Ông “số một”

Viên thiếu tá quận trưởng Cầu Kè người Việt, quốc tịch Pháp mang tên Robert đã dùng danh xưng đầy nể trọng như vậy để gọi đồng chí Ba Danh trong ngày đỉnh điểm 30 tháng 4 năm 75. Đây cũng là bí số trên vô tuyến điện của đồng chí Ba Danh, tức Võ Thành Công, Bí thư Huyện ủy, Chỉ huy trưởng mặt trận Cầu Kè trong những ngày tổng tấn công cuối tháng 4 này.

Từ sáng nay, 30 tháng 4, khi các đồn bót vệ tinh quanh huyện lỵ đã bị ta nhổ gần hết, anh đã dùng ngay mã số vô tuyến điện của địch ở Cầu Kè với danh nghĩa là người chỉ huy cao nhất lực lượng cách mạng của huyện mang tên “Số Một” để liên lạc buộc Robert phải ra gặp và buông súng đầu hàng.

Đến 17 giờ, tất cả các đồn bót sát huyện lỵ, kể cả đồn Giồng Dầu do tiểu đoàn bảo an, lực lượng mạnh nhất bảo vệ vòng trong của chi khu Cầu Kè đã đầu hàng hoặc bỏ súng tháo chạy. ở Cầu Kè chỉ còn có bản doanh ở chi khu, chi công an và trận địa pháo nằm liền với Sở chỉ huy chi khu. Tuy thế, tên quận trưởng Robert rất ngoan cố. Y không trực tiếp ra mà ba lần chỉ cử các tên phó chỉ huy quận ra gặp đồng chí Ba Danh với ý định cố kéo dài thời gian để tìm cách chống đối đến cùng và lợi dụng đêm tối tìm đường tẩu thoát.

Đồng chí Ba Danh rất bất bình trước thái độ, ngoan cố của y. Nhưng anh vẫn nén giận, không ra lệnh nổ súng. “Sớm muộn hôm nay Robert sẽ phải tự mình ra xin nộp quận. Ta không nên nổ súng vào lúc này, vì chúng ta muốn tới giờ phút chắc chắn cả miền Nam sẽ toàn thắng, đồng đội của mình và cả binh sĩ ngụy cùng là người Việt Nam phải đổ máu để rồi có thêm nhiều bà mẹ Việt Nam phải mất con”. Anh Ba trao đổi chủ định đó của mình với đồng chí Phạm Văn Chữ, Huyện đội trưởng.

Tiếp đó bằng giọng nói đanh thép qua vô tuyến điện, anh cảnh báo Robert khi nghe y xin khất ít giờ nữa để y hỏi ý kiến cấp trên: “Robert hãy nghe đây! Các anh không phải hỏi ý kiến ai cả. Tỉnh trưởng Trà Vinh Nguyễn Văn Sơn và Tổng thống Dương Văn Minh của các anh đã đầu hàng. Các anh chỉ còn một con đường là giao nạp quận cho chúng tôi, nếu không muốn mất mạng. Đừng để chúng tôi phải nổ súng và dẫn đến máu của binh sĩ các anh phải đổ vào lúc này. Nếu thế tội của các anh, nhất là Robert với cách mạng và nhân dân sẽ càng lớn không có gì chuộc nổi”.

Đến lúc này, y đành đích thân ra gặp đồng chí Ba Danh. Theo sau Robert là ba tên phó chỉ huy quận, trong đó có tên Cường đại úy ác ôn, kẻ đã tác động mạnh để Robert quyết tâm cố thủ, không đầu hàng. Từ sáng mới biết và hình dung ra tướng mạo người đứng đầu lực lượng cách mạng của Cầu Kè qua giọng nói vừa đầy uy lực vừa rất thu phục nhân tâm của ông “Số Một”, Robert đã rất nể trọng. Bây giờ ra gặp, thấy rõ vóc dáng, diện mạo cao lớn, oai nghiêm, đĩnh đạc của đồng chí Ba Danh cùng phía sau anh là các chiến sĩ quân Giải phóng và nhân dân cũng đang ở thế thượng phong, khí thế cách mạng đang trào lên như sóng biển, lập tức ánh mắt của Robert và 3 tên quận phó liền cụp xuống, ý chí kháng cự cuối cùng bỗng tiêu tan. Giọng y ấp úng vẻ muốn thanh minh:

– Dạ thưa ông “Số Một”! Xin ông hiểu cho, chúng tôi không cố ý chống cự lại các ông đến cùng. Chỉ định kéo dài thời gian lại một chút để tránh những khó khăn về cuộc sống của anh em binh sĩ mà chúng tôi không thể giải quyết được, nếu nạp quận sớm.

