Mũi tiến công hiểm hóc, bất ngờ

QĐND – Sau chiến thắng Phước Long, để chuẩn bị cho thời cơ chiến lược mới, Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập Binh đoàn 232, gồm các Sư đoàn chủ lực 3, 5, 9 và một số đơn vị binh chủng tác chiến tập trung trên chiến trường các tỉnh Tây Ninh, Kiến Tường, Long An, Mỹ Tho; tạo bàn đạp vững chắc phía Tây và Tây Nam Sài Gòn… Đây cũng là mũi tiến công sắc nhọn, hiểm hóc, hoàn toàn bất ngờ với hệ thống phòng thủ của địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh, nhanh chóng, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội đô Sài Gòn.

Bộ đội Sư đoàn 5 đánh chiếm Tiểu khu Hậu Nghĩa. Ảnh tư liệu.

Trong hệ thống phòng ngự của địch ở Sài Gòn khi đó, hướng Tây-Nam có vị trí hiểm yếu, nhưng lại tương đối yếu. Hiểm yếu vì nơi đây sát nách Sài Gòn, nối Sài Gòn, Long An với Mỹ Tho là căn cứ Vùng IV chiến thuật của quân ngụy theo Đường số 1. Ở hướng này nếu khắc phục được sình lầy và vượt được sông sẽ là thời cơ lớn cho chiến dịch binh chủng hợp thành cơ động tiếp cận và triển khai đột phá thẳng vào Sài Gòn, tạo thế áp đảo, phá vỡ thế trận địch, nhanh chóng giành được thắng lợi triệt để. Đây cũng là chiến trường quen thuộc, phù hợp với khả năng tác chiến của các Sư đoàn 3, 5, 9. Chọn hướng này, ta đã chọn điểm đúng “huyệt” hiểm, để ra đòn quyết định.

Địch bố trí lực lượng hướng Tây-Nam Sài Gòn mỏng là vì cho rằng, ta khó có thể tổ chức một mũi tiến công mạnh có xe tăng và pháo binh, xe cơ giới vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đánh vào Sài Gòn. Song để khắc phục địa hình bất lợi, Bộ tư lệnh Binh đoàn phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với Tỉnh ủy Long An, Mỹ Tho, Kiến Tường với nòng cốt là lực lượng công binh kết hợp với bộ đội địa phương, du kích và nhân dân huy động mọi phương tiện, vật liệu tại chỗ tạo đường dẫn vượt sình lầy và cầu, phà dã chiến cấp tốc đưa phương tiện, xe tăng, pháo cơ giới vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây tiến công Hậu Nghĩa, Tân An, Bến Lức. Nhờ có binh khí kỹ thuật tập kết đúng thời gian quy định, các đơn vị của Binh đoàn 232 triển khai tiến công địch rất thuận lợi, phối hợp với bộ đội chủ lực và các lực lượng bộ đội địa phương, du kích giải phóng toàn bộ các huyện dọc sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, đưa lực lượng thọc sâu vào thành phố Mỹ Tho, cắt đứt Đường số 4, cô lập Sài Gòn với vùng IV chiến thuật; phá sản âm mưu ứng cứu Sài Gòn hoặc rút chạy về Đồng bằng sông Cửu Long cố thủ của quân ngụy.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Advertisements

Nhớ những ngày chặn địch ở Tây Nguyên

QĐND Online – Những ngày đầu tháng 3-1975, sau khi Buôn Mê Thuột thất thủ, địch cay cú hô hào tái chiếm, vì vậy, tối 13-3-1975, cánh lính chúng tôi thuộc Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66, Sư đoàn 10) nhận lệnh cắt hướng Phước An (thuộc tỉnh Đắk Lắk) đánh quân địch đổ bộ.

Chặng hành quân của chúng tôi toàn đi trên nương đồi, phía trước địch thả bom toạ độ, rồi từng chập pháo bắn rộ lên. Hai bên đường là những dải đen sẫm nên không thể nhận ra làng bản hay rừng cà phê. Một đồng đội đi sau đẩy vào lưng tôi: “Bám sát lên đi! Người đi trước lạc đường là kéo theo cả một đoàn quân đấy!”. Tang tảng sáng, đơn vị chúng tôi đến một cánh rừng thưa, cây cối lúp xúp. Có lệnh dừng lại, chúng tôi ngồi xuống mà hai mắt díp lại vì buồn ngủ. Bộ đội tản ra các ụ đá nhấp nhô tranh thủ ngủ lấy sức, còn bộ phận nuôi quân gạn nước từ các vũng lầy để nấu cơm.

