Mỗi xe thành một mũi tiến công

QĐND – Ngay sau thắng lợi trận mở màn Buôn Ma Thuột, Đại đội Xe tăng 5, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn Xe tăng 273) được giao nhiệm vụ phối thuộc với Trung đoàn Bộ binh 28 (Sư đoàn 10), bước vào chiến đấu tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 581 và trên Đường 21, đánh bại âm mưu phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột của địch ngày 15-3-1975.

Xe tăng thuộc Trung đoàn 273 đánh địch phản kích trong trận mở màn Buôn Ma Thuột. Ảnh tư liệu.

Đại đội Xe tăng 5 được biên chế 5 xe, tham gia chiến đấu trên hai hướng, quá trình chiến đấu mỗi hướng hình thành từ một đến hai mũi tiến công, mỗi mũi tiến công có một xe tăng. Trên hướng chủ yếu, đại đội sử dụng một trung đội (3 xe) cùng bộ binh tiến công điểm cao 581 từ phía tây bắc. Hướng thứ yếu sử dụng một trung đội (2 xe) tiến công địch trên Đường 21 từ khu vực ki-lô-mét số 9 đến cầu Ya Ích. Sau khi phát hiện từ ngày 11 đến ngày 14-3, địch liên tiếp dùng máy bay đổ quân xuống điểm cao 581 và các khu vực xung quanh. Đến 6 giờ 30 phút ngày 15-3, địch tiếp tục đưa thêm lực lượng đến tăng viện. Trước thủ đoạn của địch, đúng 7 giờ 30 phút, Đại đội Xe tăng 5 được lệnh xuất kích theo Đường 21, đến tuyến triển khai cách mục tiêu khoảng 500m thì dùng pháo bắn vào đội hình địch, sau đó xung phong lên đánh các mục tiêu theo nhiệm vụ.

Trên hướng chủ yếu, 3 xe tăng của trung đội hình thành hai mũi. Mũi thứ nhất gồm 2 xe tiến gần đến điểm cao thì bị địch bắn trả quyết liệt, buộc phải ra hiệu cho bộ binh xuống xe. Sau đó, một xe tăng tốc vượt lên dùng hỏa lực pháo, súng máy 12,7mm và trung liên chi viện cho bộ binh vòng sang hai bên xung phong lên chiếm điểm cao. Chiếc xe còn lại gặp chướng ngại vật phải dừng lại dùng hỏa lực chi viện. Mũi thứ 2 có một xe từ phía Bắc vòng về phía Đông đón đánh địch từ điểm cao chạy xuống và tiêu diệt địch ở các ấp 1, 2, 3. Trước sức tiến công của xe tăng và bộ binh, lực lượng địch còn lại vội rút khỏi điểm cao 581 chạy về phía Đông. Xe 983 dùng hỏa lực súng máy chi viện cho bộ binh truy kích địch. Đến 12 giờ, ta làm chủ hoàn toàn điểm cao 581. Trên hướng thứ yếu, hai xe tăng của trung đội tiến theo Đường 21, tiêu diệt chốt đầu tiên của địch ở ki-lô-mét 9, phát triển chiến đấu đến gần cầu Ya Ích thì bị địch dùng hỏa lực bắn mạnh vào đội hình làm một xe bị hư hỏng. Chiếc xe còn lại của trung đội tăng tốc vượt lên băng qua cầu, xông thẳng vào trận địa pháo và cùng bộ binh tiêu diệt toàn bộ quân địch, sau đó chốt giữ tại trận địa.

Trong trận đánh này, Đại đội Xe tăng 5 đã vận dụng sáng tạo nghệ thuật tiến công trong hành tiến, đánh đúng thời cơ, tiêu diệt địch nhanh gọn, ít tổn thất. Mỗi xe hình thành một mũi tiến công, chủ động hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt địch trên các hướng và phối hợp chi viện cho nhau trong quá trình chiến đấu; kết hợp đột phá chính diện với tiến công bên sườn phía sau, táo bạo thọc sâu, chia cắt, cơ động hỏa lực linh hoạt; bảo đảm tốc độ chiến đấu nhanh, tiêu diệt gọn, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Vũ Xuân
qdnd.vn

Advertisements

Nhớ những ngày chặn địch ở Tây Nguyên

QĐND Online – Những ngày đầu tháng 3-1975, sau khi Buôn Mê Thuột thất thủ, địch cay cú hô hào tái chiếm, vì vậy, tối 13-3-1975, cánh lính chúng tôi thuộc Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66, Sư đoàn 10) nhận lệnh cắt hướng Phước An (thuộc tỉnh Đắk Lắk) đánh quân địch đổ bộ.

