Linh hoạt sử dụng phương pháp bắn pháo binh

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Đại đội 26, Tiểu đoàn 2 (Đoàn Pháo binh 75 Nam Bộ) nhận nhiệm vụ dùng hỏa lực bắn kiềm chế sân bay Biên Hòa nhằm hạn chế khả năng hoạt động, tiến tới làm tê liệt hoàn toàn sân bay địch, góp phần bảo đảm cho các đơn vị chủ lực của ta cơ động triển khai trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong điều kiện khó khăn, thời gian gấp, Đại đội 26 đã tập trung lực lượng, thực hiện tốt công tác chuẩn bị để bước vào chiến đấu thắng lợi.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm sân bay Biên Hòa. Ảnh tư liệu.

Tuy mọi mặt công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, nhưng đại đội chưa thể khai hỏa vì thông tin liên lạc giữa đài quan sát và trận địa vẫn chưa thông suốt. Mặc dù chưa bắt được liên lạc với đại đội trưởng ở đài quan sát luồn sâu, song chấp hành lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, ngày 14-4-1975, chỉ huy Đại đội 26 quyết định thay đổi phương pháp bắn từ có quan sát và sửa bắn (qua bắn thử) sang bắn không quan sát thấy (bắn hiệu lực ngay), chỉ bắn một thước tầm và hướng bắn hỏa lực tập trung. Mục tiêu bắn đầu tiên, với số đạn bắn 24 viên trên 3 khẩu, theo phương pháp gấp bắn, ngay loạt đạn đầu đã trúng mục tiêu. Sân bay Biên Hòa bị tê liệt, sau 10 phút, trực thăng vũ trang của địch trong sân bay mới cất cánh cùng với máy bay trinh sát, phản lực chiến đấu từ sân bay khác đến quần lượn, ném bom, bắn rốc két xuống khu vực xung quanh trận địa pháo của ta. Pháo binh của địch ở gần sân bay cũng bắn dồn dập nhiều giờ vào những nơi nghi ngờ ta đặt trận địa pháo. Nhờ ngụy trang kín đáo bằng các trận địa giả, khéo nghi binh, sử dụng phương pháp bắn linh hoạt, Đại đội 26 vẫn giữ được bí mật, an toàn.

Sau một ngày tạm ngừng bắn, ngày 16-4, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào 3 mục tiêu khác trong sân bay kéo dài suốt ngày, với 52 viên đạn làm cho sân bay của địch bị tê liệt trong nhiều giờ. Bị đánh phá mạnh, địch phản ứng quyết liệt. Chúng cho máy bay nhiều lần ném bom vào trận địa pháo của ta và các khu vực xung quanh. Để bảo vệ trận địa pháo, Bộ chỉ huy chiến dịch điều thêm các khẩu đội pháo phòng không và đại đội bộ binh tăng cường bảo vệ, điều một đại đội ĐKZ của Đoàn Pháo binh 75 về tham gia chế áp pháo binh địch, hỗ trợ cho Đại đội 26 hoàn thành nhiệm vụ “khóa chặt sân bay Biên Hòa”. Các ngày tiếp theo, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào các mục tiêu khác trong sân bay, làm cho sân bay Biên Hòa hoàn toàn bị tê liệt, gây thiệt hại nặng nề cho địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Xuân Vũ

qdnd.vn

Advertisements

Hiệp đồng chặt chẽ, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Sau hiệp định Pa-ri được ký kết ngày 27-1-1973, so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi căn bản, có lợi cho ta bất lợi cho địch. Nắm thời cơ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong 2 năm 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, nhanh chóng làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho ta, tích cực làm mọi công tác chuẩn bị, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt toàn bộ quân địch, từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Nếu thời cơ đến sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, đầu năm 1975, ta mở ba chiến dịch lớn là Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1975 đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự: Tạo ưu thế lực lượng, bảo đảm đánh địch trên thế mạnh; vận dụng sáng tạo cách đánh chiến dịch; phát huy sức mạnh các binh chủng, quân chủng trong tác chiến quy mô lớn và đặc biệt là kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhân dân. Sự kết hợp các đòn tiến công như vũ bão của các binh đoàn chủ lực với nổi dậy của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, kết hợp tiêu diệt địch với giành quyền làm chủ, tạo sức mạnh áp đảo, trong đó đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực đi trước có tác dụng trực tiếp tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, quyết định thắng lợi trên chiến trường, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy. Ngược lại, sự nổi dậy của quần chúng có tác dụng căng kéo, phân tán địch, giành dân, giành đất, mở ra thế trận tiến công mới, làm cho LLVT ta tăng thêm sức mạnh, có điều kiện và thời cơ tiến lên đánh to, thắng lớn. Đó là sự vận dụng, phát triển sáng tạo việc kết hợp hai hình thức đấu tranh: Đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; hai phương thức tiến hành chiến tranh: Chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích.

Xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975.

Trong chiến dịch Tây Nguyên, phối hợp với đòn tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực, nhân dân và LLVT địa phương tiến hành các hoạt động tác chiến nghi binh, triển khai làm đường cơ động, phát động quần chúng nổi dậy diệt bắt ác ôn, truy lùng bọn tề điệp, giành chính quyền ở từng khu phố. Quần chúng nhân dân nổi dậy phá “ấp chiến lược”; vận động, làm tan rã địch, cùng Ủy ban Quân quản ổn định tình hình địa phương sau khi được giải phóng.

Chiến dịch Huế – Đà Nẵng thể hiện sự phát triển cao nghệ thuật kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, tiêu diệt và làm tan rã tập đoàn lớn quân địch, vừa giải phóng khu vực, vừa giải phóng thành phố, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Trên hướng Trị Thiên-Huế, đòn tiến công của Quân đoàn 2, trực tiếp là Sư đoàn 324 đã phá một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực Đường 14 phối hợp với nhân dân địa phương nổi dậy giành chính quyền, giải tán toàn bộ chính quyền ngụy Sài Gòn. Trên hướng Đường 12, Trung đoàn 6 và Trung đoàn 271 (Quân khu Trị Thiên) tiến qua sông Hương vào Huế; Trung đoàn 3 (Sư đoàn 324) từ phía nam phối hợp cùng với xe tăng phát triển tiến công vào nội đô, nhân dân ở quận 1, 2 nội thành Huế và quận Phú Vang nổi dậy đánh chiếm, treo cờ ở quận lỵ, tổ chức đón bộ đội, tự vệ nội thành chiếm giữ một số mục tiêu trong thành phố, du kích và nhân dân địa phương dẫn đường, truy lùng địch, giúp bộ đội qua sông, diệt tề điệp, ác ôn. Trên hướng Đà Nẵng, khi các đơn vị chủ lực Quân đoàn 2 phối hợp với LLVT Quân khu 5, nhanh chóng thọc sâu bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, tiến thẳng vào thành phố, đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, thì LLVT địa phương và quần chúng cách mạng nổi dậy giải phóng Hội An và một số nơi khác. Trong thành phố, lực lượng du kích, tự vệ phối hợp tiến công khu nhà lao, bảo vệ các cơ sở sản xuất, kinh tế, văn hóa, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo đảm cho thành phố ổn định sinh hoạt bình thường ngay sau khi giải phóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh có quy mô lực lượng lớn, cường độ tiến công, trình độ tác chiến hiệp đồng cao, đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các binh đoàn chủ lực với nhân dân và LLVT địa phương, giữa các cánh quân và các binh chủng hợp thành. Trong chiến dịch này kết hợp với các đòn tiến công áp đảo của các binh đoàn chủ lực, nhân dân thành phố dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng, hỗ trợ của các đơn vị đặc công, biệt động, bộ đội địa phương thành phố, nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền ở nhiều khu vực nội, ngoại thành, các huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức. Ở nội thành, quần chúng kết hợp với LLVT tại chỗ nổi dậy chiếm trụ sở một số khóm, phường của hầu hết các quận và 6 tòa hành chính quận, đến chiều 30-4-1975 cơ bản ta đã giành quyền làm chủ, kiểm soát tất cả các quận, huyện, phường, xã. Đòn nổi dậy của quần chúng trong chiến dịch Hồ Chí Minh với quy mô rộng lớn, hình thức phong phú đa dạng, kết hợp với tiến công quân sự, nòng cốt là các binh đoàn chủ lực, đã phản ánh quy luật của khởi nghĩa và đạt tới trình độ nghệ thuật phát triển cao của chiến tranh cách mạng.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1975 kết thúc thắng lợi, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của tất cả các thành phần, lực lượng của cả nước, trong đó sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, phát triển trở thành nét đặc sắc trong nghệ thuật toàn dân đánh giặc, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bài học kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào xây dựng nền nghệ thuật quân sự hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá Đào Văn Đệ

qdnd.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 1)

“Đã ra quân là đánh thắng” – câu nói đã ngấm vào máu, khắc vào xương, là niềm tự hào đồng thời cũng là trách nhiệm cao cả của những người lính xe tăng đã viết lên những bản hùng ca 52 năm qua.

Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Năm 1968, lần đầu tiên xe tăng Việt Nam xuất kích, địch đã hoàn toàn bị bất ngờ, hoảng loạn chỉ còn biết tháo chạy. Chiến thắng vang dội ở Tà Mây – Làng Vây, góp phần vào chiến thắng chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, đi vào lịch sử Binh chủng Tăng – Thiết giáp như một mốc son chói lọi, mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”.

Ngày 5/8/1967, sau gần 8 năm thành lập, Bộ Tư lệnh thiết giáp được lệnh sử dụng 2 đại đội xe tăng vào Nam chiến đấu. Hai đại đội PT-76 (đại đội 3 và đại đội 9) của Trung đoàn xe tăng H03 được lựa chọn và tổ chức thành tiểu đoàn mang phiên hiệu 198. Ngày 1/10/1967, tiểu đoàn 198 bắt đầu Nam tiến.

Sáng tạo táo bạo

Hơn 2 tháng hành quân bằng bánh xích, vượt trên 1.000 km đường Trường Sơn, toàn tiểu đoàn đến vị trí tập kết với 100% trang bị chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân phải đảm bảo tuyệt đối bí mật ấy, những người lính xe tăng đã có nhiều sáng tạo đến táo bạo. Theo thiếu tướng Lê Xuân Tấu, nguyên trưởng xe tăng 555, đơn vị di chuyển chủ yếu vào ban đêm bằng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng.

Những đêm mù sương, các trưởng xe phải đi bộ trước mũi xe, khoác dù trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi phủ lên ống xả, vừa ngăn được tiếng ồn, vừa tránh bụi lửa phóng ra từ ống xả. Một bộ bánh xích chỉ cho phép chạy được từ 400 đến 500km trong điều kiện đường tốt. Lần này, do xe tăng của ta phải vượt đoạn đường với địa hình phức tạp, nhiều đá to, ngầm, sông… đặc biệt là phải đi dưới làn bom, đạn pháo địch, nên hơn 90% bánh đỡ nặng và gần 50% mắt xích bị hỏng.

Mắt xích và bánh chịu nặng của xe PT-76 đã vượt hơn 1.000km đường Trường Sơn vào tham gia trận đánh Làng Vây năm 1968. Ảnh: Hà Dương.

Các kíp xe đã đảo xích bên phải sang bên trái và ngược lại, đồng thời, lắp xen kẽ mắt xích lành với mắt xích hỏng để đảm bảo hành quân – cái sáng tạo chỉ có ở người lính xe tăng Việt Nam. Tới điểm tập kết, đơn vị đã nhanh chóng ổn định trú quân an toàn, khắc phục các sự cố của xe, sẵn sàng chiến đấu.

Hằng ngày, máy bay trinh sát địch luôn vè vè trên đầu, máy bay B-52 chốc chốc lại giội bom bừa bãi xuống những nơi nghi vấn, nhưng chúng không thể phát hiện ra hàng chục xe tăng nằm chình ình hơn 10 ngày ngay sát cứ điểm, trên đồi không có lấy một bóng cây chỉ bạt ngàn cỏ tranh. Vì xe đã được phủ bằt các sọt cỏ tranh được trồng và tưới nước hằng ngày.

Nguyên Đại đội trưởng Đại đội tăng 9 Ngô Xuân Nghiêm, cho biết, trong từng trận chiến đấu, tính sáng tạo của lính tăng cũng được thể hiện hết sức sinh động. Câu chuyện kíp xe 569 là ví dụ. Lái xe Phạm Văn Hương bị thương ở chân. Vì không có lái xe thay thế, kíp xe đã sáng kiến Hương lái, còn pháo thủ dùng chân đạp cần lái. Nhờ đó, xe tăng 569 vẫn cùng đồng đội lao về phía trước tiêu diệt địch. Hay chuyện chiếc kính ngắm của xe 565 bị hỏng, pháo thủ đã trực tiếp ngắm qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu… Những sáng tạo đó đã góp phần làm nên chiến thắng.

Tập kích bất ngờ

Thắng lợi Tà Mây – Làng Vây có vai trò rất lớn của việc bảo đảm bí mật, bất ngờ trong hành quân, trú quân và tập kết chiến đấu. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên của ta trên chiến trường và cũng không biết bằng cách nào ta có thể đưa được những chiếc xe tăng vượt qua núi rừng Trường Sơn điệp trùng hiểm trở.

Yếu tố bí mật đó thật sự tạo nên bất ngờ rất lớn trong trận Huội San (Tà Mây). Ngày 24/1/1968, đại đội xe tăng 3 đã tấn công cứ điểm này. Hai xe tăng 555 và 558 đã lao thẳng vào căn cứ của địch, bắn sập các lô cốt, hỏa điểm của địch. Bất ngờ trước sự xuất hiện của xe tăng ta, quân địch hoảng hốt tháo chạy tán loạn, quân ta làm chủ trận địa trong một thời gian ngắn.

