà Samia trên đất bạn Lào, đường thì xa, ăn uống thiếu thốn, đi lại hết sức khó khăn, thời tiết vô cùng khắc nghiệt, mưa thì dầm dề, nắng thì khô khốc.

Tiến về Đà Nẵng

Ban Giao vận Quảng Đà mở đường Quyết Thắng từ Trao xuống dốc Bền, vượt dốc Ngật, qua dốc Kiền, xuống Túy Loan… Khi con đường mới khai phá còn rất gồ ghề, cốt cho xe tải vượt qua, có cả đóng góp sức lực, phương tiện của lực lượng 559 – Binh đoàn Trường Sơn, của Sư đoàn 372… Đến những ngày giữa mùa xuân lịch sử năm 1975, khi mở đường đến chân dốc Kiền, cán bộ kỹ thuật Quảng Đà vừa qua bên kia chân dốc thì qua chiếc ra-đi-ô hai pin, ngày 29-3-1975, những người mở đường nghe được tin Đà Nẵng giải phóng! Vui không thể tả, làm sao về đến Đà Nẵng nhanh nhất? Nếu đi bộ thì mất một ngày mới đến Túy Loan. Thế là các anh đón xe “bò vàng”, tài xế thấy các anh đội mũ tai bèo liền mời lên ca-bin đưa về thành phố giải phóng.

Khi đặt tên cho các công trường, các chiến sĩ mở đường bộc lộ khát vọng cháy bỏng và một quyết tâm Thắng Lợi, quyết giành Độc Lập (2-9). Theo tiếng gọi của Tổ quốc, những chiến sĩ mang theo cả tuổi xuân và khát vọng đã mở ra những con đường Thắng Lợi, đường Giải Phóng, vượt sông, băng rừng, vượt suối, đưa đoàn quân giải phóng ào ào tiến xuống đồng bằng, tiến về thành phố, làm nên Thắng Lợi tưng bừng, giải phóng toàn bộ quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng trong mùa xuân lịch sử tháng 3-1975. Công sức của họ cũng góp phần quan trọng cho quân giải phóng đưa binh hùng và vũ khí hạng nặng theo quốc lộ 1 ào ào tiến vào giải phóng hoàn toàn miền Nam!

Đường theo “Nước non ngàn dặm”…

Với “Nước non ngàn dặm”, nhà thơ Tố Hữu trong một “Đêm rằm vằng vặc bến Giằng trăng lên…” cùng vui với bà con Làng Rô đã không quên những ngày của tháng 3-1942, lúc ông cùng bạn tù Huỳnh Ngọc Huệ, người Quảng Nam đã vượt ngục Đắc Lay. Sau 27 ngày đêm luồn rừng, đói và mệt thì gặp bà con người dân tộc Cơtu ở Giằng, biết các anh là tù Cộng sản đang bị tầm nã, liền cho ăn, cưu mang, bảo vệ. Nhà thơ nhớ đến người con gái của già làng đã đưa dắt các anh đi lách đồn Tây cho thoát: “Ôi! Làng Rô nhỏ của tôi/ Cao cao ngọn núi, chiếc nôi đại bàng/ Trăm năm, ta nhớ ơn làng/ Cánh tay che chở bước đường gian nguy/ Thương em, cô gái sông My/ Nắm xôi đưa tiễn anh đi qua rừng…”.

Xe chạy theo con đường Trường Sơn đến vùng căn cứ của Khu 5 thì nhà thơ Tố Hữu bỗng nghe: “Hương đâu thơm lựng rừng hè/ Nhặt cành lá quế mà tê tái lòng/ Trà My đây, hỡi Trà Bồng/ Có hay cây quế đợi trông tháng ngày?/ Nâng cành quế héo trên tay/ Càng thương quế ngọt quế cay cùng người!”. Và, giữa rừng “quế ngọt, quế cay”’này, nhà văn Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) đã viết nên “Đường chúng ta đi” – tùy bút như một bài ca làm xao động bao trái tim son hăng hái lên đường ra mặt trận.

Trong số hàng vạn thanh niên lên đường ra mặt trận có rất nhiều những nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ từ miền Bắc theo đường mòn vào, dừng lại vùng căn cứ Trà My, rồi theo những nẻo đường từ Trường Sơn xuống chiến trường Quảng Nam, Quảng Đà. Theo chân bộ đội trên những con đường này, nhà văn Nguyễn Chí Trung đã làm nên một “Bức thư Làng Mực” ca ngợi tấm lòng tuyệt vời của bà con dân tộc miền núi Quảng Nam. Nhà thơ Dương Hương Ly cùng người vợ trẻ Dương Thị Xuân Quý theo đường mòn vào khu V, anh chị đã xem đất Quảng Nam trung dũng kiên cường là “Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ”. Tất cả họ đã góp sức mạnh riêng của mình, tạo nên một loại vũ khí kỳ diệu: tiếng hát át tiếng bom.