Chặng hành quân của chúng tôi toàn đi trên nương đồi, phía trước địch thả bom toạ độ, rồi từng chập pháo bắn rộ lên. Hai bên đường là những dải đen sẫm nên không thể nhận ra làng bản hay rừng cà phê. Một đồng đội đi sau đẩy vào lưng tôi: “Bám sát lên đi! Người đi trước lạc đường là kéo theo cả một đoàn quân đấy!”. Tang tảng sáng, đơn vị chúng tôi đến một cánh rừng thưa, cây cối lúp xúp. Có lệnh dừng lại, chúng tôi ngồi xuống mà hai mắt díp lại vì buồn ngủ. Bộ đội tản ra các ụ đá nhấp nhô tranh thủ ngủ lấy sức, còn bộ phận nuôi quân gạn nước từ các vũng lầy để nấu cơm.

Hoàng Kim Hậu (đứng thứ hai từ trái sang) chụp ảnh kỷ niệm trước khi vào chiến trường miền Nam (ảnh chụp tại Phú Bình, Thái Nguyên năm 1971)

Khoảng 19 giờ tối ngày 14-3, chúng tôi leo lên đường 14 phía bắc Buôn Mê Thuột. Đang hành quân chui luồn qua nương đồi, nay đi trên mặt đường nhựa rộng rãi, phẳng lì, ai nấy đều thấy thoải mái. Phía sau chúng tôi là Buôn Mê Thuột, ánh hoả mai và tiếng bom vẫn chưa dứt, hình như tất cả chiến tranh đang dồn vào thị xã…

Ðại đội 7 của chúng tôi dẫn đầu đội hình. Chúng tôi vừa đi, vừa nghỉ, cứ dừng lại ngồi xuống là ngủ gật. Quá nửa đêm, cơn buồn ngủ như không thể cưỡng lại. Gần nửa tháng hành quân liên miên, những ai ở trong hoàn cảnh này mới thấy sự kỳ diệu của con người: vừa đi, vừa ngủ, người sau gục vào ba lô người đi trước mà ngủ. Không hiểu chúng tôi ngủ kiểu gì, trong đầu thì mê đi mà chân vẫn bước lẹp kẹp theo đội hình. Gần sáng, có người kéo áo, tôi choàng tỉnh, chợt nhận ra anh Mão – Chính trị viên đại đội. Thì ra, đội hình Tiểu đoàn đang vượt qua một bãi lầy, bên phải đường là một khu ruộng cấy, có một con suối chảy ngang qua, bùn réo ùng ục dưới chân. Leo lên một vạt nương với những bụi chuối tối sẫm, anh Mão và tôi cố vượt lên đuổi theo đơn vị. Có tiếng hỏi của người chỉ huy:

-Này, còn Đại đội 8 đã vượt đường xong chưa?

-Báo cáo, còn hai trung đội nữa đang vượt qua bãi lầy.

-Khẩn trương dồn lên đi. Cần tổ chức cho bộ đội vượt nhanh trước khi trời sáng…

Tôi nhận ra Trung đoàn phó trực tiếp đi theo cánh quân của Tiểu đoàn chúng tôi (người mà đến nay, tôi vẫn chưa kịp nhớ tên). Khi trời sáng rõ, chợt có tiếng đại liên và súng cối nổ ngoài bãi lầy, bộ đội chen nhau vượt lên. Đại đội trưởng chạy ào đến:

– Báo cáo, trung đội 12,7mm của đại đội 8 chưa sang hết. Ðịch đang bắn vào đội hình của ta. Xin ý kiến thủ trưởng!

– Sao các anh ngốc thế – Giọng Trung đoàn phó gay gắt – Hoả lực trong tay, địch bắn vào đội hình mà không kịp làm gì à? Cho bắn 20 quả cối 82mm!