– Dạ thưa các ông! – tên Cường quận phó tiếp lời Robert. Vì cuối tháng hết lương rồi, tối nay binh sĩ của chúng tôi không còn gì để ăn. Trao quận lại ngay cho các ông, họ sẽ tràn ra kiếm ăn làm loạn quanh đây. Lại còn ngủ nữa, trao quân sớm cho các ông, đêm nay họ không biết ngủ ở đâu?

– Nếu đúng chỉ vì thế thì chúng tôi sẽ tháo gỡ ngay băn khoăn đó cho các người và giải quyết ngay tại đây. Ngay bây giờ sĩ quan và binh sĩ của các người sẽ có cơm ăn, chỗ ngủ ở vị trí này.

– Dạ thưa các ông. Điều tôi muốn nói lúc này, là rất cảm phục các ông, nhất là ông “Số Một”. ông là một vị chỉ huy tài ba, kiên quyết, nhưng lại rất khoan dung, nhân ái nên đã không ra lệnh nổ súng. Nếu không, chắc chắn sẽ phải thêm bao máu người Việt ta đã đổ ra vô ích và bản thân tôi cũng khó toàn tính mạng.

Nói xong Robert liền xin phép đồng chí Ba Danh dùng vô tuyến điện thanh khuyến dụ và ra lệnh cho quân sĩ toàn chi khu nhất loạt ngưng chống cự, ở nguyên vị trí, bỏ súng đầu hàng, trao nộp toàn bộ chi khu và quân lỵ cho quân Giải phóng.

Buông máy vô tuyến điện thanh, Robert đưa mắt về phía ba viên quận phó và cả bốn liền tháo súng ngắn nộp ngay trước mắt ông “Số Một”. Và y nhanh nhảu đích thân đưa đồng chí Ba Danh và đồng chí Phạm Văn Chữ, Huyện đội trưởng vào Sở chỉ huy chi khu để trao nộp nguyên vẹn toàn bộ vũ khí, hồ sơ và cơ sở vật chất cho quân Giải phóng. Lúc này là 19 giờ ngày 30 tháng 4, Cầu Kè đã được hoàn toàn giải phóng.

Điều đáng mừng nhất là ở huyện lỵ, nơi kẻ địch ngoan cố nhất, ta đã tiếp quản trọn vẹn mà không phải đổ máu trong giờ toàn thắng. ở đây, từ Sở chỉ huy chi khu đến trận địa pháo 105 ly và Chi công an cùng các bót vệ tinh còn lại theo lệnh của ta, quân sĩ của Robert đã xếp súng đạn thành từng đống gọn gàng rồi ngồi gom sang một bên để từng tên chỉ huy các bộ phận báo cáo số quân đầu hàng và vũ khí trang bị với các sĩ quan của ta. Vũ khí, quân cụ và tất cả các cơ sở vật chất, thiết bị quân sự hầu như còn nguyên vẹn. Riêng trại pháo hai khẩu 105 ly đã không ở trạng thái “mặc áo” bảo quản mà cả hai đều hạ thấp nòng chĩa thẳng vào Sở chỉ huy chi khu, gần 100 viên đạn vàng óng súng đã sắp sẵn lên bệ.

Lý giải hiện trạng này, viên trung úy chỉ huy pháo nói: “Qua theo dõi trên vô tuyến điện, tôi biết thiếu tá quận trưởng Robert đã không chịu sớm ra gặp ông chỉ huy quân Giải phóng, vì muốn kéo dài thời gian để giải thoát trong đêm. Nếu cứ kéo dài như thế, chắc chắn sẽ đổ máu, trong đó tính mạng chúng tôi khó toàn vẹn khi mà cả tỉnh trưởng đến Tổng thống Dương Văn Minh đã đầu hàng cách mạng. Cho nên chúng tôi đã hạ nòng pháo sẵn sàng bắn thẳng vào Sở chỉ huy của ông Robert để tự cứu lấy mình. Cũng còn may cho ông Robert khi những khẩu pháo này không phải nhả đạn lần cuối cùng trong tay chúng tôi”.