Bài cuối: Những khúc dư âm…

Loạt bài “Trường Sơn – dấu ấn Quảng Nam” đã đi qua một chặng đường làm dậy lên bao ký ức về một thời lửa đạn, nhưng vẫn chỉ mới phác họa phần nào dòng ký ức, kỷ niệm xưa. Bởi có nhiều câu chuyện được kể tiếp từ phía độc giả gửi đến Báo Quảng Nam…

Ký của HỒ DUY LỆ

baoquangnam.com.vn

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài cuối)

Những khúc dư âm…

Mở đường. Ảnh tư liệu

Ngày đầu gian khó

Có những người con Duy Xuyên một thời đầu đội bom,cõng đạn trên con đường Trường Sơn khói lửa. Họ bây giờ tuổi đã xấp xỉ 80, sống một cuộc sống thanh đạm ở làng quê yên ả, thanh bình. Hàng năm, vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ kính yêu và cũng là dịp kỷ niệm ngày mở đường Trường Sơn, họ họp mặt ôn lại những tháng ngày gian khổ, ác liệt nhưng rất đỗi vinh quang tự hào. Họ tương trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống đời thường và nhắc nhở nhau giữ vững phẩm chất cao quí của bộ đội Trường Sơn.

Trong số những người lính Trường Sơn năm xưa, không ít người tuổi già sức yếu, bệnh tật và do di chứng thương tích, chất độc hóa học của Mỹ rải xuống rừng Trường Sơn đã yên nghỉ ngàn thu, như ông Hồ Ngọc Anh (Duy Phước) và ông Trần Phòng (Duy Châu), Nguyễn Ngọc Xu (Nam Phước) và ông Võ Diêm (Duy Trinh). Ông Huỳnh Tấn Mua (Duy Trung) bây giờ bị mù hai mắt.

Ông Phạm Đóa (Nam Phước), nhớ như in về những ngày đầu gia nhập Đoàn 559: Tháng 5 năm 1959, ông được chỉ huy gọi lên giao nhiệm vụ, hai ngày nữa tập trung tại Ban chỉ huy đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Đúng thời gian qui định, ông Đóa lên trình diện chỉ huy và được đưa lên ô tô bịt kín đi một mạch đến tỉnh Quảng Bình. Sau đó đi bộ tiếp đến Bãi Cỏ, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) để học Nghị quyết Hội nghị Trương ương Đảng lần thứ 15 về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Đơn vị của ông chỉ là những anh em miền Nam tập kết. Ông Đóa được biên chế vào Tiểu đoàn 301 gùi thồ đầu tiên với 440 người. Và được giao làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí bí mật ở trạm 7 chuyển qua trạm 8.

Ông Đóa kể: Từ năm 1959-1961, bộ đội ta vận chuyển vũ khí bằng đường dây bí mật nên thực hiện khẩu hiệu “nấu không khói, nói không to, ho không tiếng”. Ông nhớ một lần hiểm nguy ập đến đối với ông, đó là một lần ông vượt sông Bến Hải ở khu vực thượng nguồn, đến giữa dòng bè nứa bị vỡ, ông bị dòng nước chảy xiết cuốn trôi cả cây số nhưng ông không dám kêu cứu vì sợ bị lộ, may mắn có chiến sĩ cảnh giới phát hiện bơi ra cứu.

Con đường vận chuyển vũ khí bí mật tồn tại an toàn từ năm 1959 đến năm 1961 nhờ lòng quả cảm và ý thức chấp hành nghiêm nguyên tắc bí mật của các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559. Kết thúc năm 1959, Đoàn đã chuyển được vào Khu V: 1.667 khẩu súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn và một số quân dụng thiết yếu khác. Đối với những người con Duy Xuyên tham gia Đoàn 559, Tiểu đoàn 301 đã mang trên lưng mình mỗi người hàng tấn vũ khí, góp cùng hàng triệu người chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Điểm hẹn hạnh phúc

Trung tá Nguyễn Đức Hiền (giữa) gặp thủ trưởng cũ của mình trên đường Trường Sơn.

Trung tá Nguyễn Đức Hiền, 83 tuổi, quê xã Điện An, Điện Bàn, trước khi về hưu là quyền Chính ủy Trung đoàn 509, Bộ Tư lệnh 559, hiện ở số nhà 454/20 Nguyễn Tri Phương, Đà Nẵng.

