Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 5)

Vì sao Mỹ không ủng hộ Nguyễn Cao Kỳ đảo chính?

Sau khi Đà Nẵng thất thủ, một tuần tiếp theo các lực lượng quân đội và chính quyền Sài Gòn tháo chạy khỏi Nha Trang. Đến thời điểm này, tương quan lực lượng đã thay đổi nhanh chóng có lợi cho quân đội Bắc Việt.

Những người cộng sản đã bước lên con đường dẫn đến “thắng lợi hoàn toàn trong thời gian ngắn nhất có thể”. Thắng lợi cuối cùng của họ đã nằm trong tầm với một cách dễ dàng.

Tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ (hàng đầu bên phải) và Trung tướng Ngô Quang Trưởng (trái) Tư lệnh Quân khu 1 trên tàu sân bay Midway của Mỹ

Như vậy, chỉ trong thời gian chưa đầy một tháng, 150.000 binh lính, dân binh của chính quyền Sài Gòn đã bị giải tán, bỏ rơi, hoặc bị tiêu diệt. Trong đó, 16.000 lính chính qui quân đội Sài Gòn tháo chạy khỏi quân khu 1.

Ngoài ra, trong số 2 sư đoàn ở quân khu 2, chỉ còn lại hai trung đoàn và một lữ đoàn không vận đóng quân ở phía Tây Nha Trang là còn đủ sức chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn 15 tỉnh của chính quyền Sài Gòn đã lọt vào tay quân giải phóng cùng với vũ khí, thiết bị quân sự trị giá 1 tỷ USD bị phá hủy hoặc từ bỏ.

Trong số vũ khí, thiết bị chiến tranh này có gần 200 chiếc máy bay các loại bao gồm cả 12 chiếc máy bay chiến đấu F–5 còn nguyên trong hộp xốp. Bộ máy tình báo của chính quyền Sài Gòn tại các Quân khu 1 và 2 hoàn toàn bị xóa sổ.

Phía bên kia chiến tuyến, Bắc Việt có hơn 300.000 quân đã hoặc sắp di chuyển vào miền Nam để chuẩn bị cho trận tấn công cuối cùng. Đến đầu tháng 4/1975 ít nhất 18 sư đoàn của quân đội Bắc Việt đã tham chiến, 5 sư đoàn khác đang trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh vào Nam tăng cường.

Chỉ riêng trong tháng 4/1975, quân đội Bắc Việt đã tung vào chiến dịch này tổng cộng khoảng 30.000 quân chính qui các loại. Báo cáo đánh giá tình hình của CIA tại Sài Gòn gửi về Washington cho rằng tương quan lực lượng bộ binh giữa quân đội Sài Gòn và lực lượng cộng sản lúc này là 1 chọi 4, lợi thế nghiêng về phía quân đội Bắc Việt.

Khi xây dựng chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi”, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu hy vọng lập được phòng tuyến phòng vệ vòng ngoài mở rộng từ Tây Ninh ở phía tây đến Nha Trang vùng duyên hải. Nhưng giờ đây khi quân đội Bắc Việt đã phá vỡ phòng tuyến này, thâm nhập sâu được vào Quân khu 2 thì rõ ràng chiến lược nói trên của Thiệu cần phải điều chỉnh.

Tướng Mỹ Weyand được giao nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề này giúp Thiệu. Weyand gợi ý rằng cần phải xây dựng một phòng tuyến mới mở rộng từ Xuân Lộc đến Phan Rang để bảo vệ Sài Gòn. Tổng thống Thiệu đang bí, không có sự lựa chọn nào tốt hơn bèn đồng ý ngay với đề nghị của tướng Weyand.

Ngày 3/4/1975, tại một cuộc họp với Đại sứ G.Martin và một số tướng Mỹ trong đó có Weyand, Nguyễn Văn Thiệu đề nghị Mỹ cho máy bay B – 52 ném bom để chặn đường tiến quân của đối phương vào Sài Gòn. Cố vấn hậu cần Von Marbod trả lời ngay rằng điều này không thể được.

Sự phản ứng này của phía Mỹ khiến Thiệu rất ngạc nhiên như bị dội một gáo nước lạnh. Von Marbod cảm nhận được điều thất vọng này trên mặt Thiệu bèn nói thêm: Tuy nhiên, phía Mỹ có thể cung cấp cho quân đội Sài Gòn các loại vũ khí tối tân khác như bom phát quang “Daisy Cutter” và bom chùm CBU nhằm tăng cường sức mạnh cho không lực Việt Nam cộng hòa.

Triển khai kế hoạch này, Nguyễn Văn Thiệu giao cho tướng Nguyễn Văn Toàn – Tư lệnh Quân khu 3 chịu trách nhiệm bảo vệ Phan Rang. Tướng Toàn liền chỉ thị cho tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (bạn thân của Toàn, và là cựu Tư lệnh Quân khu 4 mới bị cách chức vì tham nhũng) xây dựng các căn cứ có sự tham gia của sư đoàn không vận.

Tướng Toàn cũng triển khai một lữ đoàn xe bọc thép cùng vài đơn vị biệt kích ở khu vực tây Quân khu 3 để tăng cường cho Sư đoàn 18 tại cửa ngõ then chốt Xuân Lộc…

Vào thời điểm này để cứu vãn tình hình Mỹ muốn thấy một cuộc cải tổ trong Nội các Nguyễn Văn Thiệu. Không phải nhằm loại bỏ Thiệu mà là mở rộng Nội các để đưa vào Chính phủ một số nhân vật ôn hòa, thậm chí có thể bao gồm một số nhân vật đối lập không cộng sản nhưng vô hại.