Đoàn tiền trạm của Tiểu đoàn 198 chuẩn bị cho trận đánh Tà Mây – Làng Vây. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Đến khi đánh cứ điểm Làng Vây, yếu tố bất ngờ về sự xuất hiện của xe tăng không còn nữa, ta lại tạo ra sự bất ngờ mới về hướng tiến công. Để chuẩn bị tiến công, từ ngày 19/1/1968, đại đội tăng 9 đã nhiều lần cùng bộ đội công binh dùng mảng nứa, bí mật thăm dò lòng sông Sêpôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông và đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể.

Đại đội xe tăng 9 bơi xuôi theo dòng sông Sêpôn từ vị trí tập kết chiến đấu ở đồi Pê Sai vào tuyến điều chỉnh cuối cùng ở Làng Troài, cách địch gần 2km. Sông Sêpôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng, địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động theo dòng sông để tập kích vào hướng này.

Các chiến sỹ công binh đã bơi lặn trong dòng nước lạnh buốt đo mực nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm và phá những tảng đá to trên quãng sông nước cạn, để mở đường cho xe tăng đi bằng xích. Những đoạn có nhiều đá ngầm, các chiến sĩ công binh quấn dù trắng trên mình, đứng dọc hai bên để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng bơi. Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đến 23g cả 8 xe đều đến được vị trí cuối cùng ở khu vực cầu Bi Hiên cách cứ điểm địch khoảng 2km. Lúc này pháo binh địch từ Tà Cơn và hỏa lực địch trong căn cứ Làng Vây bắn mạnh ra trên cả hai hướng, máy bay địch cũng bắt đầu thả pháo sáng, bắn phá ngăn chặn ta tiến công.

Đúng 23g25, ngày 6/2/1968, Sở chỉ huy hạ lệnh và phát tín hiệu xung phong. Xe tăng của ta đồng loạt vượt cửa mở, dẫn bộ binh xung phong vào trong cứ điểm của địch. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao. Xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 2)

Ở Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp, có một hiện vật không thuộc nhóm vũ khí khiến khách tham quan không khỏi rưng rưng. Đó chính là nắm cơm bị cháy.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Đầu năm 1972, chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch xuân – hè nhằm tiêu diệt căn cứ Đăk Tô – Tân Cảnh bằng trận chiến hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia, góp phần tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch.

Như mũi tên thép

Đăk Tô – Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của ngụy quân ở bắc Tây Nguyên, mà Mỹ – ngụy cho là vành đai thép án ngữ hành lang Trường Sơn, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng địch được bố trí ở dãy cao điểm phía tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum.

Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh là giải phóng 1/3 mạn bắc tỉnh Kon Tum, làm sụp đổ tuyến phòng thủ bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn. Sau khi vừa tham chiến ở Đường 9 – Nam Lào trở về, tiểu đoàn 297 tăng thiết giáp lại được lệnh tiến vào chiến trường Tây Nguyên với khẩu hiệu “Tiến sâu – Ở lâu – Đánh thắng!”. Sau 2,5 tháng hành quân, đến đầu năm 1972 thì tới ngã ba biên giới Đông Dương.

Đêm 23/4/1972, từ ngầm sông Pô Kô Hạ, đại đội 7 gồm 9 chiếc xe tăng cùng trung đoàn 66 bộ binh bắt đầu xuất kích. 1g ngày 24/4/1972, xe 377 dẫn đầu tấn công vào hướng đông căn cứ e42 – Tân Cảnh, mở màn trận đánh tiêu diệt cụm cứ điểm này. Sau hơn nửa giờ chiến đấu ác liệt, căn cứ của địch chìm trong khói lửa.

Xe 377 cùng đồng đội xuất kích trong trận Đắk Tô – Tân Cảnh 1972 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Đến 4h30, xe 377 dẫn đầu cho bộ binh và xe 357 xốc tới, dũng mãnh tấn công, như một mũi thép lướt qua công sự, chiến hào, vật cản của địch… tiến thẳng vào sở chỉ huy e42, khiến đại tá cố vấn Mỹ, đại tá Lê Đức Đạt chết tại chỗ, đại tá Vi Văn Bình bị bắt sống. Đến 8h cùng ngày, ta cơ bản làm chủ khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh.

Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh ngụy. Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định điều một trung đội xe tăng, gồm xe 377, 354, 369 vận động theo đường 18 lên hiệp đồng với Trung đoàn 1, Đoàn 2, tiêu diệt địch ở căn cứ Đăk Tô 2.