Robert lạnh gáy, mặt tái xanh khi nghe viên trung úy pháo binh tường trình lại vì hai nòng pháo đang chĩa thẳng vào Sở chỉ huy chi khu của mình như vậy. Y thầm thốt lên: “Ôi, sự trì hoãn của mình đâu chỉ có nguy hiểm với Robert này từ phía quân Giải phóng…”. Nhưng rồi sắc thái trên gương mặt của y liền thay đổi và tỏ ra rất xúc động trước một cảnh tượng rất lạ và thú vị đang diễn ra mà Robert có giàu trí tưởng tượng cũng chưa thấy bao giờ.

Đấy là cảnh tượng khắp trong các doanh trại có quân của hai bên đến bữa ăn đã chia làm hai khu vực liền nhau, một bên là các chiến sĩ quân Giải phóng, một bên là binh sĩ ngụy Sài Gòn. Cả hai cùng ăn chung một tiêu chuẩn bằng lương thực, thực phẩm của Huyện đội Cầu Kè xuất ra. Và ngủ cũng tương tự. Nửa khu doanh trại là các chiến sĩ của ta, nửa bên kia là binh sĩ của Robert khi súng đạn của họ mới nộp vừa đó đã được bỏ kho khóa lại.

Nhìn hình ảnh độc đáo đó, Robert không ngờ rằng cái lý do khó khăn nhất của mình ra để thanh minh với ông “Số Một” lại được ông giải quyết lẹ làng và quá ư ngoạn mục như vậy.

Y đã thực sự xúc động với ông “Số Một” khi được đồng chí thả cho y cùng toàn bộ sĩ quan binh sĩ ngụy ở Cầu Kè về với gia đình(1). “Thưa ông! Tôi đã đọc nhiều chuyện viết về chiến tranh cả ở châu Á và châu Âu. Nhưng chưa bao giờ thấy chuyện, cả binh sĩ hai bên cùng ăn, cùng ngủ ở doanh trại mà chính ông là tác giả như tối hôm qua. Chỉ việc ông kiềm chế không ra lệnh nổ súng đã khiến tôi thực sự thay đổi nhãn quan khi nhìn về phía các ông.

Với hơn một triệu quân chính quy, trước đó còn có cả nửa triệu quân Mỹ được trang bị rất hiện đại, rõ ràng về thực lực quân sự, quân đội Sài Gòn chúng tôi hơn hẳn các ông. Nhưng chúng tôi đã không tránh khỏi thất bại thảm hại là điều đương nhiên. Bởi các ông đã chiến thắng bằng yếu tố mà Việt Nam Cộng hòa không có, trong đó có yếu tố lớn là lòng nhân ái như ở Cầu Kè hôm nay”. Đáp lại, đồng chí Bí thư Huyện ủy, Chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang cách mạng của Cầu Kè bảo Robert đứng thẳng người lên và chìa bàn tay về phía anh ta.

HÀ BÌNH NHƯỠNG

(1) Đợt Tổng tấn công tháng 4-1975, trừ những sĩ quan cao cấp đặc biệt và những tên ác ôn có hành động chống đối hiện hành, ta mới tạm giữ, còn đã thả toàn bộ về với gia đình. Sau đó tổ chức cho họ ra trình diện và cho các sĩ quan Saigon cũ đi cải tạo với thời gian tùy theo từng cấp, từng người.

Cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo: Linh hồn của chiến dịch Tây Nguyên

LTS: Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh: Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (ảnh) là Tư lệnh chiến dịch và Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp là Chính ủy chiến dịch.

Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) chỉ trong 55 ngày.

Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây Nguyên.

Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận”.

Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.

Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku – Kon Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam Bắc (tức Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh: “Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.

Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ, những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập tắt.

Ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này ngay tại thị xã Tuy Hòa.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà giáo nhân dân, Giáo sư – cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.

Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên – nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

LÊ VĂN HIẾU

SGGP Online

Đập tan tuyến phòng thủ ngoại vi Sài Gòn

Ở hướng Đông, sáng sớm ngày 29-4, Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 nhanh chóng đánh chiếm chi khu Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, Cát Lái. Sau khi chiếm được Nhơn Trạch, ta đã thành lập trận địa pháo 130mm bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và các cứ điểm khác.