Mục đích là để trong trường hợp phải thương lượng với cộng sản thì đã có một lực lượng chính trị đứng sau chính phủ. Hai sĩ quan CIA Shackey và Caver được giao nhiệm vụ thăm dò quan điểm của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, người luôn tỏ ra ủng hộ Mỹ trong mọi trường hợp.

Lần này Khiêm cũng đồng ý hoàn toàn với các cố vấn Mỹ về việc cải tổ mở rộng nội các. Khiêm tới gặp Tổng thống Thiệu nói rằng trong khi lực lượng quân sự của chính quyền Sài Gòn còn tương đối mạnh đủ để mặc cả với đối phương thì nên chủ động đề nghị với phía Hà Nội một giải pháp hòa bình. Thiệu chưa hiểu đầu đuôi ra sao nên lưỡng lự thì Thủ tướng Khiêm dọa sẽ từ chức nếu Tổng thống không tán thành. Cuối cùng Thiệu cũng chấp nhận cải tổ mở rộng nội các.

Trong khi đó, phe đối lập tiếp tục gây sức ép lên chính quyền Thiệu. Một ngày sau khi Nha Trang thất thủ, Thượng viện thông qua với 100% phiếu thuận một nghị quyết kêu gọi thành lập một chính phủ mới. Nguyễn Cao Kỳ cho rằng nếu chỉ kêu gọi như vậy thôi thì vô dụng, ông ta bắt đầu vận động một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Thiệu.

Do phe cánh trong không lực của ông ta không đủ mạnh, Kỳ đi tìm sự ủng hộ thêm của các bạn bè cũ trong quân đội như tướng Lê Minh Đảo – Tư lệnh Sư đoàn 18 bảo vệ Xuân Lộc. Tướng Đảo từ chối tham gia nếu không có sự ủng hộ của Bộ Tổng tham mưu liên quân.

Đến nước này, Nguyễn Cao Kỳ đành phải vận động Tổng tham mưu trưởng liên quân, tướng Cao Văn Viên tham gia. Tướng Kỳ gặp tướng Viên vào giữa trưa, trình bày quan điểm và đề nghị Viên ủng hộ. Tướng Viên tỏ ra thận trọng hứa sẽ trả lời Kỳ trong một vài ngày tới.

Từ giã Kỳ, ngay chiều hôm đó Cao Văn Viên đến gặp Thủ tướng Khiêm thông báo với ông ta nội dung mà Kỳ đã trao đổi. Tổng tham mưu trưởng liên quân đề nghị Thủ tướng cho kiểm tra xem người Mỹ có đứng sau âm mưu đảo chính của Nguyễn Cao Kỳ hay không? Trần Thiện Khiêm liền hỏi Thomas Polgar – Chỉ huy trưởng CIA thì được trả lời một cách rõ ràng là Mỹ không ủng hộ một cuộc đảo chính do Nguyễn Cao Kỳ và cộng sự của ông ta tổ chức. Lý do là cả Nguyễn Cao Kỳ và những người cùng âm mưu làm đảo chính với ông ta chẳng ai có lập trường ôn hòa hoặc trung dung để có thể thương lượng với Hà Nội.

Trong khi đó, từ một nguồn tin ở Học viện quân sự Thủ Đức, em họ của Nguyễn Văn Thiệu là Hoàng Đức Nhã biết việc Kỳ đến vận động tướng Đảo làm đảo chính. Nhã báo điều này cho Tổng thống Thiệu. Ngay hôm sau, Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình quốc gia công bố một cuộc “làm sạch ngôi nhà chính phủ” mà không cần tham khảo Thủ tướng Trần Thiện Khiêm.

Việc làm của Thiệu khiến Khiêm khó chịu liền xin từ chức. Không ngờ Thiệu chấp nhận ngay tức khắc sự từ chức của Khiêm. Trong cuộc cải tổ Nội các của Thiệu, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Bá Cẩn được bổ nhiệm làm Thủ tướng của một chính phủ mới “chiến tranh và liên minh dân tộc”; Phó Thủ tướng Trần Văn Đôn kiêm thêm chức Bộ trưởng Quốc phòng.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 4)

Đại sứ Mỹ Graham Martin và kế hoạch di tản

Ngày 24/6/1973, gần 5 tháng sau khi Hiệp định Paris ký kết, ông Graham Martin tuyên thệ nhậm chức Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn.

Từ trái qua phải: Đại sứ Mỹ G.Martin, tướng Wayane, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, Tổng thống G.Ford

Với chức vụ này, Graham Martin chính thức thay cho ông Bunker quyền Trưởng phái bộ Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã về nước trước đó vài tuần.

Martin sinh ra trong một gia đình cha làm nghề thầy tu rửa tội tại các nhà thờ Cơ đốc giáo ở bang North Carolina, được nuôi dạy theo truyền thống nghiêm khắc của gia đình. Năm 1932, G.Martin tốt nghiệp trường cao đẳng Wake Forest, trở thành phóng viên viết cho một số tờ báo nhỏ địa phương. Năm1933, G.Martin bỏ nghề báo để làm trợ lý cho ông Averell Harriman,Phó Chủ tịch tổ chức bình phục quốc gia. Năm 1947, nhờ ông Harriman giới thiệu, G.Martin được tuyển vào ngành ngoại giao, được bổ nhiệm ngay chức tham tán hành chính trong Đại sứ Quán Mỹ ở Paris cho đến năm 1955. Thời kỳ làm việc tại Paris, G.Martin có điều kiện hiểu về tình hình nước Pháp và Việt Nam, đặc biệt là sau Hiệp định Geneva 1954. Sau nhiệm kỳ ở Pháp, G.Martin trở về Washington D.C, được cử đi học trường Cao đẳng Chiến tranh không quân (Air war College), sau đó làm cố vấn cho phái bộ Mỹ tại Liên Hợp Quốc.