Ông Hiền xúc động kể: “Sau khi tập kết ra Bắc trong đội hình Sư đoàn 324, năm 1962, tôi vào lại Nam làm Chính trị viên Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 70, rồi làm chính trị viên Tiểu đoàn Công binh 35. Tiểu đoàn chúng tôi phụ trách ngầm Tha Mé và đường từ Tha Mé đi La Hạp, nước bạn Lào. Đoạn đường này dài khoảng 70 km, là cung đường trọng điểm liên thông của ta nên địch đánh phá rất ác liệt. Ban ngày thì bom tọa độ, tối thì bom bi, bom phá B52. Còn F105, F4 “con ma”, “thần sấm” OV10 thì liên tục thả đèn dù, bom, pháo sáng. Từng loạt bom nối nhau trút xuống đoạn đường hẹp, đợt sau chồng lên đợt trước, cây cối đổ ngổn ngang trên đường xen lẫn đất đá vùi lấp. Với khẩu hiệu “Mặt đường là trận địa”, toàn tiểu đoàn cơm vắt muối rang, dầm mưa dãi nắng bám mặt đường khẩn trương sửa chữa cho xe qua, không để tắc nghẽn. Chúng tôi không nhớ hết bao nhiêu đoàn xe chở quân và vũ khí, lương thực đã đi qua con đường tiểu đoàn đảm nhiệm, chỉ biết rằng ai nấy đều thấy hạnh phúc.

Tôi nghĩ điều giúp chúng ta mở được con đường Trường Sơn chính là sức mạnh tinh thần. Còn nhớ hồi cuối năm 1965, đường vận chuyển bằng cơ giới trên hành lang chiến lược chưa thông suốt. Thời điểm này chiến trường đang cần gạo. Cấp trên lệnh cho trạm 5 chi viện cho trạm 4 quân số 20 người. Nhưng trạm 5 có quá nhiều người ốm, chỉ chọn được 18 người. Vậy mà đồng chí Võ Diêm, trạm trưởng trạm 5 đã báo cáo lên tiểu đoàn: “Chúng tôi có 18 thực binh ngoài ra còn có 2 đồng chí “Nguyễn Văn Trỗi” nữa. Chúng tôi trả thù cho anh Trỗi và làm việc thay cho anh Trỗi để đánh Mỹ”. Vậy là trạm 5 với 18 người đã mang vác như 20 người. Chỉ tiêu gùi 800kg, trạm đã gùi đến 810kg. Tôi vẫn nhớ như in đội ngũ cán bộ Đại đội 4. Anh Đồng Thế Quá, đại đội phó và Lý Văn Thọ chính trị viên vừa bám bộ đội chỉ huy vừa trực tiếp khuân đá, vác gỗ, giành những việc nặng nề nhất để làm. Có ngày địch đánh phá liên tục, cơm tiếp tế không được, sau công việc tôi vẫn thấy hai anh ung dung đánh cờ, như không hề có cơn đói đang hành hạ. Đặc biệt, chiến sĩ Nguyễn Văn Thoát của Tiểu đoàn 35 chúng tôi rất dũng cảm. Được giao theo dõi bom rơi, tìm đánh dấu những quả bom chưa nổ, anh tập trung cao độ quan sát bất chấp nguy hiểm, không để sót một quả bom nào trúng mặt đường mà chưa nổ, dù là bom nổ chậm hoặc bom từ trường đồng thời rút ra quy luật đánh phá các loại bom địch và tìm ra cách phá rất hiệu quả. Với tôi, đường Trường Sơn không chỉ có ác liệt mà còn là điểm hẹn hạnh phúc. Hàng nghìn nữ thanh niên xung phong từ ngoài Bắc đã vào Trường Sơn và chúng tôi, những chàng trai chưa vợ đã tìm thấy một nửa của mình từ cô gái xinh đẹp, dịu dàng mà dũng cảm ấy. Tình yêu của chúng tôi nảy nở giữa mưa bom bão đạn, nơi mà sự sống cái chết cách nhau trong gang tấc. Cưới nhau giữa chiến trường và đứa con gái đầu cũng sinh ra ở chiến trường. Gần 40 năm đồng hành từ Trường Sơn về Đà Nẵng, “bà xã” tôi đã chia sẻ với tôi bao buồn vui cho đến khi từ giã cõi đời năm 2007”.

Chị Thao - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn vận tải 232.