Xe tăng quân giải phóng tiến vào cổng dinh Độc Lập.

Quân đoàn 2 tiến tới Đông Bắc cầu sông Buông, ra đường 15, tiến về nội đô Sài Gòn. Sư đoàn 304 sau khi giải quyết xong tại khu vực ngã ba đường 15 và khu vực cầu sông Buông, nhanh chóng đánh vào khu căn cứ Long Bình.

Khoảng nửa đêm 29-4, tiểu đoàn 1, lữ đoàn xe tăng 203 dẫn đầu đội hình đã đến cầu Xa lộ trên sông Đồng Nai, bắt được liên lạc với trung đoàn 116 đặc công đang giữ cầu.

Cùng ở hướng Đông, sáng 29-4 Sư đoàn 341 Quân đoàn 4 và Sư đoàn 6 bộ binh Quân khu 7 cơ động vòng qua Hố Nai, đánh vào Biên Hòa. Địch tại Biên Hòa chống cự quyết liệt. Đến tối 29-4, Quân đoàn 4 vẫn chưa vượt qua được thị xã Biên Hòa.

Trên hướng Bắc, Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 tiến công căn cứ Phú Lợi. Trung đoàn 209 Sư đoàn 312 chốt chặn trên đường 13 và liên tỉnh lộ 14 diệt cánh quân địch từ Lai Khê, Bến Cát chạy về Bình Dương. Bị ta chặn đánh hầu hết Sư đoàn 5 ngụy đều phải quay về vị trí cũ. Quân ta đánh chiếm chi khu Tân Uyên, căn cứ Lái Thiêu, mở đường tiến xuống Gò Vấp.

Ở hướng Tây Bắc, Sư đoàn 320 A được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng, một tiểu đoàn pháo và trung đoàn phòng không tấn công căn cứ Đồng Dù (Củ Chi). Đến 11 giờ ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồng Dù, đánh tan Sư đoàn 25 ngụy, diệt trên 500 tên, bắt sống 2.269 tên, thu gần 5.000 khẩu súng các loại, 2 máy bay, 423 xe quân sự.

Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 25 ngụy chạy trốn bị du kích Củ Chi bắt sống. Sư đoàn 25 ngụy bị tiêu diệt, lực lượng chủ yếu phòng thủ tại cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn bị tiêu diệt. Ta giải phóng Tây Ninh và huyện Củ Chi. Quân ta vượt qua Hóc Môn, tấn công địch tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung, tiến thẳng xuống Bà Quẹo, đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất.

Hướng Tây và Tây Nam, Sư đoàn 3 Đoàn 232 giải phóng thị xã Hậu Nghĩa. Trong khi đó, bộ đội đặc công phối hợp lực lượng địa phương đánh lui địch phản kích, chiếm chi khu Tân Túc, Tân Hòa, căn cứ ra đa Phú Lâm, đánh chặn tàn quân địch chạy về nội thành.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Bao vây Sài Gòn

Sau một ngày tấn công quyết liệt nhưng gặp sự kháng cự khá mạnh của địch tại căn cứ Nước Trong, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 chỉ đạo Sư 304 thay đổi cách đánh vỗ mặt bằng cách cho xe tăng đánh vào cạnh sườn và sau lưng địch. Thế trận bị vỡ, đến 17 giờ ngày 28-4, toàn bộ quân địch tại căn cứ Nước Trong bị tiêu diệt.

Ngày 28-4, pháo của ta từ Hiếu Liêm bắn dữ dội vào sân bay Biên Hòa, địch phải di tản máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất. Cùng thời điểm này, quân ta tấn công quyết liệt vào cụm phòng thủ của địch tại Hố Nai. Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy bỏ Biên Hòa chạy về Gò Vấp.

15 giờ 40 phút cùng ngày, phi đội Quyết Thắng gồm 5 máy bay A37 (tịch thu của địch) do phi công Nguyễn Văn Lục chỉ huy, phi công Nguyễn Thành Trung (người đã bỏ bom Dinh Độc Lập ngày 8-4) dẫn đường đã cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) bay về đánh bom sân bay Tân Sơn Nhất.