Một đấu mười

Mặc dù không có thời gian chuẩn bị nhưng, Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển, Trung đội trưởng Trung đội tăng 3 (ngồi trên xe 377) đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, vừa cơ động, quan sát nắm địch, đồng thời dẫn trung đội vận động với tốc độ cao, dũng cảm vượt qua các trận địa, sự bắn phá ác liệt của máy bay địch để đến căn cứ Đăk Tô 2 trước thời gian.

Xe 377 lại tiếp tục dẫn đầu hai xe 354 và 369 lao thẳng vào cứ điểm. Vì gặp chướng ngại vật nên hai xe kia bị tụt lại phía sau. Địch thấy chỉ có mỗi một xe 377 đơn độc bèn cho xuất kích 10 chiếc tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây. Xe 377 lọt vào giữa vòng vây của địch. Cuộc đấu 1 chọi 10 diễn ra ác liệt.

Xe 377, huyền thoại của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trong tình thế nguy nan, Nguyễn Nhân Triển đã bình tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn cháy 7 xe M41, làm rối loạn đội hình địch. Xe tăng 354, 369 trên đường cơ động, biết xe 377 gặp khó khăn chờ chi viện đã chạy với tốc độ cao nhất lao lên trận địa, bắn cháy 3 xe tăng địch. Lúc đó, một xe tăng địch ở phía Nam sân bay dã chiến Phượng Hoàng bắn trúng xe 377.

Dù xe bốc cháy, nhưng kíp xe vẫn kiên cường truy kích địch. Nhưng cuối cùng 4 chiến sĩ trong xe là Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển, Hạ sĩ pháo thủ Hoàng Văn Ái, Nguyễn Đắc Lương và Hạ sĩ lái xe Cao Trần Vịnh đã anh dũng hy sinh. Lúc này xe tăng, bộ binh ta mãnh liệt tiến lên tràn vào tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.

11h30 hôm ấy lá cờ của Tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 tung bay trên cứ điểm Đăk Tô. Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Bờ lêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận ĐăkTô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến ĐăkTô, về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kontum được giải phóng.

Xác những chiếc xe tăng Mỹ do kíp xe 377 bắn cháy tại trận Đắk Tô 2 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy xe 377 đang bốc cháy giữa ngổn ngang xác xe tăng địch. Bên cạnh thi thể không còn nguyên vẹn của các anh, là những nắm cơm mà các anh chưa kịp ăn giữa hai trận đánh đã bị cháy thành than. Tập thể kíp xe 377 đã lập kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao: 1 xe tăng tiêu diệt 7 xe tăng địch trong một trận đánh.

Với chiến công trên, tập thể xe 377 đã nêu tấm gương sáng về bản lĩnh kiên cường. Chiến công của xe 377 được coi là chuyện huyền thoại của Binh chủng tăng thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xe tăng 377 đã trở thành kỷ vật vô cùng thiêng liêng, tự hào của Đơn vị H73 và gia đình các liệt sĩ.

Ghi nhớ chiến công của các anh, chiếc xe tăng 377 đã trở thành tượng đài đặt ở giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô, nơi các anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Phần hài cốt của các anh đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Đăk Tô, mảnh đất nơi các anh đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho đất nước; còn nắm cơm đã cháy thành than, cùng các di vật của kíp xe 377 hiện vẫn đang được lưu giữ tại Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp. Ngày 1/9/2009 nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho kíp xe tăng 377.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ cuối)

Hơn 30 năm đã qua đi, nhưng hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống ngụy quyền trưa 30/4/1975 mãi là biểu tượng chiến thắng huy hoàng của dân tộc.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng
>> Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Kỳ cuối: “Nhân chứng” đặc biệt

(Đất Việt) Sau khi giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết, ngày 26/4/1975, toàn bộ lực lượng của ta bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ba ngày sau, đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong – Trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu tiến vào Sài Gòn.

Thần tốc, táo bạo

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về tử thủ ở ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn. Nửa đêm 29/4, tiểu đoàn 1 đi đầu đội hình đến phía bắc cầu Xa Lộ. Xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu.

Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu. Sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức. Sau khi đánh bại địch giữ cầu Xa Lộ, binh đoàn thọc sâu tức tốc vượt cầu, nhanh chóng vượt qua các tuyến ngăn chặn của địch.

Cánh cổng sắt Dinh tổng thống Nguỵ dưới vành xích xe 390.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

8h ngày 30/4/1975, trong đội hình đại quân thần tốc tiến vào nội đô Sài Gòn, kíp xe 390 gồm: Trung úy Vũ Đăng Toàn chỉ huy xe tăng 390, chính trị viên đại đội 4, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập – lái xe, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên – pháo thủ số 1 và Thiếu úy Lê Văn Phượng – pháo thủ số 2, đi đầu đội hình, vượt qua cầu Thị Nghè, gặp xe tăng địch ra ngăn chặn. Bằng một phát đạn xuyên táo, xe 390 diệt luôn 2 xe M113, số xe địch còn lại hoảng sợ bỏ chạy.

