Mũi tiến công hiểm hóc, bất ngờ

QĐND – Sau chiến thắng Phước Long, để chuẩn bị cho thời cơ chiến lược mới, Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập Binh đoàn 232, gồm các Sư đoàn chủ lực 3, 5, 9 và một số đơn vị binh chủng tác chiến tập trung trên chiến trường các tỉnh Tây Ninh, Kiến Tường, Long An, Mỹ Tho; tạo bàn đạp vững chắc phía Tây và Tây Nam Sài Gòn… Đây cũng là mũi tiến công sắc nhọn, hiểm hóc, hoàn toàn bất ngờ với hệ thống phòng thủ của địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh, nhanh chóng, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội đô Sài Gòn.

Bộ đội Sư đoàn 5 đánh chiếm Tiểu khu Hậu Nghĩa. Ảnh tư liệu.

Trong hệ thống phòng ngự của địch ở Sài Gòn khi đó, hướng Tây-Nam có vị trí hiểm yếu, nhưng lại tương đối yếu. Hiểm yếu vì nơi đây sát nách Sài Gòn, nối Sài Gòn, Long An với Mỹ Tho là căn cứ Vùng IV chiến thuật của quân ngụy theo Đường số 1. Ở hướng này nếu khắc phục được sình lầy và vượt được sông sẽ là thời cơ lớn cho chiến dịch binh chủng hợp thành cơ động tiếp cận và triển khai đột phá thẳng vào Sài Gòn, tạo thế áp đảo, phá vỡ thế trận địch, nhanh chóng giành được thắng lợi triệt để. Đây cũng là chiến trường quen thuộc, phù hợp với khả năng tác chiến của các Sư đoàn 3, 5, 9. Chọn hướng này, ta đã chọn điểm đúng “huyệt” hiểm, để ra đòn quyết định.

Địch bố trí lực lượng hướng Tây-Nam Sài Gòn mỏng là vì cho rằng, ta khó có thể tổ chức một mũi tiến công mạnh có xe tăng và pháo binh, xe cơ giới vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đánh vào Sài Gòn. Song để khắc phục địa hình bất lợi, Bộ tư lệnh Binh đoàn phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với Tỉnh ủy Long An, Mỹ Tho, Kiến Tường với nòng cốt là lực lượng công binh kết hợp với bộ đội địa phương, du kích và nhân dân huy động mọi phương tiện, vật liệu tại chỗ tạo đường dẫn vượt sình lầy và cầu, phà dã chiến cấp tốc đưa phương tiện, xe tăng, pháo cơ giới vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây tiến công Hậu Nghĩa, Tân An, Bến Lức. Nhờ có binh khí kỹ thuật tập kết đúng thời gian quy định, các đơn vị của Binh đoàn 232 triển khai tiến công địch rất thuận lợi, phối hợp với bộ đội chủ lực và các lực lượng bộ đội địa phương, du kích giải phóng toàn bộ các huyện dọc sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, đưa lực lượng thọc sâu vào thành phố Mỹ Tho, cắt đứt Đường số 4, cô lập Sài Gòn với vùng IV chiến thuật; phá sản âm mưu ứng cứu Sài Gòn hoặc rút chạy về Đồng bằng sông Cửu Long cố thủ của quân ngụy.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Advertisements

Ký ức hào hùng

LTS: Nhà báo Minh Điền là một trong những nhiếp ảnh gia quân đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những hồi ức một thời trận mạc lại bồi hồi thức dậy trong ông, nên ông quyết định công bố kho tư liệu ảnh về những kỷ niệm chiến trường hào hùng năm xưa. Qua phóng sự ảnh này, ông rất mong có thể gặp lại những người là nhân vật xuất hiện trong các bức ảnh năm xưa, đó sẽ là “hạnh phúc vô bờ” – Nhà báo Minh Điền cho biết.

Nụ cười của người chiến sĩ khi đã làm chủ Sân bay Tân Sơn Nhất.

Một điểm tập kết của quân giải phóng trước khi vào trận đánh cuối cùng, tại rừng cao su Lộc Ninh.

Công binh khai thác đá trên sông Thu Bồn để làm đường cho xe tăng ta vào trận.

Nữ dân công hỏa tuyến tải đạn, chuẩn bị vượt sông Ba Lòng.

Phút dừng chân bên suối của người nữ thanh niên xung phong.

Những đàn voi vận chuyển vũ khí và lương thực phục vụ chiến dịch trên đường 14 (Tây Nguyên).

Trên đường Trường Sơn, những vườn rau di động được ngụy trang che mắt quân thù.

sggp.org.vn

Bắt đầu “Chiến dịch Hồ Chí Minh”

Ngày 1/4/1975 chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”. Ngày 14/4/1975 Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của bộ chỉ huy chiến dịch đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, phương án chiến dịch được thông qua lần cuối. Ta huy động vào chiến dịch này một lực lượng lớn hơn bất cứ chiến dịch nào trước đây, bao gồm cả lực lượng vũ trang và chính trị.

Bộ Chính trị điện cho Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh: “Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi… Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc thắng nhất để giành thắng lợi hoàn toàn”. 17 giờ ngày 26/4/1975 cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, các mục tiêu tấn công ngập chìm trong bão lửa. Mỹ vội vàng mở chiến dịch “người liều mạng” để di tản. Các tướng tá quân đội Sài Gòn từ các sư đoàn bị đánh tơi tả, kẻ bị bắt, kẻ đầu hàng, kẻ tự sát, kẻ cởi quân phục lẩn trốn vào đám tàn quân. Tổng thống ngụy muốn xin “bàn giao chính quyền”, các đại diện Mỹ, Pháp tìm kế hoãn binh… Nhưng tất cả đã không thể ngăn cản được sức tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng trong “trận đánh cuối cùng” để kết thúc chiến tranh 30 năm.

Năm Quân đoàn chủ lực hùng mạnh phối hợp nhịp nhàng cùng lực lượng 3 thứ quân tại chỗ và sức mạnh nổi dậy của quần chúng trên tất cả các hướng chiến dịch đều hừng hực khí thế xung trận, quyết chiến quyết thắng.

Ở hướng Đông, Quân đoàn 4 đánh chiếm Chi khu quân sự Trảng Bom. Quân đoàn 2 đánh chiếm Chi khu quân sự Long Thành, Trường sĩ quan thiết giáp ngụy ở căn cứ Nước Trong…, phát triển theo hướng Biên Hòa, Nhơn Trạch. Đặc công, biệt động Miền thọc sâu đánh chiếm và giữ các cầu trên sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, bảo đảm cho đại quân tiến vào Sài Gòn. Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đánh chiếm phía Nam Bà Rịa, phát triển theo hướng thành phố Vũng Tàu. Bộ đội địa phương, dân quân du kích Bà Rịa đánh chiếm các đồn bót, quận lỵ, chi khu giải phóng phần lớn tỉnh. Pháo binh tầm xa của ta ở Hiếu Liêm đánh tê liệt sân bay Biên Hòa, buộc địch phải di tản máy bay về Tân Sơn Nhất.

Ở hướng Tây Nam, lực lượng của Quân khu 8 cắt đường số 4 (nay là quốc lộ 1B), hai trung đoàn chủ lực của Quân khu tiến nhanh vào phía Nam quận 8 Sài Gòn. Đoàn 232 (tương đương Quân đoàn), sử dụng một sư đoàn mở đầu cầu trên sông Vàm Cỏ Đông ở An Ninh, Lộc Giang cho sư đoàn 9 binh khí kỹ thuật vượt sông hướng vào nội đô.