Phi đội đã ném bom chính xác vào khu vực để máy bay ở sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 24 máy bay, diệt 200 binh lính và nhân viên ngụy trực chiến ở sân bay. Tiếng bom nổ làm rung chuyển cả Sài Gòn và báo hiệu sắp đến giờ chấm dứt của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Đến chiều 28-4, ta đã phá vỡ các khu vực phòng thủ bên ngoài của địch, cắt đứt đường số 4, tăng cường vây ép Sài Gòn trên các hướng. Cũng vào thời điểm này, tổng thống ngụy Trần Văn Hương mới lên chức có 7 ngày đã phải nhường ghế cho Dương Văn Minh.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

5 đoàn quân chủ lực quyết hạ 5 mục tiêu

Ngày 25-4-1975: Các đoàn quân của ta tiến vào các điểm tập kết bao vây Sài Gòn theo quyết định của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Nhiệm vụ của 5 cánh quân chủ lực đánh chiếm 5 mục tiêu chủ yếu là những cơ quan đầu não quan trọng nhất của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn – vốn là những bộ phận chính trong guồng máy chiến tranh và kìm kẹp nhân dân miền Nam, do Mỹ điều khiển.

* Dinh Độc Lập: Từ hướng Đông-Nam, Quân đoàn 2- “Binh đoàn Hương Giang” (Sư đoàn 304, 325 phối hợp Sư đoàn 3/QK 5) cùng đặc công vùng ven và thị xã Vũng Tàu đặt pháo ở Nhơn Trạch bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, tấn công phát triển mũi nhọn sang Cần Giờ, chiếm quận 9, quận 4, phối hợp đánh chiếm Dinh Độc Lập.

Từ hướng Đông, Quân đoàn 4 – “Binh đoàn Cửu Long” từ Biên Hòa- Hố Nai, chọc thẳng vào Sài Gòn, đánh chiếm mục tiêu này, chiếm lĩnh quận 1, 2, 3 và các mục tiêu như Căn cứ Hải quân, Bộ Quốc phòng ngụy, Đài Phát thanh…

* Bộ Tổng Tham mưu ngụy: Do Quân đoàn 1 – “Binh đoàn Quyết Thắng” (Sư đoàn 320 B, 312), tăng cường thêm Trung đoàn 95 B, một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn xe tăng, một trung đoàn cao xạ tự hành, được pháo binh, cao xạ và tên lửa chi viện, phối hợp lực lượng địa phương Bình Phước, Bình Dương và một trung đoàn đặc công vùng ven tấn công theo hướng Bắc. Ngoài ra còn có nhiệm vụ tấn công chiếm Bộ Tư lệnh chỉ huy ngụy tại Gò Vấp, Bình Thạnh, hợp điểm tại Dinh Độc Lập.

* Sân bay Tân Sơn Nhất: Do Quân đoàn 3 – “Binh đoàn Tây Nguyên” (Sư đoàn 316, 320 A, 10) cùng lực lượng địa phương tại Tây Ninh, Củ Chi, hai Trung đoàn Gia Định, các tiểu đoàn của Thành Đội Sài Gòn và các đơn vị đặc công biệt động, được pháo binh, cao xạ chiến dịch chi viện, tấn công theo hướng Tây-Bắc, đảm nhận nhiệm vụ tấn công. Chia các mũi để hợp điểm tại Dinh Độc Lập; chiếm lĩnh Tân Bình, Phú Nhuận.

* Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô: Từ hướng Tây-Nam, Đoàn 232 (Sư đoàn 3, 5, 9 và 4 trung đoàn độc lập, 1 trung đoàn đặc công) tăng cường thêm tiểu đoàn tăng T54, tiểu đoàn PT85, tiểu đoàn pháo 130mm, 1 trung đoàn và 5 tiểu đoàn pháo cao xạ hiệp đồng với Sư đoàn 8 đảm trách. Sau khi đánh Bộ Tư lệnh ngụy, sẽ có một bộ phận hợp điểm tại Dinh Độc Lập.

* Tổng nha Cảnh sát ngụy: Đoàn 232 tổ chức lực lượng cấp sư đoàn và hỏa lực mang vác, thọc vào đánh chiếm cầu Nhị Thiên Đường, có bộ phận hợp điểm tại Dinh Độc Lập. Sau đó chiếm lĩnh quận 5, 6, 8, 10, 11 và huyện Bình Chánh.