Một bức ký hoạ chiến trường của Hoàng Kim Hậu.

Một lúc sau, tiếng cối của ta đáp lại thật đanh thép, súng 12,7mm quét hàng băng dài qua bãi lầy, địch tán loạn chạy vào trong bản, cối 82mm dồn theo.

Nắng bắt đầu gắt, từ mờ sáng đến trưa, chúng tôi chưa hề gặp một con suối nào. Đất đỏ ba zan ở đây tơi xốp thật, chúng tôi hành quân trong một nương chuối và đu đủ chín rục trên cây. Thỉnh thoảng qua một vạt nương khoai lang, chỉ cần đạp nhẹ một cái là dây và củ bật ra. Quá trưa, ai nấy khát cháy cổ, các bi đông nước đã dốc ngược mà vẫn không thấy một khe suối nào để kiếm nước nấu cơm. Chúng tôi phải dùng dao găm đâm vào gốc chuối để có nước uống, một thứ nước vừa chát, vừa hôi. Không có nước nấu cơm, chúng tôi đành phải lấy chuối chín và đu đủ ăn cho lại sức để tiếp tục hành quân.

Khoảng 13 giờ ngày 15-3-1975, chúng tôi được lệnh tản ra các bụi chuối thay nhau cảnh giới và ngủ lấy sức. Bỗng có tiếng B40 nổ, tiếng đạn cực nhanh loạn xạ, các trung đội nhận lệnh chuẩn bị xuất kích. Súng nổ một chập rồi im lặng, có một toán tàn binh địch gặp đội hình thu dung của ta và xảy ra cuộc đọ súng.

Chiều ấy, chúng tôi tiếp tục hành quân, tối mịt mùng vẫn không ra khỏi khu vườn đu đủ. Vừa đói, vừa mệt, các đại đội chia nhỏ ra từng tổ, thay nhau gác và ngủ qua đêm. Mãi 9 giờ sáng hôm sau, chúng tôi mới ra khỏi vườn cây và tìm được một khe suối bên vạt rừng le lưa thưa, cả đơn vị dừng lại nấu cơm…

Sau hơn 1 tuần hành quân trong rừng, chúng tôi ra tới một sườn đồi, phía trước là một thung lũng rộng với những dông đồi thoai thoải. Con đường 21 uốn lượn bên những sườn đồi xanh mát mắt. Tiếng súng từng chập lại rộ lên, các đơn vị bạn đang chuyển quân rầm rập, xe tăng, xe thiết giáp lấp ló trong cánh rừng thưa. Bất giác, tôi chợt thấy lòng mình rạo rực…

Hoàng Kim Hậu
qdnd.vn

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch phản kích thất bại

Binh lính ngụy bị bắt và giao nộp vũ khí

Ngày 13-3, hai trung đoàn 66 và 28 (Sư đoàn 10) từ Đức Lập hành quân đến Đông-Bắc thị xã Buôn Ma Thuột hỗ trợ các đơn vị bạn đánh địch phản kích. Trong ngày này, lực lượng ta đã đánh quân phản kích chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong khi đó, ở phía Bắc Tây Nguyên và trên chiến trường Trị-Thiên, Khu 5, bộ đội ta đẩy mạnh tác chiến phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, tạo thế chia cắt buộc Quân đoàn 2 ngụy phải phân tán lực lượng đối phó.

Sư đoàn 968 bộ binh đánh chiếm hai chốt địch ở Tây-Nam Pleiku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, pháo kích sân bay Cù Hanh, Kon Tum. Bộ đội địa phương Gia Lai và Kon Tum hoạt động mạnh ở Đông-Nam thị xã Pleiku. Sư đoàn 3 và trung đoàn 95 A chốt giữ các vị trí đã chiếm được Đường số 19, phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang và hướng Vườn Xoài.

Trung đoàn 25 bộ binh diệt một bộ phận quân địch từ Khánh Dương lên và tiếp tục chia cắt đường 21. Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 14 đặc công đánh chiếm một số ấp vùng ven, áp sát sân bay Nhơn Cơ (Quảng Đức).