Sự hy sinh thầm lặng

Tiểu đoàn vận tải 232 (Cục Hậu cần Quân khu 5) có 98% quân số là nữ, được thành lập đúng vào dịp kỷ niệm 58 năm ngày Quốc tế phụ nữ (8-3-1968). Trải qua 4 năm công tác, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, dấu chân người chiến sĩ “Hai Ba Hai” đã in khắp vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Kon Tum, đường 9 Nam Lào, từ dốc Lò Xo đến Hòn Kẽm Đá Dừng, đèo Le, v.v… Luồn rừng, băng đèo, lội suối, dưới những cơn mưa tầm tã hay cái nắng cháy da, cái rét cắt thịt, cõng hàng gấp 1,5-2 lần trọng lượng cơ thể trong lúc địch liên tục lùng sục càn quét, nhiều chị đã được tặng danh hiệu “kiện tướng hành lang” chân đồng vai sắt, được thưởng huy hiệu Bác Hồ, Huân chương Chiến công Giải phóng… Tiểu đoàn trở thành ngọn cờ tiêu biểu của ngành vận tải Khu V, góp phần quan trọng trong những chiến công vang dội, được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì. Đằng sau thành tích ấn tượng ấy là biết bao hy sinh thầm lặng, không thể nói hết bằng lời.

Tiểu đoàn trưởng Phạm Thị Thao tâm tình: “Không chỉ đưa vũ khí, đạn dược, thuốc men ra chiến trường, sẵn sàng chiến đấu đánh địch bảo vệ hàng, bảo vệ đường hành lang, đơn vị còn xuống đồng bằng chuyển gạo, muối lên phục vụ thương bệnh binh, mở đường, dựng nhà, làm kho chứa hàng, sản xuất chăn nuôi tại chỗ. Trong chiến dịch Xuân – Hè của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, chỉ tiêu trên giao 40kg/người/chuyến, chị em phấn đấu tăng trọng lượng lên gấp đôi, có chị đạt trên 100kg/chuyến và hơn nữa, đăng ký tăng chuyến, đẩy nhanh tiến độ giao hàng. Mỗi năm, tiểu đoàn vận chuyển bình quân hơn 2.000 tấn hàng, với quãng đường rừng đi bộ ước hàng vạn ki-lô-mét. Với chúng tôi, cứ mỗi chuyến hàng ra tiền tuyến là kéo ngày giải phóng miền Nam gần thêm một ít. Niềm tin mãnh liệt ấy đã thôi thúc và tiếp sức cho mỗi người vượt lên gian khổ, vượt lên chính mình. Trên chiến trường Quảng Nam, đoạn từ Đại Lộc đến Quế Sơn là vùng trọng điểm đánh phá của địch, một lần tôi cùng các chị em gùi hàng xuống Quế Sơn lúc trở về bị địch phát hiện. Chúng gọi pháo bắn liên hồi từ 16 giờ chiều đến tận sáng hôm sau, một viên đạn rơi trúng hầm, 6 chị bị thương, 6 chị khác đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất này”.

Chị Phạm Thị Sen, Chính trị viên phó Đại đội 4 nghẹn lời: “Năm 1972, được lệnh hành quân sang Trà Ôn để đưa hàng ra mặt trận. Đang mùa mưa, chị Trần Thị Lâu, Chính trị viên phó Đại đội 3 vừa lội đến giữa dòng suối Nước Chè thì một cơn lũ từ đầu nguồn tràn xuống, nước chảy xiết, cuốn phăng cả người cùng gùi hàng nặng một tạ”.

Trong những năm chống Mỹ, bất chấp gian khổ, hiểm nguy, các chị vẫn “tiếng hát át tiếng bom”. Ngày nay, mỗi dịp gặp mặt, ôn cố tri tân, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn vận tải 232 lại nhắc nhau sống xứng đáng với quá khứ vinh quang, với những đồng đồng đội đã hy sinh trên dải Trường Sơn một thời lửa đạn.

HOÀNG THƠ – HỒNG VÂN – ĐỖ THỊ NGỌC DIỆP

baoquangnam.com.vn

Anh hùng Nguyễn Tài và ký ức về ngày 30-4-1975

Đồng chí Nguyễn Tài trong những ngày ở nhà tù của Mỹ-ngụy.

Đúng trưa ngày 30/4/1975, đồng chí Nguyễn Tài được bộ đội ta giải thoát. Sau cảnh lao tù, ông trở lại với công việc của mình với cương vị Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban An ninh thành phố vừa mới được giải phóng, rồi là Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Năm tháng qua đi, vượt lên những thăng trầm và vết thương thời hậu chiến ông đã được nhà nước ta phong tặng danh hiệu LLVTND…

Chiến tranh đã lùi xa nhưng hằng năm cứ vào dịp kỷ niệm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất lại một dịp tôi nhớ đến một cán bộ lão thành đã từng là Trưởng ty Công an Hà Nội trong những ngày đầu dựng nước, 10 năm sau là Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị (Bộ Công an), tình nguyện đi chiến trường trong những năm cả nước sôi sục đánh Mỹ rồi bị địch bắt vào dịp Noel năm 1970. Mặt đối mặt với các nhân viên CIA trong suốt 4 năm, 4 tháng, 10 ngày trong nhà tù của Mỹ – ngụy, song ông vẫn giữ được khí phách trung kiên của người chiến sỹ Công an cách mạng.