Ở hướng Bắc, Quân đoàn 1 thọc sâu tiến công quân địch đứng chân phía Bắc Thủ Dầu Một. Ở hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 tiến công cắt đứt đường số 1 và 22, chặn các trung đoàn của sư đoàn 25 ngụy từ Tây Ninh về căn cứ Đồng Dù. Trung đoàn Gia Định đánh chiếm làm chủ con đường vành đai Sài Gòn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre, mở cửa phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất, chuẩn bị cho các binh đoàn chủ lực tiến công.

Tính từ chiều 26/4 đến ngày 28/4 ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài và siết chặt vòng vây chung quanh Sài Gòn.

(Theo KTĐT)

Cuộc hành quân thần tốc, diệu kỳ

(VnMedia) Ngày 27/3/1975, đại tướng Văn Tiến Dũng đã lệnh cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng kết thúc chiến dịch ở đây và cơ động về phía Sài Gòn. Sau khi kết thúc chiến dịch Tây Nguyên, Bộ tư lệnh chiến dịch lại phải giải 1 bài toán nan giải là ngày 25/4 phải tập kết tại Củ Chi. Từ đó 1 cuộc hành quân thần tốc, diệu kì đã diễn ra.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước

Cuộc hành quân “đa phương tiện”

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, lúc đó đang là Tham mưu trưởng chiến dịch Tây Nguyên thực sự lo lắng trước mệnh lệnh của cấp trên. Khoảng cách không phải là vấn đề duy nhất. Các sư đoàn còn rải ra chiến đấu ở nhiều điểm khác nhau. Có những điểm cách Sài Gòn đến 600 cây số. Vừa phải thu quân, vừa bổ sung quân số, trong khi đó thương binh ở những trận đánh trước đó cũng rất nhiều. Việc truyền lệnh đến các nơi cũng gặp những thách thức khi nhiều nơi không có đường dây điện thoại, sóng điện đàm.

Khó khăn vẫn chưa dừng lại ở đó. Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên còn phải đối chọi với vấn đề phương tiện, vũ khí. Quan trọng nhất trong hoạt động hành quân là vấn đề phương tiện. Quân đoàn chỉ đảm bảo được phương tiện cho 2/3 quân số. Những người còn lại phải tự lo lấy phương tiện đi lại của mình.

Trước tình hình đó, Tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước đã tương kế tựu kế. Cứ đơn vị nào mà nhận được lệnh thì lập tức hành quân ngay. Và cuộc hành quân thần tốc, diệu kỳ đã diễn ra.

Không có phương tiện, bộ đội ta đã chủ trương nhờ đến sự giúp đỡ của dân. Từ xe máy, xe đạp, xe lam, xe đò…, tất cả những phương tiện có thể di chuyển được đều lấy ra dùng hết. Thậm chí xăng dầu để vận hành đoàn cuộc hành quân “đa phương tiện” cũng phải nhờ nhân dân giúp đỡ, hỗ trợ.

Đoàn quân “đa phương tiện” đó cứ băng băng tiến về Sài Gòn. Qua mỗi tỉnh, thành mới giải phóng, bộ đội lại vận động thêm nhiều người dân nữa cùng giúp sức đóng góp phương tiện, nhiên liệu để tham gia chiến dịch, giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Rất vui, đoàn quân đi đến đâu cũng được dân giúp đỡ hết sức nhiệt tình.

Trung tường Nguyễn Quốc Thước bồi hồi kể tiếp về cuộc hành quân đó: “Có trong hoàn cảnh đó mới thấy quân dân Việt Nam đồng sức đồng lòng. Bộ đội của ta hầu hết đều xuất thân từ nông dân cả. Có ai biết sử dụng xe máy, xe đò, xe lam đâu. Thậm chí có những người ở những miền quê xa lắc, phải đến khi vào bộ đội, đi qua nhiều miền đất mới thấy được những loại phương tiện đó. May mà nhân dân không chỉ góp phương tiện, họ còn là những nhân tố chính điều khiển các phương tiện. Cứ thế, 1 xe máy chở 2, 3 người. Xe lam chở 13, 14 người còn xe đò chở đến mấy chục người, cả đoàn hừng hực khí thể tiến đến Sài Gòn.”

Trên đường đi, các đoàn nhiều lần phải đối đầu với máy bay địch. Có những sư đoàn, đặc biệt là Sư đoàn 10 chịu tổn thất hết sức nặng nề. Nhưng cuối cùng, ngày 24/4 Sư đoàn 10 cũng có mặt tại điểm tập kết, và là Sư đoàn cuối cùng có mặt ở Củ Chi.

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Mới nghỉ ngơi được mấy ngày sau cuộc hành quân vất vả, Sư đoàn 10 đã lập tức nhận mệnh lệnh đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu Ngụy quyền.

Sân bay Tân Sơn Nhất là sân bay cuối cùng của địch. Việc đánh chiếm sân bay là đặc biệt quan trọng, nó sẽ ngăn chặn việc địch dùng máy bay, chúng cũng không thể chống trụ lại hỏa lực của ta nữa.

Nhưng đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất là một nhiệm vụ không hề dễ dàng. Ở đây có Bộ tư lệnh dù và Bộ tư lệnh không quân 2 cực kỳ tinh nhuệ và cũng là đơn vị mạnh nhất của địch lúc đó.

Để có thể tiến đánh sân bay, ta buộc phải tiêu diệt được Sư đoàn 25 được mệnh danh là “Tia chớp nhiệt đới” của ngụy quân. Sư đoàn này án ngữ ở ngay trước khu vực Củ Chi – Đồng Dù. Nhiệm vụ đập tan thế phòng thủ, phá vỡ “Cánh cửa thép” “Tia chớp nhiệt đới” được giao cho sư đoàn 320.

Quân địch mạnh, tinh nhuệ nhưng thiếu chí khí chiến đấu đã bị đoàn quân hừng hực chí căm thù của quân ta đánh bại chỉ trong 1 đêm chiến đấu ác liệt. Lúc “Cánh cửa thép” hoàn toàn bị xuyên thủng cũng là lúc Sư đoàn 10 lập tức xông vào đánh thẳng vào khu vực sân bay Tân Sơn Nhất của địch.

Khi Sư đoàn 10 vừa cận kề sân bay thì cũng là lúc Sư đoàn 320 “dọn dẹp” sạch khu vực Đồng Dù. Bộ tư lệnh quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 10 đánh luôn nhưng Bộ tư lệnh chiến dịch đã yêu cầu dừng lại, chờ các mũi tấn công khác áp sát vào thì tấn công luôn lúc. Trước sự chống trả quyết liệt của địch, Sư đoàn 10 vẫn áp sát ngoài hàng rào sân bay.

11 giờ 30, quân ta chiếm hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất, cũng là sân bay cuối cùng của Ngụy quyền.

Kể lại những năm tháng oai hùng ấy, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước vẫn không khỏi bồi hồi, xúc động. Ông kể về câu chuyện đáng nhớ nhất: “Lúc đó, để ngăn chặn quân ta, toàn bộ xe tăng của địch kéo ra cả ngã tư Bảy Hiền. Thế giằng co, quân ta cũng bị thiệt hại nhiều. Trong trận, có 1 xe tăng của ta bị địch bắn toác cả nòng, nhưng các chiến sỹ trên xe vẫn không dừng lại. Họ lao vào đánh giáp la cà bằng xe tăng với địch. Khi xe địch bị xe ta ép chặt vào tường, chúng sợ quá bỏ cả xe chạy thục mạng”

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước bảo ông kể lại câu chuyện này cũng để chúng tôi, thế hệ trẻ được sinh ra trong hòa bình thấy được ý chí chiến đấu của quân đội ta như thế nào. Để thế hệ sau có thể tự hào về quân đội Việt Nam, dân tộc Việt Nam anh hùng. Để lớp lớp hậu thế có thể sống ý nghĩa hơn, xây dựng đất nước mà cha ông đã đổ máu để giữ lấy.