SGGP Online

Giải phóng thị xã Bà Rịa và tỉnh Phước Tuy

Đến trưa 27-4-1975, lực lượng Quân đoàn 2 cùng bộ đội địa phương đã giải phóng thị xã Bà Rịa và toàn tỉnh Phước Tuy. Trong khi đó, hướng tấn công vào Nước Trong tiếp tục căng thẳng. Địch chống cự quyết liệt với sự trợ giúp của máy bay.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Trên đường số 1, vào lúc 10 giờ ngày 27-4 ta đã đập tan khu vực phòng ngự của địch, làm chủ chi khu Trảng Bom do Sư đoàn 18 bộ binh và Trung đoàn 5 thiết giáp ngụy chiếm giữ. Tàn binh địch chạy về đến Suối Đỉa bị Trung đoàn 270 tiêu diệt và bắt 2.000 tên. Sư đoàn 18 ngụy bị đánh thiệt hại nặng.

Tại vùng ven Sài Gòn, bộ đội đặc công- biệt động nhanh chóng đánh chiếm các cầu qua sông, chuẩn bị cho các binh đoàn tiến vào thành phố. Đây là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi không phải đánh chiếm mà còn phải bám trụ đánh địch phản kích, giữ bằng được các cầu trên hướng tiến quân.

Ngày 27-4 Trung đoàn 113 đặc công đánh chiếm cầu Rạch Chiếc, cầu Rạch Cát. Trung đoàn 115 đặc công cùng với một tiểu đoàn của Trung đoàn Gia Định chiếm cầu Bình Phước, làm chủ xa lộ Đại Hàn đoạn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre. Trung đoàn 116 chiếm cầu xa lộ Biên Hòa. Các trận chiến đấu, chiếm và giữ các cầu vào thành phố diễn ra hết sức quyết liệt. Địch liên tục phản kích hòng tái chiếm cầu.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Bắt đầu tổng công kích vào Sài Gòn

Đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, trận tổng công kích vào Sài Gòn bắt đầu. Trên hướng Đông- Đông Nam, gần 20 tiểu đoàn pháo binh của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 đồng loạt nổ súng, dội bão lửa vào khu vực Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành, Đức Thạnh, Bà Rịa.

Sư đoàn 325 tiến công chi khu Long Thành, nhanh chóng tiêu diệt 3 tiểu đoàn địch, bắt sống 500 tên. Sau đó, sư đoàn 325 vượt đường 15, giải phóng Phước Tường, bao vây Long Tân.

Sư đoàn 3 Quân khu 5 dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 nhanh chóng đánh chiếm quận lỵ Đức Thạnh và thị xã Bà Rịa. Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương Phước Tuy tiến công giải phóng các huyện Xuyên Mộc, Đất Đỏ.

Sư đoàn 304 tấn công căn cứ Nước Trong, trường thiết giáp, trường bộ binh của ngụy. Địch nơi đây gồm học viên 2 trường cùng lữ đoàn 468 lính thủy đánh bộ, trung đoàn 318 thiết giáp kháng cự quyết liệt. Hàng trăm lượt máy bay địch ném bom vào đội hình ta. Sư đoàn 341- Sông Lam tấn công khu vực phòng thủ của địch tại chi khu Trảng Bom.

Trên hướng Nam và Tây Nam, Sư đoàn 5 Đoàn 232 đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 22 ngụy, nhanh chóng làm chủ đường số 4 đoạn từ Bến Lức đi Tân An. Sư đoàn 8 Quân khu 8 và lực lượng công binh quân khu cùng bộ đội địa phương, du kích đánh chiếm ngã ba Trung Lương đi Tân Hiệp, Long Định và làm chủ đường số 4 đoạn Cai Lậy đi An Hữu.

Đường số 4, con đường huyết mạch nối Sài Gòn và ĐBSCL hoàn toàn bị cắt đứt. Cùng thời gian này, Sư đoàn 3 đánh chiếm đầu cầu ở An Ninh, Lộc Giang trên sông Vàm Cỏ, bảo đảm cho Sư đoàn 9 và lực lượng binh khí kỹ thuật vượt sông Vàm Cỏ Đông sang chiếm khu vực Tây Vĩnh Lộc và Mỹ Hạnh. Trung đoàn 24 và Trung đoàn 28 đánh địch, mở rộng hành lang, phát triển lên phía Bắc.