Năm 1963, ông ta được bổ nhiệm làm Đại sứ Mỹ tại Thái Lan. Đây chính là thời kỳ Mỹ bắt đầu lún sâu vào cuộc khủng hoảng chiến tranh Việt Nam. Nhiệm kỳ đại sứ ở Bangkok, G.Martin gặp rất nhiều khó khăn vì phải đấu tranh gay gắt với một phái quân sự trong Đại sứ quán, những người muốn biến Thái Lan thành Việt Nam thứ 2. Nhóm quân sự này muốn Mỹ đưa nhiều quân nhân sang Thái Lan như đã từng làm ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo G.Martin đây là thời gian may mắn nhất trong cuộc đời của ông. Khi đó, ứng cử viên tổng thống Mỹ Richard Nixon trong chuyến công cán châu á ghé thăm Bangkok. Đại sứ G.Martin đã trải thảm đỏ đón Richard Nixon, đối xử với ông ta như một công dân đặc biệt khiến Nixon vô cùng ấn tượng và cảm kích. Nhờ chuyện này mà sau khi trở thành Tổng thống Mỹ, Richard Nixon đã “chơi đẹp” trả ơn G.Martin rất hậu hĩnh.

Năm 1966- năm thứ 3 trong nhiệm kỳ Đại sứ Mỹ ở Bangkok, G.Martin mất một người con trai nuôi tên Glen tại chiến trường miền Nam Việt Nam. Glen là phi công trực thăng bị chết trong một cuộc hành quân ở phía Tây Tây Nguyên khi máy bay trực thăng của anh ta bị bắn hạ. G.Martin nhận tin dữ này khi đang cùng vợ dự bữa tiệc do nhà Vua Thái Lan tổ chức. Ông ta đã cố giữ kín tin buồn với vẻ mặt bình thường đến mức bà Dorothy Martin vợ ông không hay biết gì, vẫn vui vẻ dự tiệc chiêu đãi. Trước đó, người con trai ruột của G.Martin cũng bị chết trong một vụ tai nạn xe hơi ở Mỹ.

Năm 1967, sau một cuộc cãi nhau với Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Dean Rust, G.Martin bị cách chức Đại sứ tại Bangkok. Nhưng chỉ một năm sau, người bạn cũ Richard Nixon trúng cử Tổng thống Mỹ đã phục hồi chức vụ cho G.Martin, đồng thời bổ nhiệm ông làm Đại sứ Mỹ tại Rome. Với quan điểm chống cộng sản, Đại sứ G.Martin đã tổ chức thành công cuộc đảo chính nghị trường lật đổ chính quyền cánh tả Italy năm 1972. Khi đó, trong cuộc bầu cử quốc hội Italy, đại sứ quán Mỹ đã bí mật “bơm” tiền đến hàng ngàn USD cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo để giành chính quyền từ tay những người cộng sản Italy.

Sau nhiệm kỳ ở Rome, G.Martin dự định về nghỉ hưu đã mua một trang trại ở Tuscany. Nhưng giữa năm 1972, Henry Kissinger mời G.Martin làm Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Được tin này, vợ G.Martin không muốn chồng mình sang Việt Nam vì sợ đến nơi mà chính người con nuôi của họ đã thiệt mạng tại đó. Nhưng cuối cùng G.Martin đã đồng ý chức đại sứ Mỹ tại Sài Gòn vì chính H.Kissinger tiến cử và Tổng thống R.Nixon bổ nhiệm.

G.Martin coi cuộc chiến tranh Việt Nam không đơn thuần là cuộc chiến tranh về sự khác biệt ý thức hệ mà đặt cuộc chiến này trong cách nhìn thực dụng toàn cầu về sự cân bằng chiến lược giữa các siêu cường. G.Martin không đánh giá cao Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chỉ gặp người đứng đầu Chính quyền Sài Gòn mỗi tháng tối đa là hai lần.

Đại sứ G.Martin giao nhiệm vụ cho Al Francis – một trong những người tin cậy nhất của ông – chuẩn bị một kế hoạch di tản cho tình huống xấu khẩn cấp. Al Francis, khi đó là Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà Nẵng, đã chuẩn bị một tài liệu 30 trang về các khả năng lựa chọn di tản. Trong đó quan trọng nhất là di tản bằng đường không thực hiện tại sân bay dưới sự bảo vệ của các đơn vị lính thủy quân lục chiến Mỹ. Bản kế hoạch di tản đã bị sửa đi sửa lại nhiều lần. Vào tháng 1/1975, bay về Washington D.C để nghỉ phép Francis không ngờ rằng chỉ vài tháng sau bản kế hoạch di tản của ông ta phát huy tác dụng. Sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Al Francis cho biết, khi vạch kế hoạch ông ta không thể đoán trước hết được mọi điều. Ông ta hoàn toàn không ngờ rằng bản kế hoạch di tản chỉ để dự phòng của mình chẳng bao lâu sau lại được đưa ra áp dụng. Nhưng có điều khác cơ bản với nội dung bản kế hoạch di tản dự thảo là trực thăng Mỹ không chỉ chở người từ sân bay mà là từ nóc tòa nhà làm việc của Đại sứ G.Martin.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
(Lược dịch từ “Decent Interval”)

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 3)

Huế, Đà Nẵng thất thủ không thể cưỡng nổi

Lính Sài Gòn tại quân Khu 1 mang theo gia đình chạy trốn

Sư đoàn 320 quân đội Bắc Việt chặn đánh đoàn xe của tướng Phạm Văn Phú rút lui từ Pleiku về Tuy Hòa, bắt sống được chuẩn tướng Phạm Duy Tất và chiếm được Cheo Reo.

Nhận tin này trung tướng Ngô Quang Trưởng tại quân khu 1 vô cùng bối rối vì chính ông ta cũng đang lún sâu vào khủng hoảng.