Hoàng Đức Nhã

Cuộc đối mặt bất ngờ

Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ nói với Dương Văn Minh: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao gì cả."

(VnMedia) – Chiến tranh đã lùi xa 36 năm về trước nhưng ký ức về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, về hình ảnh đánh chiếm Dinh Độc Lập, bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn tới Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng vẫn in rõ trong tâm trí Trung tướng Phạm Xuân Thệ.

Cuộc hành tiến vào nội đô

Tôi đến gặp Trung tướng Phạm Xuân Thệ khi ngày kỷ niệm chiến thắng lịch sử 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước cận kề.

Năm nay ông 63 tuổi đã về hưu, nhưng trông ông vẫn rất phong độ. Trung tướng Phạm Xuân Thệ quê ở Khả Phong, huyện Kim Bảng, Hà Nam, ông tình nguyện vào chiến trường chiến đấu tháng 8 năm 1967. Sau 4 tháng huấn luyện ở Thái Nguyên, ông Phạm Xuân Thệ được bổ sung vào Trung đoàn 66 – Sư đoàn 304 là đội quân thuộc lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2.

“Tôi cũng như bao người chiến sỹ khác với tinh thần đâu có địch là chiến đấu. Trách nhiệm rõ ràng là phải đánh thắng địch trong mọi tình huống. Tham gia chiến đấu chỉ nghĩ đến hòa bình. Và tôi có được may mắn là tham gia tất cả các chiến dịch”. Ông bắt đầu câu chuyện.

Ngày đó, ông là đại uý, Trung đoàn phó Trung đoàn 66, được Ban chỉ huy Sư đoàn giao nhiệm vụ chỉ huy đội hình bộ binh đi đầu là tiểu đoàn 7”.

Ông Thệ nhớ lại: “Nhiệm vụ của chúng tôi là thực hành tiến công nhanh chóng vào nội đô thành phố Sài Gòn, với mục tiêu là đánh chiếm Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh và Bộ tư lệnh Hải quân của địch. Binh đoàn thọc sâu của chúng tôi gồm có Trung đoàn bộ binh 66 thuộc sư đoàn 304, Lữ đoàn xe tăng 203 và một số đơn vị pháo binh của Quân đoàn 2 tiến vào Sài Gòn”.

“Binh đoàn bắt đầu xuất phát từ 17 giờ ngày 29/4. Khoảng 3-4 giờ sáng 30/4, đến ngã tư Thủ Đức, gặp địch chống cự nhưng khi thấy lực lượng của ta hùng mạnh, quân địch vội bỏ chạy. Rạng sáng ngày 30/4, binh đoàn đến cầu Sài Gòn. Địch ở khu vực cầu Sài Gòn phòng ngự rất mạnh, có cả xe tăng, bộ binh, hải quân… Chúng bố trí các ụ súng, lô cốt, hoả lực mạnh, pháo bắn thẳng, xe tăng từ bên kia sông bắn sang. Không thể tiếp tục tiến, binh đoàn phải dừng lại triển khai chiến đấu. Địch bắn sang rất dữ dội. Ta vừa triển khai đội hình, vừa bắn trả quyết liệt”.

Trung đoàn phó Thệ khi đó nằm ép mình trên mặt đường, bám sát dải phân cách của cây cầu để chỉ huy lực lượng. “Lúc đó đạn tránh mình chứ mình không thể tránh được. Trước mặt mình là kẻ thù, không bắn nó thì nó cũng bắn mình” – ông Thệ kể.

Kết quả, sau gần một tiếng chiến đấu quyết liệt, binh đoàn tiêu diệt được bốn chiếc xe tăng của địch gồm hai chiếc M41, hai chiếc M113, bắn cháy hai tàu chiến dưới lòng sông Sài Gòn, phá hủy nhiều ụ súng, lô cốt ở bên kia bờ sông…Đến 8h sáng ngày 30/4, tiếng súng thưa dần, địch bỏ chạy…

Chiếc xe Jeep chở đại uý Phạm Xuân Thệ khi đó cùng trung uý Phùng Bá Đam (trợ lý cán bộ trung đoàn), trung uý Nguyễn Khắc Nhu (trợ lý tham mưu trung đoàn), lái xe Đào Ngọc Vân, hai chiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng và Bàng Nguyên Thất nhanh chóng bứt lên, hành tiến vào nội đô.

Cuộc đối mặt bất ngờ

Theo lời ông Thệ kể, trước khi tiến qua cầu Sài Gòn, thậm chí ông và các đồng đội còn chưa biết đường dẫn vào Dinh Độc Lập. Ông Thệ còn nhớ như in hình ảnh người đàn ông trung niên, dáng người chắc nịch mặc áo sơ mi cộc tay, cầm cờ giải phóng chạy từ Thảo Cầm Viên ra, đứng trước xe và nói “Quân Giải phóng cho tôi lên xe Jeep, tôi sẽ đưa đi.”

“Khi đến cổng Dinh Độc Lập, xe tăng thứ nhất do anh Bùi Quang Thận chỉ huy húc vào cánh cổng bên trái của cổng chính Dinh Độc Lập và mắc kẹt vào đó. Xe tăng thứ hai do anh Lê Đăng Toàn chỉ huy đâm bật tung cánh cổng chính tiến vào sân… Chiếc xe Jeep của chúng tôi theo xe anh Toàn đi vào. Rất nhanh, lái xe Đào Ngọc Vân giật lá cờ trong tay người đàn ông đi cùng chỉ đường. Ông ta cầm cán kéo lại và kêu “Cờ này của tôi,” tôi bèn nói: “Cờ của ai cũng mang lên để cắm” – ông Thệ hào hứng kể.

Trong thâm tâm ông Thệ và các chiến sỹ hôm đó chỉ nghĩ vào Dinh để cắm cờ mà không ngờ rằng Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn có mặt trong đó. “Tới tiền sảnh, gặp các phóng viên báo chí dưới chân cầu thang rất đông, tôi hỏi đường lên cắm cờ trên nóc Dinh. Đi vòng tay trái đi lên hết tầng một, một người to cao đứng chặn trước mặt tôi và ông ta giới thiệu: “Tôi là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh, toàn bộ nội các chính quyền ông Minh đang ở đây, trong phòng họp, mời cấp chỉ huy vào làm việc.” – ông Thệ kể.

Súng vẫn lăm lăm trong tay, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chững lại, ý nghĩ cắm cờ y biến mất. Ông quyết định vào gặp nội các của Tổng thống Dương Văn Minh. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh dẫn ông cùng các chiến sỹ Quân Giải phóng tới căn phòng tổng thống Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng) cùng toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn đã ngồi chờ sẵn.

Sau khi nghe Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh giới thiệu, Tổng thống Dương Văn Minh tiến lại gần Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ và nói: “Chúng tôi đã biết Quân giải phóng tiến công vào nội đô, đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao.” Lúc này, Phạm Xuân Thệ nói: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao gì cả.” Dương Văn Minh mặt cúi gằm, dáng vẻ sợ sệt, móc trong túi khẩu súng ngắn trao lại cho Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ.

Ảnh minh họaTrung đoàn phó Phạm Xuân Thệ cùng đồng đội đưa Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ra Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng.

Biết Tiểu đoàn 8 của mình đã chiếm được Đài phát thanh, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ yêu cầu Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh.

Ông Thệ kể, thấy súng nổ van trời khắp mọi nơi, Dương Văn Minh sợ nói rằng:
– “Ra Đài Phát thanh sợ không đảm bảo an toàn?”.
– “Chúng tôi đã làm chủ Sài Gòn và sẽ đảm bảo an toàn cho ông…” , ông Thệ nói.