Xe tăng 390 tăng tốc theo đại lộ Hồng thập tự, tiến vào đánh chiếm Dinh tổng thống Nguỵ. Thiếu uý Lê Văn Phượng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 4 nhớ lại, theo phương án tác chiến, xe tăng 390 đến ngã tư thứ 7 thì rẽ trái là vào đến Dinh tổng thống Nguỵ, nhưng vì cả kíp xe không ai biết Dinh ở đâu, xe đã chạy quá một đoạn, nên phải quay lại, theo đường Công lý (nay là đường Nam kỳ khởi nghĩa).

Thắng nhanh để không đổ thêm máu

Sau khi quay lại, chỉ còn cách Dinh khoảng 30m, kíp xe 390 nhìn thấy xe tăng 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc nghiêng cánh cổng phụ bên trái. Do đột ngột gặp sức cản lớn, nên xe chết máy và kẹt ở đó. Khi thấy xe 843 bị vướng trước cổng phụ của Dinh, lái xe Nguyễn Văn Tập quay sang nói với chỉ huy xe Vũ Đăng Toàn: “Hay xe của anh Thận bị thương rồi, Thế nào anh Toàn, có cho xe vào dinh không?”.

“Tông thẳng vào”, Trung úy Toàn đã quyết đoán ra lệnh cho lái xe Nguyễn Văn Tập tông thẳng vào cổng chính của Dinh. Lập tức xe 390 tăng ga, lao thẳng và húc hai cánh cổng thép, xích xe chồm lên cánh cổng bên phải, còn cánh bên trái bung bản lề, nghiêng sang một bên.

Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, tông tiếp vào cánh cổng bên trái, cả hai xe tăng 390 và 843 cùng vượt qua cổng, tiến thẳng vào sân, mở toang cánh cửa cuối cùng vào sào huyệt kẻ thù, tạo điều kiện cho lực lượng ta tràn vào sân Dinh, bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong Dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng, hạ cờ chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh tổng thống nguỵ lúc 11h30 ngày 30/4/1975, thời khắc thiêng liêng báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Khi được hỏi, có nghĩ gì khi quyết định húc vào cánh cổng sắt của Dinh? Ông Vũ Đăng Toàn cho biết, lúc đó, chỉ có suy nghĩ duy nhất là phải giành được thắng lợi nhanh nhất, để đồng đội và nhân dân không phải đổ thêm xương máu nữa. Mặc dù, có thể “dính” mìn chống tăng hoặc vật cản nổ của địch bảo vệ cổng Dinh, có thể hy sinh, nhưng kíp xe không có lựa chọn khác.

Các sĩ quan cao cấp trong phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn
đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng trưa 30/4/1975.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Trung sĩ Nguyễn Văn Tập chia sẻ: “Khi thời cơ đến, chúng tôi chỉ biết đó là độc lập. Đất nước còn chiến tranh thì đau khổ vẫn còn, vậy thì quyết định nhanh chóng để bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng, chấm dứt chiến tranh”. Họ là những người hạnh phúc nhất được chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc.

Đó là giờ phút mà không phải người lính nào cũng có may mắn được trải nghiệm. “Cảm giác sung sướng đến phát khóc khi được chứng kiến khoảnh khắc lịch sử, đích đến cuối cùng sau bao nhiêu năm đồng bào, đồng chí đổ xương máu cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc”, Thiếu úy Lê Văn Phượng bồi hồi nhớ lại.

Năm tháng đã qua đi, nhưng hình ảnh xe tăng 390 húc tung cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975 mãi mãi là in đậm trong lòng những người lính xe tăng và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Hiện nay, xe tăng 390 được trưng bày tại Bảo tàng lực lượng Tăng – Thiết giáp. Câu chuyện về “nhân chứng” lịch sử đặc biệt này sẽ như một khúc ca truyền thống tiếp lửa cho các thế hệ những người lính Tăng – Thiết giáp.

Với ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của xe tăng 390 trong Đại thắng mùa Xuân 1975, tháng 8/2011, Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng đã xét duyệt hồ sơ và thẩm định hiện vật xe tăng 390, nhất trí đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Yêu nước

“Tình yêu nước ban đầu là tình yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu dãy phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu…”, câu văn ấy từng đọng lại trong tâm hồn một thế hệ học sinh kháng chiến những năm 50, để rồi vì tình yêu ấy mà họ “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”. Vì tình yêu nước, nhiều thế hệ trẻ VN đã hiến dâng đời mình cho Tổ quốc, có vậy mới có ngày 30 tháng 4 lịch sử hôm nay.