Theo lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ngày 17/3 tướng Trưởng buộc phải điều đơn vị đầu tiên của sư đoàn không vận từ căn cứ Phú Bài vào Sài Gòn. Trong vòng 2 tuần, tướng Trưởng phải điều chỉnh kế hoạch quân sự hai lần.

Ưu tiên bảo vệ của ông ta giờ đây đã chuyển từ Huế vào Đà Nẵng vì không còn đủ lực lượng để bảo vệ cả Huế. Theo đó, lữ đoàn thủy quân lục chiến trước đây bảo vệ phía Bắc thành phố Huế nay phải di chuyển về giữ đèo Hải Vân và án ngữ quốc lộ 1 cửa ngõ Đà Nẵng.

Trong khi quân đội Sài Gòn từ bỏ Kontum và Pleiku đồng thời bố trí lại kế hoạch quân sự ở các quân khu 1 và 2 theo hướng bất lợi, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn vẫn không được Chính quyền Thiệu thông báo. Đến chiều 17/3 nhờ một điệp viên CIA trong Nội các Nguyễn Văn Thiệu mới cung cấp cho phía Mỹ các thông tin mật đầu tiên về chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi” của Thiệu.

Điệp viên này cho biết, chủ trương của Tổng thống Thiệu là tăng cường bảo vệ Sài Gòn bằng mọi giá. Do vậy, trong trường hợp đối phương tấn công mạnh, tướng Trưởng được phép rút khỏi Huế để giữ Đà Nẵng. Được tin này, tướng Homer Smith, tùy viên quân sự ĐSQ Mỹ tại Sài Gòn lập tức đến gặp tướng Cao Văn Viên để nói rằng việc rút quân khỏi Pleiku và Kon Tum là một sai lầm lớn có thể dẫn đến thảm họa.

Tướng Smith trách tướng Viên vì sao không thông báo điều này cho phía Mỹ trong cuộc gặp giữa hai ông trước đó một ngày để ít nhất phía Mỹ có thể giúp được về hậu cần. Nghe nói vậy, Tướng Viên cúi gằm mặt xuống nhẫn nhục chịu đựng. Cuối cùng ông ta nói đó là do ý muốn của Tổng thống Thiệu.

Trong khi đó, quân đội Bắc Việt tấn công chiếm hết mục tiêu khác. Sáng 19/3, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cùng vài thành viên Nội các Chính quyền Sài Gòn bay ra các quân khu 1 và 2 thị sát tình hình. Tướng Ngô Quang Trưởng báo cáo các dấu hiệu cho thấy trong thời gian rất gần Huế và Đà Nẵng có thể bị quân đội Bắc Việt đồng loạt tấn công.
Tướng Trưởng cho biết 3 sư đoàn quân đội Bắc Việt đã án ngữ các khu vực gần Huế và Đà Nẵng, có thể một sư đoàn nữa sẽ vượt Quảng Trị để tăng thêm sức ép. Nửa đêm hôm đó, Thủ tướng Khiêm trở về Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu để báo cáo.

Thủ tướng Khiêm đề nghị Thiệu cho rút lui khỏi Huế để tập trung lực lượng về bảo vệ Đà Nẵng. Đồng thời ông Khiêm đề nghị tìm người thay tướng Phạm Văn Phú. Thiệu không chấp nhận đề nghị của Thủ tướng Khiêm về việc thay tướng Phú vì không tìm được người tương xứng, cũng không đồng ý rút quân khỏi Huế vì ông ta đã chỉ thị phải bảo vệ Huế bằng mọi giá.

Thủ tướng Khiêm bị sốc trước thái độ này của Thiệu. Vì trước đó vài ngày, chính Tổng thống đã nói với tướng Ngô Quang Trưởng rằng về mặt chiến lược Huế không quan trọng bằng Đà Nẵng và tư lệnh quân khu 1 đã làm theo lời ông ta điều chỉnh lại kế hoạch. Nay bất ngờ Tổng thống Thiệu thay đổi ngược lại khác nào quay ngược kim đồng hồ.

Khi đoàn xe tăng của quân đội Bắc Việt ào ạt vượt qua cầu Thạch Hãn ở Quảng Trị tiến về phía Huế, tướng Trưởng vội bay vào Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu báo cáo tình hình đang diễn biến ngày càng xấu. Thiệu lắng nghe một cách kiên nhẫn, cuối cùng thừa nhận đã đòi hỏi quá nhiều.

Việc bảo vệ Huế giờ đây không quan trọng bằng sự bảo toàn lực lượng sư đoàn 1. Thiệu cho phép tướng Trưởng giữ Huế được lâu chừng nào tốt chừng đó cốt để cho sư đoàn 1 đủ thời gian rút vào bảo vệ Đà Nẵng. Việc rút quân có thể bằng đường bộ hoặc đường biển. Tuỳ tướng Trưởng quyết định thời điểm nào thì chịu mất Huế.

Ngay đêm hôm gặp tướng Trưởng, Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình quốc gia đọc một bài diễn văn dài 4 phút, thừa nhận đã “mất” Ban Mê Thuột nhưng không đả động gì đến tình hình ở Huế và Đà Nẵng. Tổng thống Thiệu cho biết quân đội Bắc Việt mới điều thêm vào miền Nam 5 sư đoàn để bổ sung cho 13 sư đoàn của họ có sẵn.

Sáng hôm sau, Ngô Quang Trưởng từ Đà Nẵng điện thoại cho Thiệu đề nghị không cho truyền hình quốc gia phát vội băng video đã ghi sẵn lời tuyên bố của Trưởng thề thà chết để bảo vệ thành phố Huế. Tướng Trưởng đề nghị băng video đó chỉ được phát vào thời điểm mà ông ta điện về xác nhận là thích hợp.