Ở hướng Bắc, Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 và bộ đội địa phương Bình Dương phá hủy một số trận địa pháo của địch, làm chủ một đoạn đường 16, bao vây căn cứ Phú Lợi, làm chủ khu vực phía Bắc thị xã Thủ Dầu Một không cho Sư đoàn 5 ngụy co cụm về Sài Gòn.

Ở hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 tập trung hỏa lực pháo binh tiêu diệt 11 trong số 18 trận địa pháo của địch. Sư đoàn 316 chốt chặn dọc đường số 1 và đường 22, kiềm chế sư đoàn bộ binh 25 ngụy, không cho chúng rút từ Tây Ninh về Đồng Dù và Hóc Môn.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Chuẩn bị cho giờ G

Đêm 25-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu lên máy bay bỏ chạy sang Đài Loan. Ngụy quân và ngụy quyền càng nháo nhào tìm đường tháo chạy. Dù vậy, địch vẫn mơ màng tìm giải pháp chính trị đối với ta hầu tìm ngừng bắn. Đại sứ Mỹ Martin và những nhân vật ngoại giao phương Tây khác hoạt động tấp nập ở hậu trường sân khấu chính trị Sài Gòn. Nhiều sức ép – kể cả của Mỹ – đòi Trần Văn Hương từ chức tổng thống để đưa Dương Văn Minh lên nắm quyền.

Xe tăng quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập.

Chiều 25-4, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng một số máy bay A 37 mới chiếm của địch để đánh phá sân bay Tân Sơn Nhất, làm rối loạn tinh thần chiến đấu của địch. Ngày tấn công đã được xác định là 28-4-1975.

Đến thời điểm này các cánh quân tiến về Sài Gòn và lực lượng tại chỗ nội thành Sài Gòn đã chuẩn bị cho giờ G nổ súng: 26-4-1975.

Chỉ thị về công tác chính trị của Bộ Tư lệnh chiến dịch được đưa đến toàn thể cán bộ chiến sĩ. Nội dung cơ bản của chỉ thị là quán triệt quyết tâm của Trung ương Đảng, ý nghĩa lịch sử chiến dịch, phương châm chỉ đạo và cách đánh, xây dựng tinh thần đoàn kết hiệp đồng giữa các đơn vị, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ chiến dịch, lập thành tích chào mừng ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phương án thực hiện chiến dịch như sau: các đơn vị thực hiện bao vây, chia cắt chặn giữ quân địch tại chỗ không cho địch tiến về Sài Gòn, thoát về ĐBSCL hoặc ra biển; tiêu diệt và làm tan rã các đơn vị chủ lực địch ở vùng ngoài, chiếm các vị trí để đưa các đơn vị đột kích vào nội đô.

Không đánh theo kiểu bóc vỏ từ ngoài vào mà bỏ qua các cụm cứ điểm mạnh của địch ở Tây Ninh, Lai Khê, Phước Vĩnh… đánh thẳng vào các căn cứ tuyến hai nơi địch phòng thủ yếu hơn; chỉ đánh vào cụm cứ điểm khi thật cần thiết. Bộ đội địa phương, đặc công biệt động… nhanh chóng chiếm các đầu cầu, vị trí trọng yếu tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực đánh vào các cứ điểm của nội thành…

Bên cạnh đòn quân sự, Bộ chỉ huy chiến dịch còn xây dựng một kế hoạch nổi dậy của quần chúng làm chủ các phường, khóm, đường phố, công sở… Trước ngày nổ súng, ta công bố chính sách khoan hồng của cách mạng đối với tù binh và hàng binh, nhằm lôi kéo một bộ phận lính ngụy buông súng, giảm bớt sự đối kháng, tạo điều kiện cho những người lầm đường lạc lối về với nhân dân.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

5 cánh quân nhận nhiệm vụ đánh vào sào huyệt địch

Đến ngày 24-4-1975, các đơn vị phía Bắc di chuyển vào đã đến nơi tập kết. Trước đó từ ngày 20-4, các cánh quân lần lượt đến sở chỉ huy chiến dịch nhận nhiệm vụ mục tiêu từng hướng.

Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 do thiếu tướng Vũ Lăng làm tư lệnh, đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính ủy. Ngoài ra còn có 2 trung đoàn Gia Định (1 và 2), các đội đặc công- biệït động của Thành đội Sài Gòn và được sự chi viện của pháo binh và phòng không chiến dịch.