Ở Trị-Thiên, lực lượng vũ trang gia tăng hoạt động tại vùng giáp ranh uy hiếp thành phố Huế từ phía Tây và Tây Bắc. Ở khu 5, Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 đã diệt chi khu quân sự Tiên Phước, chia cắt đường số 1, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ.

Thắng lợi lớn của ta ở Buôn Ma Thuột và hoạt động phối hợp ở các chiến trường khác đã làm địch lúng túng.

Q.A tổng hợp

sggp.org.vn

Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng

Tại mặt trận Tây Nguyên, sau nhiều ngày truy kích địch và giải phóng các tỉnh, ngày 24-3 được đánh dấu là ngày toàn thắng của chiến dịch Tây Nguyên. Khởi đầu chính thức từ ngày 4-3, bằng ba trận chiến then chốt (tấn công Buôn Ma Thuột; đánh địch phản kích; tiêu diệt địch tháo chạy trên đường số 7) lực lượng ta đã đánh tan Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, các lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung bộ.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Tại Quảng Nam, sau hơn một ngày tấn công, ta đã giải phóng thị xã Tam Kỳ vào lúc 10 giờ 30 ngày 24-3-1975. Tại Quảng Ngãi, 7 giờ sáng quân ta tiến đánh thị xã. Sau một ngày chiến đấu, địch bỏ chạy cùng với một đoàn xe trên 200 chiếc chạy theo đường số 1 về hướng Chu Lai.

Trước đó, lực lượng ta đã tiến công các vị trí phòng thủ của liên đoàn 11 biệt động quân, cắt đường số 1, đoạn từ Sơn Tịnh đi Bình Sơn, chặn đường rút về Chu Lai của địch. Địch lọt vào trận địa phục kích của ta đã thiệt hại nặng nề: 550 tên bị diệt, 3.500 tên bị bắt sống, 206 xe quân sự bị phá hủy.

Nhờ đó, ta đã uy hiếp thế phòng thủ của địch tại phía Nam Đà Nẵng. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lại phải kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng”. Nếu không giữ được Đà Nẵng thì phải cầm cự 1-2 tháng để bố trí lại thế phòng thủ chiến lược và di tản một triệu dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao ép buộc ta ngừng tấn công.

Vào ngày này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và khẳng định thời cơ chiến lược lớn đã đến. Bộ Chính trị quyết định: Hành động nhanh chóng, táo bạo bất ngờ đánh địch, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

N.T.H.H tổng hợp

sggp.org.vn

Chiến dịch Tây Nguyên: Vô tiền khoáng hậu

(VnMedia) – Trong cuộc Tổng tấn công Mùa xuân 1975, chiến dịch Tây Nguyên là sự kiện mở đầu và quan trọng bậc nhất, tạo tiền đề cho chiến thắng 30/4 vĩ đại của dân tộc. Cùng nghe Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tổng tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên kể về sự kiện này.

https://i1.wp.com/vnmedia.vn/images_upload/small_267869.jpg

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tổng tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên

Nghệ thuật nghi binh

Chiến dịch Tây Nguyên (Chiến dịch 275) là sự kiện mở đầu cho cuộc Tổng tấn công Mùa xuân 1975. Lúc đó Trung tướng Nguyễn Quốc Thước là người thay mặt Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên ra Hà Nội nhận lệnh của đại tướng Võ Nguyên Giáp về chiến dịch Tây Nguyên.

Tây Nguyên là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng. Ngày xưa giặc Pháp tuyên bố ai chiếm được Tây Nguyên thì sẽ chiếm được 3 nước Đông Dương. Đến khi giặc Mỹ đổ quân Việt Nam, chúng cũng nhận thấy được tầm quan trọng của mặt trận này nên đã điều những sư đoàn mạnh nhất vào đây. Đáng kể là sư đoàn không quân “Anh cả đỏ” khét tiếng, sư đoàn 4 bộ binh và sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” nổi tiếng tinh nhuệ và tàn bạo.