Sau đó, cả Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cùng đồng ý đi đến Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Xuống hết bậc cuối cùng của Dinh, tới sân cỏ, Dương Văn Minh chỉ sang tay trái và nói “mời cấp chỉ huy lên xe của tôi”, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ nói chúng tôi đã có xe để đưa ông đi rồi, rồi đưa cả hai người cùng lên ngồi trên xe Jeep. Chính Dương Văn Minh là người chỉ đường đi đến Đài Phát thanh.

Bản tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh “Tôi: Đại tướng Dương Văn Minh – Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi quân lực cộng hoà hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng miền Nam-Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam – Việt Nam” đã vang lên trên sóng phát thanh.

Tiếp theo là lời tuyên bố của Chính uỷ Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng: “… Chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của Tổng thống chính quyền Sài Gòn… Thành phố Sài Gòn – Gia Định đã hoàn toàn giải phóng” đã đánh dấu thời khắc lịch sử của chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện tại Đài Phát thanh.

Sau khi tuyên bố đầu hàng xong, Dương Văn Minh cùng Vũ Văn Mẫu trở lại chiếc xe Jeep để về Dinh Độc lập và được giao lại cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2.

Sài Gòn hôm ấy súng nổ như đêm 30 Tết. Tiếng súng nổ rất nhiều nhưng không phải là tiếng súng chiến đấu mà là tiếng súng mừng chiến thắng của quân Giải phóng – ông Phạm Xuân Thệ bồi hồi.

Giọng âm trầm xuống: “Đất nước hòa bình thống nhất, nhưng đồng chí, đồng đội hy sinh nhiều quá!”. Ông hồi tưởng lại ngày tháng máu lửa đó… Dường như trong ông vẫn còn hằn sâu nỗi đau về những người đồng đội đã hy sinh bên cầu Sài Gòn, nơi mà chỉ cách trung tâm không xa, hay nói đúng hơn họ đã chết trước giờ toàn thắng. ”Giây phút mà các anh hy sinh chỉ cách có mấy tiếng là giành độc lập…” – Ông nhớ lại.

Ông Thệ chia sẻ, dành được hòa bình, độc lập, tự do rất là quý giá. Nhưng cái giá phải trả thì quá lớn. Thế hệ ngày nay được thừa kế truyền thống của quý báu của cha ông, nhưng hiểu biết và trân trọng cái quý giá đó thì lớp trẻ cần phải được rèn luyện. Bởi, thời buổi kinh tế thị trường, đất nước hòa bình, con người nghĩ tới hưởng thụ nhiều hơn cống hiến, thế hệ trẻ dễ bị sống sai lệch. Xu hướng đồng tiền, vũ khí tinh thần hoặc vũ khí khác thay cho vũ khí nặng thì làm cho con người dễ sa ngã, chao đảo. “Xây dựng, phát triển, giữ và tuyên truyền lịch sử truyền thống phải song song với nhau”, ông Thệ nói.

Kim Thảo

Sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng trường kỳ, đầy gian khổ, hy sinh và vô cùng oanh liệt của dân tộc ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, dưa cả nước đi lên CNXH.

Sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam kết hợp chặt chẽ với sức mạnh của thời đại đã làm nên thắng lợi to lớn, toàn diện và triệt để của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân ta và quân đội ta là yếu tô quan trọng hàng đầu và có nghĩa quyết định.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân và quân đội ta đã trải qua những năm tháng chiến tranh vô cùng ác liệt, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đương đầu với thế lực xâm lược điển hình về tính chất hung bạo và sự hiếu chiến, mạnh hơn ta gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự cũng như về vũ khí, trang bị kỹ thuật và phương tiện chiến tranh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng, phát huy cao độ sức mạnh chính trị – tinh thần để tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, hội tụ được đầy đủ những yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, trong đó, quan trọng nhất là yếu tố “nhân hòa”, tạo lên sự chuyển hóa cả về thế, thời và lực đủ sức áp đảo và đánh bại kẻ thù xâm lược, giành toàn thắng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã tiếp tục bồi đắp, tôi luyện và kiểm nghiệm rất nghiêm ngặt phẩm chất chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta, đồng thời tiếp tục chứng minh và khẳng định sức mạnh to lớn, có ý nghĩa quyết định của nhân tố chính trị – tinh thần của dân tộc Việt Nam trong đựng nước và giữ nước.

Sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ tác động mạnh mẽ, làm chuyển hóa và phát huy tối ưu giá trị và hiệu quả thực tế của tất cả các yếu tố hợp thành sức mạnh của dân tộc, mà còn trở thành sức mạnh trực tiếp trong các phong trào cách mạng, trong các hoạt động thực tiễn của quân và dân ta.

Phát huy cao độ ưu thế tuyệt đối về sức mạnh chính trị – tinh thần, quân và dân ta ở miền Bắc vừa ra sức xây dựng các yếu tố của hình thái kinh tế-xã hội XHCN, tạo nên những thay đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vừa huy động sức mạnh của chế độ xã hội mới vào cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta, mà tiêu biểu là trận “Điện Biên Phủ trên không”, đập tan cuồng vọng của kẻ thù hòng “đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá”, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn miền Bắc XHCN, đồng thời hết lòng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với Lào và Cam-pu-chia, thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương đi đến toàn thắng.

Phát huy cao độ sức mạnh chính trị – tinh thần, đồng bào và chiến sĩ ta ở miền Nam đã đẩy mạnh phong trào “Đồng khởi”, phát triển sâu rộng chiến tranh nhân dân, sử dụng tổng hợp bạo lực cách mạng với hai lực lượng (lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân), đánh địch bằng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận); kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; kết hợp nổi dậy với tiến công, tiến công với nổi dậy, liên tiếp giành được những chiến thắng oanh liệt và ngày càng to lớn, từng bước làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta, đẩy Mỹ – ngụy lâm vào thế bị động về chiến lược và đi đến kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bằng đại thắng mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất Tổ quốc để đưa cả nước đi lên CNXH.

Phát huy cao độ sức mạnh chính trị – tinh thần, chúng ta không những động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân, vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn về tinh thần và vật chất của các nước XHCN anh em, của lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới, hội tụ được sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại để đánh bại kẻ thù, giành toàn thắng.
Giá trị hạt nhân giữ vai trò chủ đạo trong sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cửu nước là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, được định hướng và thể hiện tập trung ở lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Trong hệ thống giá trị văn hóa Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước là yếu tố bao trùm và chi phối đời sống tinh thần của dân tộc. Trải qua muôn vàn thử thách nghiệt ngã, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có sức sống mãnh liệt và luôn tỏa sáng, định hướng và huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để dựng nước và giữ nước. Từ khi Bác Hồ kính yêu đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tìm ra con đường cứu nước, gắn kết độc lập dân tộc với CNXH, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có được nguồn sinh lực mới, phát triển từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống lên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được bồi đắp và phát huy cao độ, là động lực chính trị – tinh thần chủ yếu của nhân dân và quân đội ta, huy động toàn bộ sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại để áp đảo và đánh bại kẻ thù xâm lược, giành toàn thắng.