Mặc dù đã đồng ý đề nghị này của Ngô Quang Trưởng 8 giờ tối hôm sau, Tổng thống thiệu vẫn cho phát băng video đó trên truyền hình quốc gia. Khán giả màn ảnh nhỏ thấy Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh quân khu 1 thề rằng bản thân và đơn vị của ông ta sẽ bảo vệ Huế đến người cuối cùng. Trong khi đó, các đơn vị quân đội Bắc Việt tấn công tổng lực dồn dập vào thành phố Huế.

Sáng 24/3 toàn bộ sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn vứt bỏ vũ khí, cùng gia đình ra bãi biển để lên tàu thuyền chạy vào Đà Nẵng. Sáng 25/3, Chính quyền Sài Gòn công bố Huế thất thủ. Vài giờ sau, Tổng thống Thiệu thay một loạt bộ trưởng, tướng lĩnh chỉ giữ lại những người tin cậy nhất của ông ta như Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Tướng Cao Văn Viên…

Làn sóng người di tản từ Huế chạy vào Đà Nẵng làm tình hình thêm rối trong lúc quân đội Bắc Việt ngày một tăng cường hỏa lực vào thành phố lớn nhất miền Trung này khiến cho Đà Nẵng không thể cưỡng nổi sự sụp đổ. Ngày Chủ nhật 30/3, Phó Thủ tướng Chính quyền Sài Gòn Phan Quang Dân chính thức thừa nhận tại cuộc họp báo buổi sáng rằng Đà Nẵng đã thất thủ.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài gòn những ngày hấp hối (Kỳ 2)

Cuộc họp Nội các và Chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi” của Tổng thống Thiệu

Di tản từ Huế vào Đà Nẵng

Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu là một nhà quân sự, đã từng đọc “Chiến tranh nhân dân” và trải qua chỉ huy chiến đấu ngoài mặt trận.

Khi thiếu tướng Phạm Văn Phú rút khỏi Ban Mê Thuột, với sự nhạy cảm của một nhà binh nghiệp, Tổng thống Thiệu hiểu rằng các trận tấn công của đối phương rải rác khắp nơi cuối cùng rồi cũng chỉ nhằm mục đích làm cô lập Sài Gòn và buộc quân đội Việt Nam Cộng hòa phải dàn trải, căng ra để đối phó. Lúc này phía Việt Nam Cộng hòa chỉ có 3 sư đoàn được triển khai để bảo vệ Sài Gòn. Trong 3 sư này có 2 sư mới được thành lập. Ngoài ra các lữ đoàn thủy quân lục chiến, không vận và biệt kích được giao nhiệm vụ bảo vệ Sài Gòn và dự bị thì lại chưa được thử thách qua chiến đấu.

Trong khi đó, quân đội Bắc Việt đã triển khai được một lực lượng tương đương 6 sư đoàn tại các khu vực quanh Sài Gòn. Như vậy, lực lượng của quân đội Sài Gòn là quá nhỏ so với đối phương. Để tăng cường phòng vệ Sài Gòn, ngày 12/3/1975 Tổng thống Thiệu đã gửi một bức điện khẩn cho tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh quân khu 1 ở Đà Nẵng. Bức điện yêu cầu tướng Ngô Quang Trưởng phải chỉnh sửa lại kế hoạch quân sự của mình để điều sư đoàn không vận về bảo vệ Sài Gòn ngay lập tức.
Sáng hôm sau, Tổng thống Thiệu triệu tập cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia để công bố một quyết định đầy kịch tính. Sau nhiều tháng tranh cãi trong nội bộ, cuối cùng Tổng thống Thiệu đã phải chấp nhận và thực hiện cái điều mà thuộc cấp của ông ta đã thúc giục từ lâu. Đó là hãy từ bỏ một số vùng đất kém hiệu quả thuộc quân khu 1 và quân khu 2 rộng lớn để tập trung lực lượng về bảo vệ Sài Gòn. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi đây là một khái niệm chiến lược mới “Nhẹ đầu nặng đuôi” (Light at the Top, Heavy at Bottom”.

Thực ra thì trước đó 2 tuần, Thủ tướng Chính quyền Sài Gòn Trần Thiện Khiêm và một nhóm chuyên gia đã nghiên cứu kế hoạch này. Lúc đầu, việc nghiên cứu chỉ nhằm mục đích lập kế hoạch dự phòng để phục vụ cho các sự lựa chọn lâu dài chứ không vì một mục đích cụ thể nào. Chính Tổng thống Thiệu cũng thấy cần thiết phải có một kế hoạch dự phòng như vậy. Nhưng ông ta lại hoàn toàn không muốn để cho các tướng lĩnh dưới quyền mình có cảm giác rằng Tổng thống đang tính đến một một kế hoạch rút lui đáng xấu hổ khỏi một số khu vực xung yếu.
Thủ tướng Khiêm và nhóm chuyên gia chuẩn bị kế hoạch cố ý không đi vào chi tiết hoặc tuyệt đối tránh tham khảo ý kiến của các thành viên khác để giữ bí mật. Việc yêu cầu tướng Ngô Quang Trưởng chuẩn bị rút khỏi một số vùng thuộc quân khu 1 cũng chỉ là yêu cầu chung chung chứ cụ thể quân đội Sài Gòn sẽ rút khỏi vùng đất nào và bao giờ thì chưa được tính đến.