Mùa xuân năm 1975 khi Sài Gòn được giải phóng, ông được bộ đội ta giải thoát. Sau cảnh lao tù, ông trở lại với công việc của mình với cương vị Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban An ninh thành phố vừa mới được giải phóng. Sau đó ít lâu, ông được bổ nhiệm giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Năm tháng qua đi, vượt lên những thăng trầm và vết thương thời hậu chiến ông đã được nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND). Người anh hùng ấy là đồng chí Nguyễn Tài.

Trong cuốn hồi ký của mình, đồng chí Nguyễn Tài viết: “Ngày 23/12/1970, tôi bị địch bắt trên đường đi công tác. Thời gian đầu còn dấu được tung tích, lừa địch bằng một bình phong giả tạo; nhưng 6 tháng sau do một sơ hở từ bên ngoài, rồi do bọn phản bội khai báo, nhận diện, tôi bị lộ tung tích.

Kể từ đó, một cuộc đấu tranh trực diện gay go, quyết liệt đã diễn ra đối với tôi trong hoàn cảnh bị biệt gian từ đầu đến cuối, khi thì với bọn tình báo ngụỵ, khi thì với bọn CIA Mỹ. Theo nhiều tin tức mà tôi nắm được, địch có chủ trương giết tôi vào những ngày cuối cùng tháng 4 năm 1975, nhưng bọn tay sai dưới quyền không dám thi hành vì thời điểm này quân ta đã tiến sát Sài Gòn. Cuối cùng tôi đã được bộ đội ta giải thoát khỏi nhà tù số 3 đường Bạch Đằng vào trưa ngày 30/4/1975”.

Đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn và đồng chí Ủy viên Ban An ninh TW Cục miền Nam Huỳnh Việt Thắng đón tiếp đồng chí Nguyễn Tài (Tư Trọng) từ nhà tù của địch trở về sau chiến thắng 30-4-1975.

Vẫn theo ký ức của anh hùng Nguyễn Tài thì buổi trưa ngày 30/4 năm ấy khi được giải thoát, bộ đội ta tạm đưa ông về nơi trú quân ở Bộ Tư lệnh Hải quân của ngụỵ cũng ở đường Bạch Đằng. Sáng 1/5/1975, do đơn vị này còn phải tiếp tục hành quân để thực hiện nhiệm vụ mới nên họ phải gửi ông cho một đơn vị bộ đội của ta ở Dinh Độc lập và đợi các thành viên của Ủy ban quân quản.

Do nóng lòng gặp lại tổ chức, ông quyết định rời khỏi Dinh Độc lập để tìm gặp gia đình cơ sở, nơi đã nuôi dưỡng và che chở ông một thời gian dài trong những ngày ông hoạt động bí mật ở thành phố. Nhưng khổ một nỗi, ra khỏi trại giam, bước ra đường phố, ông không một xu dính túi, chỉ kịp thay bộ quần áo khác, râu ria mọc tua tủa. Giữa lúc còn đang tính đường đi, lối lại, ông gặp 2 nữ sinh tuổi 15 mặc đồng phục trắng ở đầu phố cạnh Dinh Độc lập.

Vừa nhìn thấy ông, 2 nữ sinh đã hỏi thăm. Sau khi biết ông vừa thoát khỏi nhà tù Mỹ- ngụỵ và có nguyện vọng tìm đến Ủy ban quân quản nhưng chưa gặp được nên phải tìm đường về gia đình cơ sở ở đường Bình Thới, quận 11. Nghe vậy, 2 nữ sinh đã nhận lời dẫn ông đi. Đến một bến xe buýt gần khu vực chợ Bến Thành, 2 nữ sinh mời ông lên xe và mua vé cho ông. Hết chặng, họ tiếp tục mua vé cho ông về Bình Thới. Trước khi tạm biệt ông, các nữ sinh không quên dặn một hành khách trên xe rằng, đến khu vực Bình Thới nhớ nhắc ông xuống xe.