Nền tảng tư tưởng đồng thời cũng là yêu tố cốt lõi tạo nên sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã phân tích toàn diện và sâu sắc tình hình thế giới và khu vực, xu thế phát triển của thời đại và thục tiễn cách mạng Việt Nam để xác định đúng đắn, sáng tạo đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà vấn đề cốt lõi là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược. Cách mạng XHCN ở miền Bắc-và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, hai nhiệm vụ đó thuộc hai chiến lược cách mạng khác nhau nhưng thống nhất hữu cơ, gắn bó chặt chẽ và tác động thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển của cách mạng. Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân và toàn quân ta giương cao cùng một lúc hai ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp thực hiện thành công hai chiến lược cách mạng với hai loại quy luật: Quy luật của chiến tranh nhân dân trong cứu nước và giữ nước, quy luật của cách mạng XHCN, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Điều này thể hiện rất rõ nét sự nỗ lực chủ quan, sức sáng tạo cách mạng và tinh thần độc lập, tự chủ của Đảng và nhân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có cội nguồn lịch sử bền vững là bắt nguồn từ truyền thống tối đẹp của dân tộc Việt Nam anh hùng, được hun đúc và phát triển qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có cơ sở xã hội vững chắc là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta còn được bồi đắp, phát triển và phát huy cao độ trên cơ sở chế độ chính trị-kinh tế-xã hội XHCN. Mặc dù các yếu tố của hình thái kinh tế- xã hội XHCN bước đầu mới được xây dựng, nhưng đã thể hiện rõ sức sống và tính ưu việt, tiến bộ của nó, tạo nên những thay đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và động lực chính trị – tinh thần to lớn của nhân dân và quân đội ta. Chính tính ưu việt và sức mạnh của CNXH đã bảo đảm cho miền Bắc không ngừng phát huy vai trò quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Sức mạnh chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng nhận được sự cổ vũ, tiếp sức to lớn từ sự phối hợp đoàn kết chiến đấu của quân và dân Lào, Cam-pu-chia anh em, sự giúp đỡ tích cực và có hiệu quả của Chính phủ và nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN, sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản và nhân dân Mỹ đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta. Chúng ta luôn ghi nhớ, biết ơn và trân trọng điều đó.

Thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là bản anh hùng ca mãi mãi âm vang theo dòng chảy lịch sử, nuôi dưỡng tâm hồn và bản lình của con người Việt Nam, bồi đắp và làm phong phú thêm sức mạnh chính trị – tinh thần của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước theo định hướng XHCN, sức mạnh chính trị – tinh thần vẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Theo Lê Văn Dũng, tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 4/2005

Báo điện tử ĐCSVN

Ngày 22/4/1975: Thời cơ mở cuộc Tổng tiến công đã chín muồi

“Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn”.

Ngày 22/4/1975, đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị Trung ương Đảng từ Hà Nội điện cho Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh như sau:

“Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày, kịp thời phát động tiến công địch trên các hướng, không để chậm. Nếu để chậm thì không có lợi cả về chính trị và quân sự. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn.

Các anh chị ra chỉ thị ngay cho các hướng, hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Sự hiệp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động. Hiện nay, thời cơ thúc đẩy chúng ta phải có hành động nhanh nhất. Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định toàn thắng”.

Cũng trong ngày 22/4, Bộ Chỉ huy Chiến dịch duyệt lại lần cuối kế hoạch chính thức của Chiến dịch Hồ Chí Minh./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

VOV News

Người tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Nguoi tham muu truong Chien dich Ho Chi Minh lich su

Tướng Hiền Ảnh: B.K

Ông là Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, người được Đại tướng Văn Tiến Dũng giao chủ trì việc soạn thảo kế hoạch tác chiến giải phóng miền Nam để trình Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.

Trong cuộc đời binh nghiệp 50 năm của mình, Thượng Tướng Lê Ngọc Hiền có phân nửa thời gian làm công tác tác chiến. Bạn bè vẫn thường gọi ông là Hiền “tác chiến”.

Chọn mặt gửi vàng

Chúng tôi đến “phố nhà binh” vào dịp cả nước đang tưng bừng hướng về lễ kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nơi gia đình ông đã gắn bó từ nhiều năm nay. Ngôi nhà vẫn vậy, giữa thủ đô nhưng vẫn giữ được nét quê, cánh cổng to hé mở, vợ ông, bà Lương Ngọc Thư, đã chấp chới sang tuổi 70 nhưng vẫn còn đậm nét của người con gái “mỏng mày hay hạt năm nào”.

Lão tướng Lê Ngọc Hiền tiếp chúng tôi tại phòng khách của gia đình ở phố Lý Nam Đế. Với vóc dáng cao lớn, tác phong nhanh nhẹn, khó ai có thể biết ông đã ở tuổi gần 80 và có trên 50 năm tuổi quân.

Sau khi Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong hai năm 1974-1976, Bộ Tổng Tham mưu được lệnh xây dựng kế hoạch tác chiến phù hợp.

Tướng Lê Ngọc Hiền nhớ lại: “Tháng 4 năm 1974, tôi được Bộ Tổng tham mưu lệnh ra Bắc gấp. Ra đến Hà Nội, Đại tướng Văn Tiến Dũng (khi đó là Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN) gọi lên nói “cho cậu về nghỉ phép 1 tuần”. Mừng quá, sau 4 năm ở chiến trường được nghỉ một tuần gặp gỡ vợ con, định bụng dành mấy ngày cả nhà về Sơn Tây thăm quê.

Nào ngờ, chưa kịp thực hiện ý định riêng, mới nghỉ được 5 ngày, Đại tướng Văn Tiến Dũng lại cho gọi lên nói “giao quyết định quân hàm thiếu tướng cho cậu và từ nay cấp trên quyết định cậu giữ chức Phó tổng Tham mưu trưởng và giao nhiệm vụ đặc biệt cùng với Cục Tác chiến làm gấp kế hoạch tác chiến chiến lược trong 2 năm để giành thắng lợi lớn giải phóng miền Nam”.

Nguoi tham muu truong Chien dich Ho Chi Minh lich su

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (ngoài cùng, bên trái) cùng BCH Chiến dịch HCM tại Lộc Ninh tháng 4/1975 Ảnh Tư liệu

Tôi vừa mừng nhưng cũng vừa lo. Mừng vì 11 năm với quân hàm đại tá giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến nay vừa được thăng quân hàm, vừa lên chức, vinh dự quá nhưng nhiệm vụ được giao nặng nề như vậy, tôi không lo sao được”.Kế hoạch tác chiến chiến lược được ông cùng Cục Tác chiến chuẩn bị từ tháng 5 năm 1974 đến cuối tháng 10 năm 1974, tương đối hoàn tất. Kế hoạch được chuẩn bị khá tỷ mỷ về tình hình địch, ta, diễn biến trên khắp các chiến trường từ sau khi ký Hiệp định Paris bằng những bản đồ, biểu đồ, bảng so sánh các số liệu…

Ông kể: “Sau khi kế hoạch tác chiến được hoàn thành, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị bàn. Điều chúng tôi mừng nhất là Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhất trí với bản kế hoạch, chỉ yêu cầu bổ sung chi tiết hơn. Điểm mấu chốt của kế hoạch tác chiến chọn chiến trường Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975 được các đồng chí trong Bộ Chính trị đánh giá cao”.

Từ tháng 10 đến tháng 12/1974, Kế hoạch tác chiến được bổ sung chi tiết đến từng chiến dịch. Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp thông qua kế hoạch tác chiến.

Với quan điểm thông suốt là dự kiến giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng miền Nam. Ngoài kế hoạch tác chiến này, Bộ Chính trị còn dự kiến: Nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Tướng Lê Ngọc Hiền kể rằng, kế hoạch tác chiến chiến lược là công sức của tập thể, một sự cố gắng hết mức, hết sức căng thẳng trong suốt nửa năm liền của cán bộ Cục Tác chiến. “Những ngày đó, cán bộ tác chiến chúng tôi chỉ được nghỉ lúc ăn, hầu hết thời gian dốc sức để hoàn thành kế hoạch.