Đương nhiên, không một dân tộc nào sống trên quả đất này mà lại không yêu đất nước của mình. Nhưng tùy theo sự hình thành quốc gia, dân tộc trên những vùng lãnh thổ khác nhau, trong những điều kiện không giống nhau, tính thường trực và nhạy cảm của lòng yêu nước cũng sẽ không có những biểu hiện như nhau.  Arnold Toynbee, nhà sử học lớn nhất của thế kỷ XX, qua nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới từng đưa ra nhận định: “thành công của con người thường là kết quả sự chống trả đối với thách thức”.  Điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc ta trong một vị thế địa-chính trị “trứng nằm dưới đá”, triền miên phải đối diện với các thế lực xâm lược luôn lớn hơn mình gấp bội, “sự chống trả đối với thách thức” ấy quả là khốc liệt. Nhưng cũng chính vì thế, lòng yêu nước trở thành một đặc điểm nổi bật trong tính cách VN. Chạm vào điểm nhạy cảm bậc nhất này trong nỗi niềm VN sẽ rung lên những cung bậc hết sức mãnh liệt và đa dạng trong bản giao hưởng tình cảm và hành động VN, đặc biệt là trong thế hệ trẻ, nguồn sinh lực sung sức nhất của dân tộc.  Với ngày 30.4.1975, lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc như trỗi dậy, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc trường chinh cứu nước gần một phần ba thế kỷ của mấy thế hệ VN, non sông đã quy về một mối. Rồi hơn một phần ba thế kỷ nữa trôi qua, cao trào của bản giao hưởng nỗi niềm dân tộc, sự sục sôi của tình cảm yêu nước trong mọi trái tim VN ở mọi cung bậc khác nhau ấy của đủ mọi tầng lớp xã hội vẫn là nét đẹp nhất của đời sống tinh thần VN.

Từ đỉnh cao chiến thắng, mấy ai lường hết được những gì rồi sẽ xảy ra. Điều ấy là thường tình. Những khó khăn dồn dập, thế nước có lúc chung chiêng bên bờ vực của cuộc khủng hoảng kéo dài, nhưng rồi sức sống VN trỗi dậy, tạo ra bước ngoặt quyết định của Đổi Mới, đưa đất nước bứt lên. Và chính trong bối cảnh ấy, là đồng tác giả của Đổi Mới, các tầng lớp nhân dân đã biểu thị lòng yêu nước của mình trong vô vàn những trạng huống cực kỳ phong phú.

Khi có độ lùi về thời gian để tỉnh táo suy tư về dòng chảy của những sự kiện mới thấy hết ý nghĩa lạ lùng của nó. Chẳng hạn như, sức quật khởi cứu nước dạo nào vào lúc cam go trước Đổi Mới lại biểu hiện ra trong sự “phá rào” để “khoán chui” của người nông dân vừa buông tay súng để nắm lại tay cày, tháo gỡ thế bế tắc, đẩy cuộc sống đi tới. Chính sức năng động tự thân của cuộc sống, một dạng biểu hiện thầm lặng của truyền thống yêu nước, đã “cứu một bàn thua trông thấy” trong nông nghiệp nông thôn để rồi tác động đến công nghiệp và đô thị, khởi động sự nghiệp Đổi Mới do Đảng lãnh đạo, mà nếu không có nó, thì không có được những thành tựu như đã có.

Tuổi trẻ hôm nay đang được thử thách trong một nhiệm vụ mà xem ra cũng gian nan không kém so với cha anh. Họ phải đưa đất nước bứt lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu để bước vào quỹ đạo của phát triển mà do một thời “bút nghiên phải xếp lại” đã bị lạc hậu, không những thế, có lĩnh vực đã lạc điệu trong quỹ đạo đó. Người ta ngày càng nhận ra rằng, “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn to đẹp hơn” khó khăn không kém, thậm chí trên nhiều khía cạnh còn nghiệt ngã hơn nhiều, so với đấu tranh giành lại nước từ tay quân thù.

Khi “sơn hà nguy biến” trước giặc ngoại xâm thì phải bằng súng gươm để hóa giải, nhưng khi đất nước đối diện với nghèo nàn và lạc hậu, với tham nhũng và thoái hóa của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức quyền, thì phải bằng bản lĩnh và trí tuệ của tuổi trẻ để giúp nước. Cuộc chiến đấu này không có gươm súng, không dàn thành trận tuyến nhưng “là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra cái mới mẻ tốt tươi” như Bác Hồ đã chỉ ra. Bác gọi đây là “cuộc chiến đấu khổng lồ” mà muốn giành thắng lợi thì phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

Trong “lực lượng vĩ đại” đó, tuổi trẻ phải là lực lượng xung kích. Chính vì không dàn thành trận tuyến nên bản lĩnh cá nhân trên từng chỗ đứng của mình có ý nghĩa quyết định sự thành bại.