Lực lượng này có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và cùng với Quân đoàn 1 chiếm bộ tổng tham mưu ngụy.

Hướng Bắc và Đông Bắc, Quân đoàn 1 do thiếu tướng Nguyễn Hòa làm tư lệnh, thiếu tướng Hoàng Minh Thi làm chính ủy, có tăng cường Trung đoàn 95 bộ binh (Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) và một trung đoàn cao xạ tự hành, có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, tiêu diệt sư đoàn 5 ngụy, tiếp đó đánh chiếm bộ tổng tham mưu và căn cứ bộ tư lệnh các binh chủng ngụy tại Gò Vấp.

Hướng Đông và hướng Đông Nam có hai quân đoàn 4 và 2. Quân đoàn 4 do thiếu tướng Hoàng Cầm làm tư lệnh, thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm chính ủy, tăng cường Lữ đoàn 52 (Quân khu 5), một tiểu đoàn pháo 130 ly, 3 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp, một tiểu đoàn cao xạ hỗn hợp. Quân đoàn 4 có nhiệm vụ tiêu diệt sở chỉ huy bộ tư lệnh Quân đoàn 3 Sư đoàn 18 ngụy tại Biên Hòa, sau đó thọc sâu vào nội thành chiếm Dinh Độc Lập.

Quân đoàn 2 do thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm tư lệnh và thiếu tướng Lê Linh làm chính ủy. Quân đoàn 2 có nhiệm vụ đánh chiếm Bà Rịa, Nước Trong, Long Bình, chặn sông Lòng Tàu, sau đó phát triển vào nội thành, cùng Quân đoàn 4 chiếm Dinh Độc Lập.

Hướng Tây và Tây Nam, Đoàn 232 do trung tướng Lê Đức Anh làm tư lệnh và thiếu tướng Lê Văn Tưởng làm chính ủy. Đoàn có 3 tiểu đoàn xe tăng, một đại đội thiết giáp, một tiểu đoàn pháo 130 ly, một trung đoàn, năm tiểu đoàn pháo cao xạ và bộ đội Quân khu 8. Lực lượng này có nhiệm vụ tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy, cắt đứt đường số 4, sau đó thọc sâu đánh biệt khu thủ đô ngụy và tổng nha cảnh sát.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

Bộ Chính trị chỉ đạo: Thời cơ mở cuộc tổng tấn công đã chín muồi

Sáng 22-4-1975, Bộ Chính trị đã họp nghe Quân ủy Trung ương báo cáo về tình hình mặt trận và kế hoạch tác chiến của ta. Bộ Chính trị đã nhận định: “Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch đã không thể hiện ý đồ cố thủ Sài Gòn, mà giữ cho được hành lang đường số 4 từ Sài Gòn về Cần Thơ.

Mỹ ngụy đã lập chính phủ mới, đưa ra với ta đề nghị ngừng bắn, đi đến giải pháp chính trị, hòng cứu vãn tình thế thất bại hoàn toàn của chúng. Tất cả tình hình nói trên đang gây rối loạn lớn trong ngụy quân, ngụy quyền. Phong trào quần chúng nhân dân có thể có bước phát triển mới.

Thời cơ để mở cuộc tổng tấn công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị”.

Trong ngày này, Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh duyệt lại lần cuối cùng kế hoạch chính thức của chiến dịch Hồ Chí Minh. Ta sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn từ năm hướng: Tây Bắc, Bắc-Đông Bắc, Đông-Đông Nam, Tây và Tây-Tây Nam.

Để thực hiện đánh nhanh, tiêu diệt địch, bảo vệ dân và các cơ sở kinh tế, văn hóa, cách đánh của ta là: thực hiện chia cắt, bao vây tiêu diệt địch phòng thủ ở vòng ngoài, không cho chúng co cụm về nội thành.

Đánh chiếm các cầu lớn mở đường cho các đơn vị đột kích cơ giới mạnh đánh thẳng vào 5 mục tiêu chủ yếu (Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và Dinh Độc Lập). Phối hợp với các quân đoàn là lực lượng đặc công, tự vệ thành phố…

Một kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy phối hợp đòn tiến công quân sự đã được chuẩn bị dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online