Nhiều khi chúng tôi làm việc đến nửa đêm, thậm chí là 1, 2 giờ sáng. Chúng tôi phải theo dõi diễn biến các chiến trường, mỗi ngày có đến hàng trăm bức điện từ khắp nơi gửi về, mình phải đọc rồi phân tích, đánh giá tình hình địch-ta”, ông kể

Từ khi bắt tay vào xây dựng kế hoạch tác chiến cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, vợ và các con ông không hề hay biết ông đang làm gì. Thâm trầm, ít nói, ngày sang cơ quan, đến bữa ông lại về ăn cơm cùng gia đình. “Vợ chồng nhưng tôi cũng chẳng dám hé răng hỏi đến công việc của ông ấy”, bà Thư, vợ ông kể. Ngồi bên cạnh, ông nắm tay bà như tìm sự thông cảm: “Điều đặc biệt nhất khi làm công việc tuyệt mật này là chúng tôi phải tuyệt đối giữ bí mật, không được tiếp xúc, không được hở ra điều gì với bất kỳ ai, kể cả người thân. Đó là một kỷ luật đối với người làm tác chiến”.

Lê Ngọc Hiền sinh Năm 1928, tại xã Đại Đồng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Năm 1944, ông tham gia cách mạng. Tháng 5 năm 1945 ông nhập ngũ, cùng năm đó ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, năm 1980 được phong hàm Trung tướng. Ông được phong hàm Thượng tướng năm 1986. Chức vụ cao nhất là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, Tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975…

Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Tướng Hiền được giao trọng trách Tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông có nhiệm vụ vạch kế hoạch tác chiến cho chiến dịch lịch sử. Đồng chí Phạm Hùng là Bí thư Trung ương Cục chủ trì cuộc họp kế hoạch tác chiến chiến dịch do Tướng Lê Ngọc Hiền trình bày. Kế hoạch gồm 2 bước: Bước 1, từ ngày 8/4, tiến công chia cắt chiến lược và bao vây đánh trận “rúng động”, đánh vùng ven và 8 mục tiêu trong nội thành, chuẩn bị cho tổng tiến công.

Nếu thuận lợi, địch tan rã thì phát triển thọc sâu ngay, phối hợp với quần chúng nổi dậy đánh chiếm thành phố; Bước 2, dự kiến từ ngày 15 đến ngày 20/4/1975 thực hiện đột kích Sài Gòn trên 5 hướng. Lực lượng sử dụng từ 3-5 sư đoàn chủ lực, 7 đoàn đặc công, 60 tổ biệt động, cùng với lực lượng du kích khoảng 50 ngàn quần chúng nổi dậy tại chỗ. Nếu địch co cụm thì chuẩn bị thêm lực lượng nhưng phải giải quyết xong trong tháng 4/1975. “Cách đánh của ta là táo bạo, kiên quyết tiến công đánh thẳng vào đầu não địch, đè bẹp ý chí đề kháng của địch”, Tướng Hiền nhớ lại.

Chuyện tình anh lính trẻ và cô bác sỹ

Dong dỏng cao, nét mặt đôn hậu, nghe ông kể chuyện, bà lặng lẽ như những ngày tháng lặng lẽ chờ chồng khi ra trận. Khó ai đoán được bà đã ở tuổi ngoài 70. Sáu mươi năm về trước, ấy là năm 1950, hồi đó lão tướng Lê Ngọc Hiền mới 22 tuổi, và đang là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48.

Cứ mỗi khi bạn bè nhắc đến chuyện lấy vợ, Hiền lại đỏ mặt vì xấu hổ. “Thì đã bao giờ mình cầm tay con gái đâu…Hồi ấy chúng tôi chỉ nghĩ đến chuyện ra trận thôi”, ông nhớ lại. Nhưng rồi một lần gặp người bạn cũ Trần Quang Thường, người cùng tham gia hoạt động thanh niên Cứu quốc, tham gia khởi nghĩa ở Sơn Tây, rủ Hiền đến chơi một gia đình quê ở Hoà Bình, làm nghề y, có 4 cô con gái xinh đẹp ở độ tuổi lấy chồng, chàng trai 22 tuổi Lê Ngọc Hiền như bị vật vô hình níu kéo.

“Nhìn tấm ảnh trên tường nhà, tôi đã “chấm” bà ấy ngay”, ông tâm sự. Chả là hồi đó, Thư còn đang đi học y nên vắng nhà. Nhưng “trời xui, đất khiến thế nào”, một lần hành quân qua Thanh Hóa, ông lại gặp cô bác sỹ trong mộng Lương Ngọc Thư. Mối tình của chàng Trung đoàn trưởng và cô bác sỹ Thư nẩy nở. “Bạn bè khen chúng tôi thật đẹp đôi”.

Vị tướng già bồi hồi nhớ lại: “ở bên nhau được mấy ngày, tôi phải tiếp tục lên đường”. Hôm chia tay, Thư chỉ nói: “Em sẽ chờ!”. Nói thế mà hóa ra Thư đợi thật. “Tôi chỉ nhớ là sau chiến dịch Điện Biên mấy ngày, chúng tôi tổ chức đám cưới”, bà Thư tủm tỉm cười. Thế rồi sau cái ngày ấy, ông về công tác tại Cục Quân huấn của Bộ Tổng tham mưu còn bà về công tác ở Sở y tế Hà Nội.

Hỏi những ngày ông đi biền biệt, bà xoay xở cuộc sống thế nào? Bà kể: “Khổ lắm các cháu ạ. Khi ông đi chiến trường, một mình tôi với một đàn con, đứa lớn mới hơn 10 tuổi. Dạo đó, máy bay địch bắn phá Hà Nội dữ dội. Cả nhà phân tán mỗi người một nơi. Con gái đi sơ tán theo trường học, con trai thứ hai gửi theo trại của Bộ Tư lệnh Thông tin, con trai út mới 1 tuổi gửi một bà má miền Nam trông giúp tại nơi sơ tán thuộc làng Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, quê của anh Lê Trọng Tấn…”.

Một nách ba đứa con, cứ chủ nhật bà lại lóc cóc đạp xe, mỗi tuần đi thăm một đứa. Quay sang bà, vị tướng già vỗ về: “50 năm chung sống, bà thật là người vợ hiền đảm. Tôi cứ đi biền biệt, mọi việc một mình bà lo. Bà vừa làm mẹ, vừa làm cha những khi tôi vắng nhà, nuôi các con khôn lớn, nên người. Nay 3 con trưởng thành (một gái, hai trai) đều là nhờ công bà ấy cả”.

Đại tá Nguyễn Văn Vĩnh – B.Kiên – Trần Dương

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người rất yêu mến Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, bởi tính tận tuỵ và kiên định của ông. Về nghỉ hưu, tướng Hiền tặng bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nhiều kỷ vật, duy chỉ có bức thư viết tay của anh Văn gửi ông trong những ngày chiến đấu ở miền Nam, do thiếu tướng Võ Quang Hồ, Cục phó Cục Tác chiến cầm vào là ông giữ lại.

Được sự đồng ý của ông, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc toàn văn bức thư này để bạn đọc thấy sự dân dã và sự thân tình của vị Đại tướng Tổng tư lệnh đối với các cán bộ, sỹ quan của mình:

“Cậu Hiền-nhân dịp anh Sáu và cậu Võ Quang Hồ vào, viết thư Văn thăm chúng mày, chào mừng quân ta ra quân đại thắng trên hướng Tây Nguyên. Chúc mày và anh em khoẻ hăng, đánh giỏi sắp tới góp phần cống hiến xứng đáng vào cuộc quyết chiến chiến lược lịch sử giành lại thắng lợi. Mình vẫn khoẻ. Võ Quang Hồ đi ở nhà cũng vất vả thêm chút ít, mong nó về sớm. Có ý kiến gì Hồ sẽ nói lại”. Văn – Hà Nội, 7/3/1975

Việt Báo

vietbao.vn

Những ngày tháng không quên

Đầu năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết định bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Các đơn vị quân, dân, chính, đảng từ ngoài Bắc tiếp tục được chi viện miền Nam để tiếp quản vùng mới giải phóng. Không khí những ngày này thật sôi động, phấn chấn. Khi ấy, tôi phụ trách quản lý hậu cần cơ quan tỉnh bộ Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) Thái Bình .