Đêm đó, tại gia đình cơ sở ở Bình Thới, TP HCM, là một đêm ông sống với bao ký ức về những việc làm của gia đình chị Ba- gia đình mà đã từng giúp đỡ ông ăn, ở và hoạt động trong suốt một thời gian dài. Theo ông kể thì: “Sáng 2/5/1975, cháu Nhơn – con trai lớn của anh chị Ba, người mà thoát li từ đợt 2 trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mùa xuân năm Mậu Thân (1968), dừng xe ôtô ngang trước cửa nhà. Vừa bước vào nhà, chưa kịp hỏi thăm ba, má, cháu nhìn thấy tôi rồi ôm chầm và khóc. Thì ra các đồng chí ở Ban An ninh T4 cũ, đã không ngờ tôi vẫn còn sống và trở về. Hỏi ra mới rõ cháu Nhơn vẫn là cán bộ bảo vệ anh Sáu Dân (Đồng chí Võ Văn Kiệt). Trên đường cùng anh Sáu Dân vào tiếp quản Sài Gòn, cháu được anh Sáu Dân cho phép về thăm gia đình. Sau khi gặp tôi, cháu vội đến gặp anh Sáu Dân để báo là tôi vẫn còn sống. Một lát sau, anh Sáu Ngọc (tức đồng chí Lê Thanh Vân, nguyên Giám đốc Công an TP HCM) và anh Hai Ngự, cán bộ An ninh T4 đến nhà anh chị Ba đón tôi về trụ sở Công an TP. Ít ngày sau, tôi được công nhận đảng tịch liên tục và được phân công là Ủy viên thường vụ Thành ủy Sài Gòn, Trưởng ban An ninh thành phố. Kể từ thời điểm ấy, tôi lao vào công việc”.

Đồng chí Nguyễn Tài và phu nhân (người thứ 2,3 từ trái qua) tại buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Vẫn theo lời ông thì ít ngày sau, đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn vào đến Sài Gòn. Biết tin ông vẫn còn sống, Bộ trưởng đã đến gặp ông và điện báo cho gia đình ông ở Hà Nội. Gặp lại Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn và người bạn đời từ Hà Nội vào, trong lòng ông tràn ngập niềm vui. Song Sài Gòn và miền Nam vừa giải phóng với biết bao công việc đảm bảo an ninh, trật tự, ông tạm gác lại những câu chuyện về những ngày xa cách, cũng như những vết thương còn hằn sâu từ thời gian tù đày ở nhà giam của Mỹ – ngụy, phấn khởi tiếp nhận công việc mới: Giám đốc Công an TP HCM. Ít lâu sau, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và giữ cương vị này đến cương vị cuối năm 1981.

36 năm trôi đi kể từ khi miền Nam giải phóng, song giờ đây TP HCM, cũng như đâu đó ở nhiều tỉnh Nam bộ, cứ mỗi lần nhắc đến tên ông, người ta vẫn gọi ông với cái tên trìu mến: Anh Tư Trọng. Cái tên đó xem ra đã gắn bó với tên đất, tên làng của những người đồng chí, đồng nghiệp và người dân nơi ông từng sống và hoạt động. Với ông nơi đây vẫn chôn chặt, bao ký ức về một thời gian khổ mà hào hùng, sự gắn bó máu thịt giữa người dân và những cán bộ Công an cách mạng.

Có lẽ vì thế mà sau khi rời khỏi cương vị Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan để nghỉ hưu theo chế độ và trở thành một công dân bình thường, không còn được nhà nước bao cấp tiền tàu, xe, lưu trú, ông vẫn dùng tiền riêng của gia đình vào thăm TP HCM và các tỉnh phía Nam. Tại các chuyến đi như thế, ông lại tìm đến thăm các đồng chí, đồng nghiệp – những người đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi trong những năm tháng chiến đấu gian khổ ở chiến trường; thăm các gia đình cơ sở, bà con cô bác, những người đã đùm bọc, che chở cho ông trong những thời khắc khó khăn của cuộc chiến.

Đến đâu “anh Tư Trọng” cũng được đón tiếp như những người anh em ruột thịt trong gia đình. Nhiều bà má, người chị, người em bật khóc khi gặp lại ông… Còn ở Hà Nội, thời điểm mới nghỉ hưu không còn chế độ xe đưa, đón, thi thoảng người ta vẫn thấy ông đi chiếc xe đạp cà tàng đến thăm gia đình này, đồng đội kia. Nghỉ hưu, quỹ lương hưu của vợ chồng ông như bà Bắc (vợ ông) nói: Chỉ đủ để trang trải cho tiền điện, nước và sinh hoạt hàng ngày.

Khi ông còn đương chức, gia đình ông có căn hộ ở tầng 2, nhà B4, tập thể Trung Tự (Hà Nội). Ông đã nhượng lại căn hộ này cho người khác để về sống với người con trai và dành tiền cho những chuyến vô Nam thăm đồng chí, đồng nghiệp và các gia đình cơ sở. Nêu ra các chi tiết ấy, chúng tôi muốn đề cập đến một thực tế rằng, trong cái bộn bề của thời mở cửa, có người muốn quay lưng lại với quá khứ, lo thu vén cho gia đình cá nhân, phũ phàng với những kỷ niệm ngày xưa… thì với ông – quá khứ luôn ẩn hiện. Phải chăng đó là phẩm chất của người anh hùng.