Bộ chính trị nhận thấy việc chiếm Tây Nguyên sẽ tạo thuận lợi để giải phóng các tỉnh duyên hải miền Trung và Sài Gòn. Quân địch đóng ở Tây Nguyên với lực lượng vô cùng mạnh, trong khi trên Tây Nguyên, ta chỉ có 2 sư đoàn, việc phối hợp với lực lượng tăng cường là cực kỳ khó khăn. Nhưng quân ta đã dùng chiến thuật nghi binh để đánh lạc hướng kẻ địch, lừa địch tưởng rằng ta sẽ đánh ở phía Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai) và hút đại bộ phận địch lên đó.

Các hoạt động nghi binh của ta cũng hết sức nghệ thuật, hoàn toàn đánh lừa địch. Ta tổ chức nhiều trận đánh giả để lừa địch quân ta vẫn còn ở phía Bắc. Nhận thấy các đài vô tuyến điện của quân ta, địch có thể định vị bằng công nghệ cao, ta đánh phải tương kế tựu kế đánh lừa địch. Quân ta vẫn giữ nguyên 3 máy vô tuyến điện như cũ, hàng ngày phát sóng các thông tin một cách đều đặn như khi ta vẫn ở đó. Bên cạnh, quân ta để nguyên đường dây điện thoại như cũ, đánh lạc hướng hoàn toàn sự định vị của địch.

Khi địch vẫn cho rằng quân ta đang đóng ở phía Bắc, thì chúng ta gồm khoảng 3 vạn quân, hàng nghìn xe ô tô, hàng trăn xe pháo binh, xe tăng, cao xạ bí mật đi vào miền Nam Tây Nguyên bằng đường hậu phương, giáp biên giới, rất xa tầm kiểm soát của địch.

Trên đường di chuyển, các hoạt động ngụy trang của quân ta hết sức an toàn, chặt chẽ. Ngoài các biện pháp ngụy trang thông thường, để xóa dấu vết của xe ô tô, xe tăng, ban đêm quân đội ta đã cho chặt cây, chẻ đôi để lát đường. Các cây bị chặt cũng phải chặt sát gốc. Mùa khô ở Tây Nguyên lá khô rụng rất nhiều lập tức che khuất những gốc cây bị chặt. Cứ như thế, cả đoàn quân giải phóng Việt Nam ròng rã 1 tháng trời từ từ tiến vào Buôn Ma Thuột, gây bất ngờ lớn cho cả Mỹ lẫn Ngụy.

Giải phóng Tây Nguyên

Đêm 10/3, quân ta bắt đầu đánh vào Buôn Ma Thuột, nhưng lúc đó, quân địch không tin rằng ta đã đưa quân vào sát đến đây. Thậm chí tên Vũ Thế Quang là sư phó sư đoàn 23, Tổng chỉ huy lực lượng địch ở khu vực này còn tuyên bố rằng, quân ta sẽ sớm rút ra ngay sáng hôm sau chứ không thể trụ lại lâu được. Nhưng chúng không hề biết xe tăng, pháo binh, cao xạ của quân ta đã áp sát.

Chỉ trong 32 giờ đồng hồ, quân ta đã chiếm đóng hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Nhưng lúc đánh vào đây, quân địch ở Tây Nguyên vẫn còn nhiều với hơn 6 vạn quân chủ lực gồm 1 sư đoàn không quân, 2 sư đoàn ngụy, 7 liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn bộ binh, 4 trung đoàn thiết giáp, 4 sư đoàn pháo tầm xa vô cùng mạnh. Lúc quân ta đánh vào Buôm Ma Thuột phải trói chặt những cánh quân này của địch, không cho chúng tiến vào. Tất cả các đường từ Kon Tum, Playku, đường từ Bình Định, đường từ Ninh Hòa là 3 con đường chiến lược để địch có thể tiến vào Buôn Ma Thuột đều bị quân ta chặn đứng bằng 2 sư đoàn. Cắt đứt mọi hướng liên lạc của địch. Cuối cùng địch còn lại sư đoàn 23 đổ quân xuống phía đông hòng cứu vãn Buôn Ma Thuột, nhưng ngay lập tức bị sư đoàn 10 của quân ta chờ sẵn, tiêu diệt hoàn toàn.