Một ngày đầu tháng 4/1975, Chính ủy Lê Nguyên gọi tôi lên giao nhiệm vụ: “Bộ Tư lệnh cử đồng chí tham gia đoàn cán bộ CANDVT Thái Bình vào chi viện cho tỉnh Trà Vinh. Đồng chí phụ trách hậu cần cho đoàn quân chi viện. Đồng chí có ba ngày bàn giao công việc, thăm gia đình. Sáng ngày thứ tư có mặt theo đoàn hành quân”.

Tôi vội vã về Diêm Điền thăm gia đình rồi đưa con gái mới hai tuổi lên đơn vị chơi. Công việc bàn giao cũng thuận lợi. Tài sản, tài chính không thiếu thứ gì mà còn thừa hơn một tấn gạo. Các đồng chí lãnh đạo khen chưa bao giờ có việc bàn giao lại “đẹp” như thế. Ngay sau đó, tôi được thăng cấp từ Thượng sỹ lên Chuẩn úy, nhận nhiệm vụ phụ trách hậu cần, lo ăn uống, tài chính cho đoàn trên đường hành quân. Đoàn chúng tôi gồm 43 người. Hôm tôi đi, vợ tôi không về kịp. Tiễn tôi chỉ có cô em vợ, cô con gái nhỏ và nhiều bạn bè ở thị xã Thái Bình.

Mọi việc hoàn tất, đoàn trực chỉ phía Nam hành quân. Hết đường tàu hỏa chúng tôi chuyển sang ô tô. Cứ đến binh trạm là dừng lại ăn cơm và nhận thực phẩm khô. Đi cả ngày, lẫn đêm. Đến khuya, đoàn mới dừng chân, nghỉ tại chỗ mấy tiếng để cán bộ, chiến sỹ ngủ. Mọi người túa ra ven đường tìm chỗ tranh thủ ngả lưng. Tôi chứng kiến giây phút xúc động khi qua cầu Hiền Lương lịch sử. Thời gian này, một mũi quân ta đang tạm dừng ở phòng tuyến Xuân Lộc. Dọc đường đi, chúng tôi chứng kiến xe cộ, quân trang, quân dụng của địch vứt bừa bãi trên đường.

Ngày 27-4-1975, chúng tôi tập kết tại Trảng Bom (Đồng Nai). Vùng này vừa giải phóng, mùi khét lẹt của bom đạn vẫn chưa bay hết. Phía Sài Gòn, pháo đạn còn nổ ùng oàng. Một tuần liền, chúng tôi lập trại trong rừng cao su. Được nghe kể lại, nơi này đa phần là bà con giáo dân ngoài Bắc di cư. Trong trận chiến mấy bữa trước, bọn địch dựa vào các nhà thờ chống trả quyết liệt. Hai xe tăng T.54 và nhiều chiến sỹ ta đã hy sinh tại đây.

Ngày 5-5-1975, đoàn chúng tôi tiến thẳng vào Tổng nha Cảnh sát Quốc gia Sài Gòn qua cổng đối diện Ngã Sáu Cộng Hòa. Sài Gòn mới trải qua cuộc chiến nhưng không giấu được vẻ phồn hoa. Các công trình xây dựng không bị hư hại bao nhiêu. Đoàn ở đây hai ngày, ba đêm. Chúng tôi có dịp ngắm vài con phố quanh nơi đóng quân. Anh em có dịp đọc các báo, tạp chí của chế độ cũ chất đầy trong căn cứ của Tổng nha Cảnh sát ngụy. Nhiều tạp chí có hình ảnh sex làm anh em thấy lạ và ngượng.

Sáng 8-5-1975, Đoàn chúng tôi được lệnh xuống miền Tây Nam bộ, bảo vệ thành phố Cần Thơ, đề phòng địch phản kích. Đoàn ở trụ sở Sở An ninh Tây Nam bộ (Cần Thơ) một đêm rồi chuyển ra đóng quân ở ấp Đầu Sấu, thuộc huyện Cái Răng. Tôi và một sĩ quan nữa được phân công ở nhà má Năm. Gia đình má gồm 8 người, đều rất tình cảm với tôi. Hai ông bà rất hiền. Má Năm nhận tôi là con nuôi. Cô Tư hay… nhìn trộm tôi.

Hai tháng đóng quân ở Đầu Sấu, bà con Nam Bộ rất hiểu và yêu quý bộ đội miền Bắc. Trái cây, quà bánh, bà con thường xuyên dành cho anh em. Má Năm thấy tôi thích ăn cá lóc kho dừa, nên hay làm và trìu mến nhìn tôi ăn ngon lành. Đầu Sấu là cù lao trên sông nên chiều chiều thanh niên nam nữ cùng bộ đội tụ tập hát hò rất vui vẻ. Những tối sáng trăng, chúng tôi chèo ghe dọc sông thật thơ mộng. Có khi lại rủ nhau cả bầy sang Thị Trấn Cái Răng ăn hủ tiếu Nam Vang. Tình cảm quân dân gắn bó, khi chúng tôi đi, bà con khóc, ai cũng đỏ hoe đôi mắt.

Đầu tháng 7-1975, chúng tôi về Trà Vinh. Đây là một tỉnh nghèo của Tây Nam bộ, nằm sát biển (giáp Bến Tre, Sóc Trăng và Vĩnh Long). Sau này Trà Vinh nhập với Vĩnh Long thành tỉnh Vĩnh Trà. Tỉnh có đặc điểm là nhiều bà con người dân tộc KhơMe.

Đoàn tiếp quản căn cứ của lực luợng cảnh sát dã chiến nguỵ. Khu căn cứ nhìn thật thảm hại. Một ngôi nhà kiến trúc kiểu gôtic cũ kỹ, ba dãy nhà lợp tôn bao quanh, nóng như rang, trống trơn. Chẳng có bất cứ một thứ tài sản gì. Anh em phải trải chiếu nằm dưới đất. Đoàn nhập với lực lượng an ninh vũ trang Trà Vinh, mới từ trong rừng ra. Đơn vị được thành lập với tên gọi mới: CANDVT Trà Vinh. Tôi được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Hậu cần. Từ đó, dưới sự chỉ đạo của trên, chúng tôi triển khai các đồn biên phòng bờ biển, trung đội cơ động. Riêng tôi và phòng Hậu cần tích cực lo nơi ăn, chốn ở, tài sản, tài chính cho cơ quan và các đơn vị trực thuộc. Cuối năm 1975, mọi việc đã đi vào nền nếp…

Từ đó về sau, cứ mỗi dịp kỷ niệm giải phóng miền Nam, tôi lại rưng rưng nhớ lại những ngày đầu năm 1975 ấy. Những tháng ngày không thể nào quên trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Nguyễn Đức Đát

Từ miền đất tổ nghĩ về kỷ niệm 30- 4:

Chiến tranh bao giờ cũng chỉ là khoảnh khắc

Thăm đền Hùng, Hồ Chủ tịch nói với các chiến sĩ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”

TTCN – Có mặt ở đền Thượng trên ngọn Nghĩa Lĩnh dự lễ giỗ Tổ năm nay ta mới cảm nhận được thời gian đổi thay nhanh hơn cả sức nghĩ của con người.
Trong khói hương nghi ngút, những lời cáo trang trọng trước bàn thờ Tổ của người thay mặt Nhà nước nói rất nhiều về nghĩa với tổ tiên, tình giữa đồng bào là những nhân tố đã và mãi mãi tạo nên sức mạnh đoàn kết truyền thống của dân tộc. Nhờ đó trải qua bao thử thách, quốc gia Việt Nam ta vẫn bền vững tựa “âu vàng” như ý nguyện của người xưa.