Có lẽ vì thế mà tại Công văn số 33 ngày 8 tháng 4 năm 1978, tập thể Thường vụ Thành ủy TP HCM đã có nhận xét rất tốt đẹp về ông: “Trong suốt thời gian công tác ở TP cho đến lúc bị địch bắt, đồng chí Tư Trọng ( tức Nguyễn Tài) là một cán bộ cốt cán tích cực, xông xáo, không sợ hiểm nguy, không chùn bước trước khó khăn, lăn vào chiến trường và đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự lãnh đạo của thành ủy và xây dựng Ban An ninh thành phố”.

Điều đáng phải kể thêm là đơn vị trinh sát vũ trang, đơn vị điệp báo thuộc Ban An ninh T4 do ông phụ trách đã được phong danh hiệu Anh hùng LLVTND. Tương tự thế, trước đó tại Cục Bảo vệ chính trị do ông làm Cục trưởng, rồi tại Công an Hà Nội do ông lãnh đạo, cũng có những tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đương thời, trong lá thư gửi Thành ủy TP HCM, đồng chí Võ Văn Kiệt, khi ấy là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, nguyên Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định và đã có thời gian hoạt động với ông, hiểu ông từ tính cách đến việc làm đã viết thư đề xuất với Đảng và Nhà nước ta xét phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông.

Trong bức thư ấy, đồng chí Võ Văn Kiệt đã nhận xét: “Quá trình hoạt động cũng như quá trình đấu tranh kiên trung, mưu trí khi bị địch bắt trong thời kì kháng chiến chống Mỹ của đồng chí Nguyễn Tài cho thấy, đồng chí thực sự xứng đáng là một anh hùng. Sau giải phóng, đồng chí đã kiên trì, thẳng thắn đấu tranh có nguyên tắc để bảo vệ mình trước những nghi vấn về thời gian bị địch bắt, giam cầm và đã được các cơ quan của Đảng xác nhận. Việc đó càng làm sáng tỏ hơn phẩm chất anh hùng của đồng chí”.

Còn nhớ, khi đến thăm ông vào thời điểm ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, tôi có một cảm nhận, cả vợ chồng ông đều khỏe và trẻ ra. Bà Bắc, phu nhân của ông không giấu nổi niềm vui và xúc động kể với tôi rằng: “Từ hôm ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, đồng đội, bạn bè gần xa, đặc biệt là bà con nơi ông từng sống và hoạt động liên tiếp điện ra chia vui”. Không vui sao được, bởi cuộc đời đã trả lại sự công bằng cho ông – đồng chí Nguyễn Tài trong những ngày ở nhà tù Mỹ – ngụy

Lưu Vinh

cand.com.vn

Trại Davis Sài Gòn – Ngày ấy, bây giờ… (Bài 1)

Lai lịch một cái tên


LTS: Trại Davis là trụ sở của Ban Liên hợp Quân sự 4 bên Trung ương trong giai đoạn 60 ngày và sau đó là trụ sở Ban Liên hợp quân sự 2 bên Trung ương, đồng thời là trụ sở, nơi đóng quân của hai phái đoàn quân sự ta từ ngày 28-1-1973 đến ngày 30-4-1975. Cái tên Trại Davis gắn liền với Hiệp định Paris, với Ngày toàn thắng 30-4.

Nhân kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Hànộimới xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài viết và một số tư liệu về quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh thầm lặng, nhưng cũng vô cùng hào hùng của các chiến sỹ giải phóng suốt 823 ngày trong hang ổ của kẻ thù.

Trại Davis (Davis Camp) Sài Gòn trước năm 1973. Tiền cảnh là Nhà tưởng niệm lính Mỹ Davis.

Ngày 27-1-1973, sau gần 5 năm đàm phán, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết, đánh dấu một thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện một phần Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đánh cho Mỹ cút. Theo khoản d, Điều 16, Chương VI của Hiệp định Paris, 4 bên gồm Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp Quân sự 4 bên. Theo Điều 17, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp Quân sự 2 bên. Ban Liên hợp Quân sự có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên nhằm thực hiện các điều khoản về quân sự mà hiệp định đã quy định (về ngừng bắn, rút quân Mỹ và chư hầu, hủy bỏ căn cứ quân sự của Mỹ và chư hầu, về trao trả nhân viên quân sự, nhân viên dân sự và tìm kiếm người mất tích…).