Ngày 16 trở đi, quân địch tháo chạy nhưng quân ta vẫn chưa tha cho chúng. Nhận thấy con đường duy nhất mà địch có thể chạy trốn là đường 7, khu vực Cheo Reo – Phú Bổn, quân ta lập chức cho trung đoàn 64 ngày đêm vượt đường, chặn cầu cắt đường chặn địch lại. Toàn bộ quân địch ở Tây Nguyên lập tức bị chặn đứng. Chúng đành phải tháo bỏ toàn bộ xe tăng, pháo…để thoát thân. Còn 1 số khác vượt lên được cũng bị chúng ta đón đầu, đuổi về Phú Yên và tiêu diệt toàn bộ.

Chỉ trong mấy ngày đêm, quân ta hoàn toàn giải phóng Tây Nguyên. Sau đó chúng ta còn giải phóng thêm 3 tỉnh đồng bằng là Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Như vậy lúc này, toàn bộ chiến trường miền Nam của địch bị chặt đứt làm 3 khúc. Khúc giữa là của ta, gồm 3 tỉnh đồng bằng và 4 tỉnh trên Tây Nguyên. Khúc phía Bắc của địch là Huế và Đà Nẵng và khúc phía Nam là từ Tây Nguyên trở vào cũng được quân ta giải phóng 1 thời gian sau đó.

Như vậy chiến thắng chiến dịch Tây Nguyên không chỉ là giải phóng Tây Nguyên, giải phóng 3 tỉnh đồng bằng, đó còn là sự đột biến về mặt chiến lược, chiến thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ tấn công chiến lược phát triển thành tổng tấn công chiến lược, thế trận của địch bị đập tan. Từ 30% – 40% lực lượng quân địch đã bị tiêu diệt ở chiến dịch Tây Nguyên. Hơn nữa, chiến thắng này cũng khiến thế trận của địch bị chia làm 3 khúc, mà ta là khúc giữa, cắt đứt liên lạc từ 2 khúc còn lại của địch. Đây cũng là tiền đề cho đại thắng Mùa xuân 1975 vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Hoàng Đức Nhã

Cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo: Linh hồn của chiến dịch Tây Nguyên

LTS: Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh: Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (ảnh) là Tư lệnh chiến dịch và Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp là Chính ủy chiến dịch.

Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) chỉ trong 55 ngày.

Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây Nguyên.

Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận”.

Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.

Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku – Kon Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam Bắc (tức Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh: “Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.

Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ, những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập tắt.

Ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này ngay tại thị xã Tuy Hòa.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà giáo nhân dân, Giáo sư – cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.

Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên – nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

LÊ VĂN HIẾU

SGGP Online

Chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

Tây nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng, vì vậy Mỹ- ngụy đã biến Tây Nguyên thành một căn cứ chiến lược lớn, hòng đè bẹp phong trào cách mạng ở cả 3 nước Đông Dương, ngăn chặn sự chi viện của ta từ miền Bắc vào và từ rừng núi xuống đồng bằng.

Quân địch ở Tây Nguyên tháo chạy tán loạn trên đường số 7 ngày 16-3-1975.

Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta đã tiến hành một loạt biện pháp nghi binh công phu và tích cực để thu hút và giam chân quân chủ lực cơ động của địch tại Bắc Tây Nguyên, trong khi ta tập trung lực lượng tiến công Nam Tây Nguyên khiến địch hoàn toàn bất ngờ và nhanh chóng thất bại. Ngày 4-3-1975, chiến dịch Tây Nguyên bắt đầu. Ngày 24-3 chiến dịch kết thúc.

Với chiến thắng Tây Nguyên, cuộc chiến tranh cách mạng đã bước sang một giai đoạn mới, từ tiến công có ý nghĩa chiến lược, phát triển thành Tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.

Chiến dịch Tây Nguyên, ta đã tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 ngụy cùng một bộ phận cơ động chiến lược của chúng. Tiêu diệt sư đoàn 22 và 23, lữ đoàn 3 dù, 8 liên đoàn biệt động quân, 1 liên đoàn công binh, 4 thiết đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh, đánh thiệt hại nặng sư đoàn 6 không quân.

Tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn và 51 đại đội bảo an cùng toàn bộ lực lượng cảnh sát, dân vệ trong 7 tỉnh. Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20.000 tên địch, thu và phá hủy 154 máy bay, 1.096 xe, 17.188 khẩu súng các loại cùng toàn bộ các cơ sở hậu cần kỹ thuật, kho tàng của địch ở Tây Nguyên. Giải phóng 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức.