Đứng trên ngọn Nghĩa Lĩnh nhìn ra bốn phương tầm mắt mới chỉ cảm nhận được hình bóng của núi Tản sông Đà xuôi về cả lưu vực rộng lớn của sông Hồng, cái nôi của nền văn minh dân tộc. Nhưng ý thức thì vươn xa tới biển Đông mênh mông với những hải đảo xa xôi và hướng về phương Nam thăm thẳm dặm dài bàn chân của tổ tiên đi khai phá đã vượt sông Mã, sông Lam, sông Hương… và những dòng sông từ rặng Trường Sơn hay vùng cao nguyên Trung bộ đổ xuôi ra biển để rồi mở rộng ra cả lưu vực trù phú của chín nhánh sông Cửu Long, vươn tới tận cùng đất liền là mũi Cà Mau.

Rồi trên dặm trường ấy biết bao nhiêu lời gửi gắm của người xưa cho muôn đời qua những truyền thuyết hay trong sử sách. Từ câu chuyện đứa bé vươn mình thành Ông Thánh đánh giặc giữ nước, từ Mai An Tiêm tự lực khai phá xây đắp hạnh phúc cho đời, đến tập quán của những người đi mở cõi phương Nam để chức trưởng cho người ở nhà giữ đất Tổ, chỉ nhận làm anh Hai trấn giữ miền khai phá… Ngay đến cuộc phân tranh dài nhất trong lịch sử thì cả hai chúa Đàng Ngoài và Đàng Trong rồi đến cả người anh hùng áo vải Tây Sơn cũng đều giương cờ “phù Lê” để giữ trọn cơ đồ của tổ tiên…

Cho đến thời đại của thế kỷ 20 vừa qua, trước chính sách thâm hiểm “chia để trị” của chủ nghĩa thực dân, từ Phan Bội Châu đến Phan Châu Trinh đều hô hào “Trung Nam Bắc một nhà”, và Nguyễn Ái Quốc đã làm việc phải làm là đoàn kết ba tổ chức cộng sản ở ba miền làm một. Nền độc lập tạo dựng trên cơ sở một cuộc tổng khởi nghĩa của toàn dân. Một cuộc tổng khởi nghĩa giành lấy chính quyền dọc suốt từ Bắc chí Nam , mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương là không tốn nhiều xương máu, đã không có ông vua nào bị chặt đầu mà lại nguyện làm công dân một nước tự do…

Rồi toàn dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa lại buộc phải chấp nhận một cuộc chiến tranh chỉ vì mục tiêu thiêng liêng “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Biết bao kỳ tích mà nhân dân Việt Nam đã làm nên trong 30 năm chiến tranh khốc liệt đương đầu rồi đánh bại cả “hai đế quốc to”… để dẫn đến ngày 30-4-1975 lịch sử. Những người viết sử, và có thể cả nhiều thế hệ những người viết sử sau này, còn phải huy động nhiều công sức để làm cho thiên lịch sử của hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ngày một chân thực và phong phú hơn, nhưng lời kết đã được khẳng định ngay vào thời điểm cuộc kháng chiến trường kỳ 30 năm vừa kết thúc.

Khi quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập, một ai đó đã nói thay cho lịch sử: “Trong cuộc chiến này không có người Việt Nam thua, chỉ có đế quốc Mỹ là thất bại”. Bởi lẽ, với dân tộc Việt Nam, đánh và thắng giặc ngoại xâm là điều đã diễn ra nhiều lần trong lịch sử trường kỳ giữ nước. Nhưng với sự nghiệp dựng nước trường kỳ và vô cùng gian khổ, công cuộc mở mang bờ cõi, gầy dựng văn hiến, thống nhất quốc gia là một mục tiêu muôn thuở phải phấn đấu.

Hãy nhớ tới công sức khai mở của các chúa Nguyễn suốt mấy thế kỷ giữa cuộc phân tranh Trong – Ngoài, đến võ công hiển hách của Quang Trung Nguyễn Huệ đặt nền móng cho cuộc thống nhất quốc gia bằng việc đánh bại cả hai Chúa, diệt Xiêm và phá Thanh. Nhưng cái chết của người anh hùng làm dang dở sự nghiệp. Triều Nguyễn diệt nhà Tây Sơn nhưng cũng không để dở dang công cuộc thống nhất sơn hà để “Đại Nam nhất thống toàn đồ” vẽ cả dải “Vạn lý trường sa” trong vòng chủ quyền của dân tộc Việt Nam.

Nhưng rồi chính triều Nguyễn cũng không đủ sức chống trả ngoại xâm để đất nước lại rơi vào ách thuộc địa của thực dân Pháp… Và những gì thế kỷ 20 chứng kiến là một cuộc phục quốc mà đỉnh cao vinh quang nhất không chỉ là giành lại nền độc lập, đánh bại giặc ngoại xâm mà là hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh thiêng liêng của lịch sử, cùng là sứ mệnh của tổ tiên giao phó là hoàn chỉnh lãnh thổ của một nước Việt Nam thống nhất để trường tồn. Do đó, cao hơn một võ công, ý nghĩa lịch sử của ngày 30-4-1975 là đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

Và có thể kể thêm về một khúc vĩ thanh của sự nghiệp ấy là cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới và chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất diễn ra ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thì điều đó chỉ làm sáng tỏ hơn cái chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra từ thực tiễn cách mạng của thế kỷ 20: “Không có gì quí hơn độc lập và tự do”.

Trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam ta, đã có biết bao võ công hiển hách từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa… cho đến Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhưng chiến tranh bao giờ cũng chỉ là khoảnh khắc của lịch sử. Sự trường tồn và phát triển của một quốc gia phải nhìn vào công cuộc dựng nước.

Bởi vậy, bài học lớn rút ra từ những chiến thắng vĩ đại của cuộc chiến tranh giữ nước không chỉ là những bài học cho chiến tranh. Quan trọng hơn phải là những bài học cho công cuộc xây dựng đất nước hòa bình. Và bài học muôn thuở vẫn là bài học đại đoàn kết để phát huy sức mạnh của dân tộc. Cái gì không còn phù hợp với mục tiêu đại đoàn kết ấy thì hãy để cho lịch sử lưu giữ và tôn vinh như một vinh quang của quá khứ…

Đến với đền Hùng ngày nay, câu nói của Bác Hồ “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước” đã được tạc vào đá trên bức phù điêu hoành tráng do các lực lượng vũ trang tiến tặng. Đó là câu nói của vị thống soái của cuộc chiến tranh giữ nước ngay sau chặng đầu đánh bại giặc Pháp, đang chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới vô cùng gian khổ nhằm “đánh cho Mỹ cút – ngụy nhào”. Giờ đây đã nửa thế kỷ qua rồi, có thể nói lời dạy của Bác “cùng nhau giữ lấy nước”, dân tộc ta đã hoàn thành trọn vẹn. Sự nghiệp giữ nước giờ đây phụ thuộc công cuộc dựng nước vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.

Đã đến lúc tất cả những ai là “con Lạc cháu Hồng” phải chung sức để kế nghiệp các vua Hùng tiếp tục sự nghiệp dựng nước bằng chính công cuộc không ngừng đổi mới. Đó mới là kế sách sâu rễ bền gốc.

DƯƠNG TRUNG QUỐC