Vài ngày trước khi Ban Mê Thuột bị thất thủ, Bộ trưởng Kinh tế của Chính quyền Thiệu đã đến gặp tham tán phụ trách kinh tế Đại sứ Quán Mỹ Dan Ellerman đánh tiếng về một vài ý tưởng trong kế hoạch dự phòng vốn đang được cân nhắc nói trên. Liệu chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi” có bị Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin cắt bỏ hay không? Chiến lược mới này có được đưa ra thảo luận ở Washington hay không? Ngày 11/3, chỉ vài giờ trước khi Ban Mê Thuột hoàn toàn lọt vào tay quân đội Bắc Việt, Ellerman mới gửi công văn trả lời Tổng thống Thiệu. Công văn của Đại sứ Quán Mỹ nói rằng việc có nên từ bỏ hay không vùng đất nào là thuộc về quyết định của phía Chính quyền Sài Gòn. Vì “Bất cứ điều gì các bạn làm nếu thực hiện thành công thì thế giới đều tôn trọng”.

Đối với Tổng thống Thiệu, công văn này chẳng khác gì việc đẩy quả bóng sang phía sân của Chính quyền Sài Gòn. Công văn không hề cam kết điều gì và cách phúc đáp như thế là một sự khiếm nhã. Tổng thống Thiệu cho rằng nếu người Mỹ tiếp cận vấn đề quan trọng như thế với một thái độ hời hợt như vậy thì sau này bất cứ vấn đề gì mà Chính quyền Sài Gòn làm họ không có quyền gây ảnh hưởng. Nguyễn Văn Thiệu quyết định sửa đổi toàn bộ chiến lược, cho áp dụng ngay chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi” mà không ai có thể ngăn cản được Tổng thống. Do quyết định nhanh chóng, Tổng thống Thiệu không có thời gian suy nghĩ kỹ lưỡng tính thực tiễn của chiến lược.

Từng được quân đội Pháp đào tạo, Tổng thống Thiệu hiểu rất rõ tầm quan trọng của Ban Mê Thuột đối với Tây Nguyên. Thời Pháp thuộc, quân đội Pháp thường coi Ban Mê Thuột là căn cứ chính để từ đó tổ chức các cuộc hành quân ra toàn vùng Tây Nguyên. Nguyễn Văn Thiệu đánh giá cao cách nhìn của người Pháp, cho rằng ai kiểm soát được Ban Mê Thuột, người đó kiểm soát được toàn bộ cửa ngõ phía Tây Sài Gòn. Tại một cuộc họp Nội các khẩn cấp, ngồi chống tay lên cằm Tổng thống Thiệu đưa mắt nhìn khắp lượt các khuôn mặt quanh bàn để tìm người muốn phát biểu. Chẳng ai nói gì. Tất cả họ đều sẵn sàng làm theo ý kiến của Tổng thống. Nguyễn Văn Thiệu bỗng hắng giọng rồi nói rằng ông đã quyết định một bước ngoặt trong lịch sử chiến tranh. Đó là từ bỏ Kontum và Pleiku. Sự rút lui chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi” sẽ bắt đầu từ đây.

Cả phòng họp Nội các im lặng. Tổng thống nói tiếp: Một sự rút lui như vậy là cần thiết và hợp logic. Điều này sẽ cho phép điều quân từ Kontum và Pleiku về Ban Mê Thuột vì đây là căn cứ then chốt mà cách đây 20 năm người Pháp đã chứng minh điều đó. Dường như các thành viên Nội các quá bất ngờ về quyết định của Tổng thống hoặc cũng thể do họ quá sợ Tổng thống mà không ai dám phản đối. Chẳng ai góp thêm được ý kiến nào. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bèn tuyên bố kết thúc cuộc họp sau khi đã ra lệnh cho mọi người tham dự phải giữ kín. Ông nói kế hoạch này không được nói lộ ra ngoài kể cả với người Mỹ vì người Mỹ từng có cơ hội để giúp đỡ Chính quyền Sài Gòn nhưng họ đã không làm.

Sau cuộc họp Nội các, Tổng thống Thiệu gặp riêng Trung tướng Ngô Quang Trưởng vừa từ Đà Nẵng bay vào Sài Gòn. Nguyễn Văn Thiệu chào tướng Trưởng một cách lạnh lùng. Ông ta biết chắc viên tư lệnh quân khu 1 này thế nào cũng đề nghị đổi lại quyết định về việc điều sư đoàn không vận về Sài Gòn. Lúc này không còn cơ hội nào để làm điều đó nữa. Chiến lược mới là “Nhẹ đầu nặng đuôi” không cho phép thay đổi. Sư đoàn không vận dứt khoát phải được điều về bảo vệ Sài Gòn ngay lập tức.

Tư lệnh quân khu 1 Ngô Quang Trưởng giẫy nảy người khi nghe Tổng thống ra lệnh. Ông ta tha thiết đề nghị Tổng thống rút lại quyết định vì nếu điều sư đoàn không vận về Sài Gòn trong lúc chưa kịp điều chỉnh kế hoạch quân sự sẽ tạo ra những lỗ hổng phòng thủ. Như vậy căn cứ Quảng Trị từng giao tranh đẫm máu hồi năm 1968 rơi vào tay đối phương sau đó giành lại được năm 1972 sắp tới cũng sẽ phải chịu để mất vì sư đoàn lính thủy đánh bộ bị điều vào Huế và Đà Nẵng lấp chỗ trống của sư đoàn không vận. Tổng thống Thiệu nhìn tướng Ngô Quang Trưởng rồi khẽ gật đầu bày tỏ sự thông cảm.

Sau đó Nguyễn Văn Thiệu đồng ý một sự nhượng bộ nhỏ với viên tư lệnh quân khu 1. Ông ta chấp nhận cho sư đoàn không vận được rút dần. Lữ đoàn đầu tiên của sư đoàn này sẽ được rút khỏi Đà Nẵng ngày 17/3, các đơn vị còn lại phải rút hết trong 8 ngày tiếp theo, giữ lại một lữ đoàn cho đến cuối tháng 3 sẽ rút nốt. Mục đích là để cho tướng Trưởng có thời gian điều chỉnh lại kế hoạch bảo vệ quân khu 1. Ngoài ra, một số đơn vị lính thủy đánh bộ chưa được thử thách từ ngoại ô Sài Gòn sẽ được điều ra quân khu 1 để lấp vào chỗ trống phòng thủ.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 1)

Ban Mê thuột: Tướng Phú bị lừa như thế nào?