Biết đánh thức sức mạnh của tình yêu nước trong bầu nhiệt huyết của thanh niên, điểm nhạy cảm nhất trong tâm thức VN, đánh thức tiềm lực trong những trái tim thế hệ trẻ, mới tạo ra được những biến chuyển mang tính đột phá, đưa đất nước bứt lên trong nhịp phát triển của thời đại.

Tương Lai

thanhnien.com.vn

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch phản kích thất bại

Binh lính ngụy bị bắt và giao nộp vũ khí

Ngày 13-3, hai trung đoàn 66 và 28 (Sư đoàn 10) từ Đức Lập hành quân đến Đông-Bắc thị xã Buôn Ma Thuột hỗ trợ các đơn vị bạn đánh địch phản kích. Trong ngày này, lực lượng ta đã đánh quân phản kích chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong khi đó, ở phía Bắc Tây Nguyên và trên chiến trường Trị-Thiên, Khu 5, bộ đội ta đẩy mạnh tác chiến phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, tạo thế chia cắt buộc Quân đoàn 2 ngụy phải phân tán lực lượng đối phó.

Sư đoàn 968 bộ binh đánh chiếm hai chốt địch ở Tây-Nam Pleiku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, pháo kích sân bay Cù Hanh, Kon Tum. Bộ đội địa phương Gia Lai và Kon Tum hoạt động mạnh ở Đông-Nam thị xã Pleiku. Sư đoàn 3 và trung đoàn 95 A chốt giữ các vị trí đã chiếm được Đường số 19, phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang và hướng Vườn Xoài.

Trung đoàn 25 bộ binh diệt một bộ phận quân địch từ Khánh Dương lên và tiếp tục chia cắt đường 21. Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 14 đặc công đánh chiếm một số ấp vùng ven, áp sát sân bay Nhơn Cơ (Quảng Đức).

Ở Trị-Thiên, lực lượng vũ trang gia tăng hoạt động tại vùng giáp ranh uy hiếp thành phố Huế từ phía Tây và Tây Bắc. Ở khu 5, Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 đã diệt chi khu quân sự Tiên Phước, chia cắt đường số 1, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ.

Thắng lợi lớn của ta ở Buôn Ma Thuột và hoạt động phối hợp ở các chiến trường khác đã làm địch lúng túng.

Q.A tổng hợp

sggp.org.vn

Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng

Tại mặt trận Tây Nguyên, sau nhiều ngày truy kích địch và giải phóng các tỉnh, ngày 24-3 được đánh dấu là ngày toàn thắng của chiến dịch Tây Nguyên. Khởi đầu chính thức từ ngày 4-3, bằng ba trận chiến then chốt (tấn công Buôn Ma Thuột; đánh địch phản kích; tiêu diệt địch tháo chạy trên đường số 7) lực lượng ta đã đánh tan Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, các lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung bộ.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Tại Quảng Nam, sau hơn một ngày tấn công, ta đã giải phóng thị xã Tam Kỳ vào lúc 10 giờ 30 ngày 24-3-1975. Tại Quảng Ngãi, 7 giờ sáng quân ta tiến đánh thị xã. Sau một ngày chiến đấu, địch bỏ chạy cùng với một đoàn xe trên 200 chiếc chạy theo đường số 1 về hướng Chu Lai.

Trước đó, lực lượng ta đã tiến công các vị trí phòng thủ của liên đoàn 11 biệt động quân, cắt đường số 1, đoạn từ Sơn Tịnh đi Bình Sơn, chặn đường rút về Chu Lai của địch. Địch lọt vào trận địa phục kích của ta đã thiệt hại nặng nề: 550 tên bị diệt, 3.500 tên bị bắt sống, 206 xe quân sự bị phá hủy.

Nhờ đó, ta đã uy hiếp thế phòng thủ của địch tại phía Nam Đà Nẵng. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lại phải kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng”. Nếu không giữ được Đà Nẵng thì phải cầm cự 1-2 tháng để bố trí lại thế phòng thủ chiến lược và di tản một triệu dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao ép buộc ta ngừng tấn công.

Vào ngày này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và khẳng định thời cơ chiến lược lớn đã đến. Bộ Chính trị quyết định: Hành động nhanh chóng, táo bạo bất ngờ đánh địch, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

N.T.H.H tổng hợp

sggp.org.vn