Trại Davis nguyên là một trại lính của quân đội Mỹ, nằm gần sát phía Tây nam sân bay Tân Sơn Nhất, nay thuộc phường 4, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Ban đầu, đây là nơi đóng quân của Tổ Viễn thám số 3 (3rd Radio Research-RR) Lục quân Mỹ. 3rd RR có nhiệm vụ giúp Nha An ninh quân đội Sài Gòn dò tìm, xác định chính xác vị trí các đài phát sóng truyền tin của quân Giải phóng, từ đó lần tìm vị trí đóng quân của ta, chỉ điểm cho máy bay, pháo binh địch bắn phá hoặc đưa quân đến càn quét tiêu diệt. Ngày 22-12-1961, thành viên của Tổ Viễn thám số 3 là Hạ sỹ quân báo James Thomas Davis, người gốc Caucase, sinh năm 1936 tại Livingston, tiểu bang Tennessee, cùng quân ngụy đi càn, bị phục kích chết tại Đức Hòa, Hậu Nghĩa (nay là Long An). Ngày 10-1-1962, đồng đội của J.T.Davis lấy tên anh ta đặt cho doanh trại nơi họ đóng quân, gọi là Trạm Davis (Davis Station), đồng thời lập cho Davis một cái nhà tưởng niệm (miếu thờ) nhỏ kiểu Công giáo trong doanh trại. Năm 1966, Nhóm Viễn thám 509 (509th Radio Research Group-RRG) đến thay Tổ Viễn thám 3, Trạm Davis được “nâng cấp”, gọi là Trại Davis (Davis Camp). Cuối năm 1972 Nhóm Viễn thám 509 rút về Mỹ, Trại Davis bị bỏ hoang cho đến ngày 28-1-1973, khi trở thành trụ sở của Ban Liên hợp Quân sự và là nơi hai đoàn đại biểu quân sự ta đóng quân, ngay giữa sào huyệt địch.

Nhiều tài liệu cho rằng Trại Davis Sài Gòn được đặt theo tên người lính Mỹ đầu tiên chết trận tại miền Nam Việt Nam. Cứ theo logic ấy mà suy thì James Thomas Davis có cái “vinh dự” là quân nhân Mỹ đầu tiên bỏ mạng trên chiến trường xứ nhiệt đới này, nhưng không phải như vậy. Sự thật thì người lính Mỹ đầu tiên chết tại miền Nam Việt Nam là Trung sỹ Không quân Richard B. Fitzgibbon, sinh năm 1920, bị tai nạn chết ngày 6-8-1956. R.B Fitzgibbon cũng không phải là lính Mỹ đầu tiên chết trận tại Việt Nam. Do vậy, trên bức tường đá đen khắc 58.261 cái tên tại Khu tưởng niệm lính Mỹ chết tại Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial) ở thủ đô Washington, đứng đầu danh sách là Thiếu tá Bael Buis và Trung sỹ Chester Ovman. Hai quân nhân này bị đặc công ta tiêu diệt ngày 7-7-1959 trong trận tập kích vào trụ sở của Phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ tại Biên Hòa đóng tại Biệt thự Nhà Xanh.

Davis Camp Sài Gòn là một trại lính dã chiến nằm trong khuôn viên hình năm cạnh lệch nhau, các cạnh dài khoảng 100 và 200m. Một bên là hào bảo vệ sâu 3m giáp đường băng, hai mặt khác là khu gia binh và một cơ sở bỏ hoang. Cổng Trại Davis mở ra đường Lê Văn Lộc, đối diện trại lính dù ngụy. Các nhà trong trại làm bằng gỗ thông cưa xẻ mang từ Mỹ sang, xây theo kiểu nhà sàn, quy cách thống nhất, mái lợp phibroximăng, tất cả hợp thành ba dãy nhà hình chữ U và một dãy nhà chéo, ở giữa có vài nhà trệt. Nội thất, đồ dùng giường tủ bàn ghế hoàn toàn bằng sắt. Với cái nắng nóng của Sài Gòn, nhiệt độ trong phòng có lúc lên đến hơn 40 độ C, cộng thêm tiếng máy bay cứ 5 phút lại một chuyến lên xuống suốt ngày đêm ngay sát doanh trại, sống ở đó giữa vòng vây kẻ thù suốt 2 năm, 3 tháng, 3 ngày, cán bộ chiến sỹ hai đoàn đại biểu quân sự ta đã lập một kỳ tích về ý chí kiên cường, hơn thế, đã góp phần đặc biệt xuất sắc, phối hợp với quân dân cả nước buộc quân Mỹ và chư hầu rút khỏi nước ta, đánh sụp đổ quân ngụy ngay trong sào huyệt của chúng.

Năng Lực

hanoimoi.com.vn