Chinh quyen Sai Gon nhung ngay hap hoi

Kể từ khi Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng (30/4/1975), nhiều người Mỹ và phương Tây vẫn không thể hiểu nổi tại sao Chính quyền Sài Gòn nhanh chóng sụp đổ, khiến Mỹ phải tháo chạy trong cuộc di tản lớn nhất trong lịch sử?

Trong cuốn “Decent Interval” (tạm dịch là phút giao thời), tác giả Frank Snepp – Chỉ huy trưởng Trung tâm phân tích tình báo chiến lược của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) tại Việt Nam cung cấp nhiều thông tin quan trọng theo cách nhìn của người trong cuộc ở phía bên kia, góp phần tìm lời đáp cho câu hỏi “tại sao?”.

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng và miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tiền Phong lược dịch một số đoạn trong cuốn “Phút giao thời” nhằm cung cấp cho bạn đọc thêm một nguồn thông tin tham khảo giúp hiểu hơn về chiến thắng 30/4 vĩ đại của dân tộc ta.

Kỳ 2: Cuộc họp Nội các và Chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi” của Tổng thống Thiệu

Kỳ 3: Huế, Đà Nẵng thất thủ không thể cưỡng nổi

Kỳ 4: Đại sứ Mỹ Graham Martin và kế hoạch di tản

Kỳ 5: Vì sao Mỹ không ủng hộ Nguyễn Cao Kỳ đảo chính?

Kỳ 6: Những toan tính quanh “con bài” Nguyễn Văn Thiệu

Kỳ 7: Tiểu xảo “rọi đèn pha” và tham vọng của Pháp

Kỳ 8: Tổng thống Thiệu cướp ngân khố quốc gia

Kỳ 9: Cuộc từ chức đầy kịch tính của Tổng thống Thiệu

Kỳ 10 : Hy vọng trong tuyệt vọng

Kỳ 11: Tổng thống Trần Văn Hương đón nhầm vận mệnh

Kỳ 12 : Cuộc ra đi trong nước mắt của kẻ thất sủng Nguyễn Văn Thiệu

Kỳ 13 : Trần Văn Hương xin làm Tổng thống thêm nửa ngày

Kỳ 14: Vị Tổng thống 3 ngày và những quyết định khó hiểu

Kỳ cuối : Di tản hoảng loạn và sụp đổ

Khi các sư đoàn quân đội Bắc Việt đã bí mật ém quân bao vây Ban Mê Thuột, tại sở chỉ huy tối cao quân đội Sài Gòn người ta vẫn không hay biết gì. Mặc dù vài ngày trước đó tình báo quân sự Việt Nam Cộng hòa tại quân khu 2 đã thu được cuốn nhật ký trong ngực áo của một người lính Bắc Việt đã hy sinh.

Cuốn nhật ký để lộ một số nội dung kế hoạch chiến dịch đánh Ban Mê Thuột của Sư đoàn 320 Bắc Việt. Cùng lúc, nguồn tin từ tỉnh Quảng Đức giáp Ban Mê Thuột cũng báo cáo về rằng có sự tập trung lớn quân đội Bắc Việt ở vùng biên giới Cămpuchia.

Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh quân khu 2 cực kỳ bối rối sau khi nhận được hai tin nói trên. Nếu quả đúng như vậy, ông ta không có đủ lực lượng để bảo vệ tất cả những mục tiêu tiềm tàng trên khắp vùng Tây Nguyên.

Sư đoàn 23 tinh nhuệ nhất của tướng Phú đã phải căng ra đối phó nên lực lượng bảo vệ mỗi mục tiêu trở nên quá mỏng. Hai lữ đoàn của sư 23 bị điều lên bảo vệ Kontum và Pleiku. Một phần của lữ đoàn thứ 3 bị kéo căng ra để giữ mặt trận Ban Mê Thuột – Quảng Đức.

Nếu quả thực sư 320 của Bắc Việt đã dàn quân chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột thì việc tướng Phú phải điều lực lượng chủ lực của mình bảo vệ Ban Mê Thuột là điều bắt buộc. Nhưng nếu tướng Phú điều hết lực lượng tinh nhuệ xuống Ban Mê Thuột rồi mà tin tình báo là sai thì Kontum và Pleiku sẽ bị mất vào tay đối phương là cái chắc.

Nhưng tướng Phú không thể liều trong canh bạc này. Ông ta quyết định giữ nguyên các lực lượng chủ lực của mình bao gồm phần lớn sư đoàn 23 tập trung ở phía bắc Tây Nguyên để bảo vệ Kontum và Pleiku.

Nhằm củng cố thêm cho quyết định của mình, tướng Phú viện dẫn ra những bức điện mà lực lượng thám không của ông ta mới thu được của đài thông tin Cộng sản. Những bức điện này cho thấy sở chỉ huy sư 320 của quân đội Bắc Việt vẫn hoạt động bình thường ở khu vực Đức Cơ phía tây Pleiku. Chứng tỏ sư 320 quân đội Bắc Việt không có ý định tấn công Ban Mê Thuột. Do vậy, tin tình báo mà tướng Phú nhận được trước đây là “sai”.

Tướng Phú không hề biết rằng trên thực tế tin tình báo của ông ta là hoàn toàn đúng còn những bức điện của lực lượng thám không quân đội Sài Gòn thu được mới là giả. Để nhằm đánh lạc mục tiêu săn lùng của đối phương, quân đội Bắc Việt đã lập ra những sở chỉ huy giả ở Đức Cơ.