N.T.H.H tổng hợp

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nguyên Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên

“Trong chiến dịch Tây Nguyên, mưu kế ta cũng hay, thế và thời ta cũng đẹp. Ta dùng một sư đoàn đánh nghi binh tại Pleiku, buộc địch phải dồn cả lực lượng vào giữ Pleiku, bỏ lỏng Buôn Ma Thuột.

Ở Buôn Ma Thuột địch chỉ còn một trung đoàn chủ lực và 3 tiểu đoàn địa phương. Còn ta dùng 3 sư đoàn tăng cường. Lực lượng ta đánh vào Buôn Ma Thuột như đá chọi vào trứng.

Trong chiến dịch, chọn hướng tiến công chủ yếu là rất quan trọng để tập trung lực lượng vào đó. Điểm đúng huyệt là toàn cơ thể bị tê liệt.

Buôn Ma Thuột là đột phá khẩu không chỉ là điểm của Chiến dịch Tây Nguyên mà đã trở thành đột phá khẩu chiến lược của cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân 1975”.

*
*     *

Vào tháng 12-1974, tại Dinh Độc Lập, trong cuộc họp với các tướng lĩnh bàn về kế hoạch tác chiến năm 1975, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu đã hỏi Phạm Văn Phú, thiếu tướng, tư lệnh Quân khu 2: “Nếu đánh vào cao nguyên, họ sẽ đánh vào đâu?”.

Phú trả lời: “Chắc chắn họ sẽ đánh Pleiku”. 2 giờ sáng 10-3, Phú kinh hoàng khi nghe tin quân giải phóng đánh vào Buôn Ma Thuột. Trước cuộc tấn công vũ bão của quân ta, Phạm Văn Phú cùng bộ sậu bỏ chạy về Nha Trang vào ngày 15-3, dù trước đó đã tuyên bố “sẽ ở lại Pleiku và chết ở đó”. Rồi, Phú chạy về Phan Thiết và trốn về Sài Gòn. Mất chức, mất quân, mất hết danh vọng, Phú đành tìm cái chết bằng một liều độc dược.

SGGP Online

Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng

Tại mặt trận Tây Nguyên, sau nhiều ngày truy kích địch và giải phóng các tỉnh, ngày 24-3 được đánh dấu là ngày toàn thắng của chiến dịch Tây Nguyên. Khởi đầu chính thức từ ngày 4-3, bằng ba trận chiến then chốt (tấn công Buôn Ma Thuột; đánh địch phản kích; tiêu diệt địch tháo chạy trên đường số 7) lực lượng ta đã đánh tan Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, các lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung bộ.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Tại Quảng Nam, sau hơn một ngày tấn công, ta đã giải phóng thị xã Tam Kỳ vào lúc 10 giờ 30 ngày 24-3-1975. Tại Quảng Ngãi, 7 giờ sáng quân ta tiến đánh thị xã. Sau một ngày chiến đấu, địch bỏ chạy cùng với một đoàn xe trên 200 chiếc chạy theo đường số 1 về hướng Chu Lai.

Trước đó, lực lượng ta đã tiến công các vị trí phòng thủ của liên đoàn 11 biệt động quân, cắt đường số 1, đoạn từ Sơn Tịnh đi Bình Sơn, chặn đường rút về Chu Lai của địch. Địch lọt vào trận địa phục kích của ta đã thiệt hại nặng nề: 550 tên bị diệt, 3.500 tên bị bắt sống, 206 xe quân sự bị phá hủy.

Nhờ đó, ta đã uy hiếp thế phòng thủ của địch tại phía Nam Đà Nẵng. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lại phải kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng”. Nếu không giữ được Đà Nẵng thì phải cầm cự 1-2 tháng để bố trí lại thế phòng thủ chiến lược và di tản một triệu dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao ép buộc ta ngừng tấn công.

Vào ngày này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và khẳng định thời cơ chiến lược lớn đã đến. Bộ Chính trị quyết định: Hành động nhanh chóng, táo bạo bất ngờ đánh địch, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online