Từ những chỉ huy sở giả này, họ phát lên không trung đều đặn những bức điện cốt làm cho đối phương tin rằng sư 320 quân đội Bắc Việt vẫn còn ở khu vực Đức Cơ gần Pleiku.

Sự đánh lừa này khéo đến mức tất cả bộ chỉ huy quân đội Sài Gòn và các cố vấn Mỹ, CIA đều không ai nhận ra. Đây chính là nhân tố cuối cùng dẫn đến các hậu quả chết người sau này đối với Chính quyền Sài Gòn.

Trong khi tướng Phú đang cố tìm hiểu ý định thực sự của đối phương, tướng Mỹ Timmes đã đích thân tới Pleiku để gặp Phạm Văn Phú. Viên Tư lệnh quân khu 2 không hề che dấu sự bối rối của mình với tướng Timmes.

Bất chấp các thông tin báo về rằng quân đội Bắc Việt đang tập trung quanh khu vực Ban Mê Thuột, tướng Phú vẫn đinh ninh rằng đối phương sẽ mở mũi tấn công chủ yếu vào Pleiku và Kontum.

Tướng Timmes không có thông tin gì hơn, mặc dù lập luận của tướng Phú không mấy thuyết phục nhưng ông ta cũng chẳng biết phải cố vấn thế nào.

Trong khi tướng Phú còn chưa rõ mục tiêu thực của đối phương, quân đội Bắc Việt vẫn tiếp tục chuẩn bị cho các trận đánh. Khoảng cuối tháng 2, Tướng Văn Tiến Dũng đã hoàn thành chuyến đi của ông từ Hà Nội vào Tây Nguyên để thành lập Bộ chỉ huy tiền phương (tức là Bộ Chỉ huy mặt trận Tây Nguyên) đóng tại phía tây Ban Mê Thuột.

Để giữ bí mật sự hiện diện của mình ở Tây Nguyên, tướng Văn Tiến Dũng cho ngừng tất cả mọi cuộc liên lạc bằng vô tuyến điện. Sự liên lạc giữa ông với Hà Nội được thực hiện qua đường điện thoại.

Nhờ các tin tình báo và những bức điện mà lực lượng thám không thu được của đối phương, tướng Văn Tiến Dũng sớm biết rằng tướng Phú đang bối rối trong việc xác định vị trí thật của sư 320 quân đội Bắc Việt. Tư lệnh quân khu 2 Phạm Văn Phú không chỉ mất hút sư 320 mà còn không biết sư đoàn 10 quân đội Bắc Việt đang ở đâu.
Sư 10 chính là sư đoàn thường mở các trận tấn công vào Kontum và Pleiku. Tướng Phú không hề biết rằng trên thực tế sư 10 đã được bí mật điều vào phối hợp cùng với sư 320 ém sẵn tại Ban Mê Thuột.

Nhằm đánh lạc hướng nhiều hơn nữa đối phương, tướng Văn Tiến Dũng đã ra lệnh cho một số đơn vị nhỏ lẻ của quân đội Bắc Việt ở lại Pleiku và Kontum, thỉnh thoảng lại mở những đợt tấn công gây rối ở khu vực mà sư đoàn 10 đóng quân trước đây cốt để cho tướng Phú tin là sư 10 quân Bắc Việt vẫn chưa di chuyển.

Vào lúc này, sư đoàn 316 của quân đội Bắc Việt cũng được điều từ miền Bắc vào đã tiến sát Ban Mê Thuột. Chưa đầy 3 tuần sư 316 đã di chuyển vào Nam thành công, dọc đường đi không hề liên lạc bằng điện đài nên đối phương hoàn toàn không ngờ sư 316 đã có mặt ở Tây Nguyên.

Nhờ sự điều quân bí mật, tương quan lực lượng của tướng Dũng tại Ban Mê Thuột về mặt con người đang có nhiều lợi thế, lúc này là 5 chọi 1. Đấy là chưa kể đến còn sư đoàn 968 từ Nam Lào được giao nhiệm vụ thực hiện những cuộc hành quân nhỏ lẻ ở khu vực Pleiku và Kontum nhằm đánh lừa tướng Phú.

Tại Đại sứ Quán Mỹ ở Sài Gòn chúng tôi không hề hay biết gì về việc tướng Văn Tiến Dũng đã có mặt ở miền Nam Việt Nam, nói chi đến chuyện biết gì về việc quân đội Bắc Việt đã lập xong các chỉ huy sở ở phía Tây Ban Mê Thuột và đang chuẩn bị đánh chiếm căn cứ quan trọng này.

Ngày 1/3/1975, quân đội Bắc Việt ở Tây Nguyên chính thức mở chiến dịch đánh vào Ban Mê Thuột bằng việc đánh chiếm căn cứ Đức Lập ở phía Nam hướng đi Cămpuchia.

Lúc này tại Chỉ huy sở của tướng Phú ở Pleiku, các trợ lý phân tích tình báo đưa ra kết luận Ban Mê Thuột sắp bị tấn công. Vậy mà tướng Phú vẫn còn nghi ngờ, mãi sau mới chấp nhận điều thêm một lữ đoàn đến Buôn Hồ để hỗ trợ các đơn vị đang giao chiến ở đó.

Bên trong thành phố Ban Mê Thuột lúc này quân đội Sài Gòn chỉ thực sự có 2 tiểu đoàn gồm 1.200 quân. Ngày 10/3, quân đội Bắc Việt mở chiến dịch đánh thẳng vào Ban Mê Thuột, Chính quyền Sài Gòn vẫn chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Đến ngày 14/3 chúng tôi mới biết rằng quân đội Bắc Việt đã chiếm được thành phố này. Khi đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội Bắc Việt tiến vào Ban Mê Thuột, Tướng Phú tháo chạy về Nha Trang.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng (Lược dịch)