Hoàng Kim Hậu (đứng thứ hai từ trái sang) chụp ảnh kỷ niệm trước khi vào chiến trường miền Nam (ảnh chụp tại Phú Bình, Thái Nguyên năm 1971)

Khoảng 19 giờ tối ngày 14-3, chúng tôi leo lên đường 14 phía bắc Buôn Mê Thuột. Đang hành quân chui luồn qua nương đồi, nay đi trên mặt đường nhựa rộng rãi, phẳng lì, ai nấy đều thấy thoải mái. Phía sau chúng tôi là Buôn Mê Thuột, ánh hoả mai và tiếng bom vẫn chưa dứt, hình như tất cả chiến tranh đang dồn vào thị xã…

Ðại đội 7 của chúng tôi dẫn đầu đội hình. Chúng tôi vừa đi, vừa nghỉ, cứ dừng lại ngồi xuống là ngủ gật. Quá nửa đêm, cơn buồn ngủ như không thể cưỡng lại. Gần nửa tháng hành quân liên miên, những ai ở trong hoàn cảnh này mới thấy sự kỳ diệu của con người: vừa đi, vừa ngủ, người sau gục vào ba lô người đi trước mà ngủ. Không hiểu chúng tôi ngủ kiểu gì, trong đầu thì mê đi mà chân vẫn bước lẹp kẹp theo đội hình. Gần sáng, có người kéo áo, tôi choàng tỉnh, chợt nhận ra anh Mão – Chính trị viên đại đội. Thì ra, đội hình Tiểu đoàn đang vượt qua một bãi lầy, bên phải đường là một khu ruộng cấy, có một con suối chảy ngang qua, bùn réo ùng ục dưới chân. Leo lên một vạt nương với những bụi chuối tối sẫm, anh Mão và tôi cố vượt lên đuổi theo đơn vị. Có tiếng hỏi của người chỉ huy:

-Này, còn Đại đội 8 đã vượt đường xong chưa?

-Báo cáo, còn hai trung đội nữa đang vượt qua bãi lầy.

-Khẩn trương dồn lên đi. Cần tổ chức cho bộ đội vượt nhanh trước khi trời sáng…

Tôi nhận ra Trung đoàn phó trực tiếp đi theo cánh quân của Tiểu đoàn chúng tôi (người mà đến nay, tôi vẫn chưa kịp nhớ tên). Khi trời sáng rõ, chợt có tiếng đại liên và súng cối nổ ngoài bãi lầy, bộ đội chen nhau vượt lên. Đại đội trưởng chạy ào đến:

– Báo cáo, trung đội 12,7mm của đại đội 8 chưa sang hết. Ðịch đang bắn vào đội hình của ta. Xin ý kiến thủ trưởng!

– Sao các anh ngốc thế – Giọng Trung đoàn phó gay gắt – Hoả lực trong tay, địch bắn vào đội hình mà không kịp làm gì à? Cho bắn 20 quả cối 82mm!

Một bức ký hoạ chiến trường của Hoàng Kim Hậu.

Một lúc sau, tiếng cối của ta đáp lại thật đanh thép, súng 12,7mm quét hàng băng dài qua bãi lầy, địch tán loạn chạy vào trong bản, cối 82mm dồn theo.

Nắng bắt đầu gắt, từ mờ sáng đến trưa, chúng tôi chưa hề gặp một con suối nào. Đất đỏ ba zan ở đây tơi xốp thật, chúng tôi hành quân trong một nương chuối và đu đủ chín rục trên cây. Thỉnh thoảng qua một vạt nương khoai lang, chỉ cần đạp nhẹ một cái là dây và củ bật ra. Quá trưa, ai nấy khát cháy cổ, các bi đông nước đã dốc ngược mà vẫn không thấy một khe suối nào để kiếm nước nấu cơm. Chúng tôi phải dùng dao găm đâm vào gốc chuối để có nước uống, một thứ nước vừa chát, vừa hôi. Không có nước nấu cơm, chúng tôi đành phải lấy chuối chín và đu đủ ăn cho lại sức để tiếp tục hành quân.

Khoảng 13 giờ ngày 15-3-1975, chúng tôi được lệnh tản ra các bụi chuối thay nhau cảnh giới và ngủ lấy sức. Bỗng có tiếng B40 nổ, tiếng đạn cực nhanh loạn xạ, các trung đội nhận lệnh chuẩn bị xuất kích. Súng nổ một chập rồi im lặng, có một toán tàn binh địch gặp đội hình thu dung của ta và xảy ra cuộc đọ súng.

Chiều ấy, chúng tôi tiếp tục hành quân, tối mịt mùng vẫn không ra khỏi khu vườn đu đủ. Vừa đói, vừa mệt, các đại đội chia nhỏ ra từng tổ, thay nhau gác và ngủ qua đêm. Mãi 9 giờ sáng hôm sau, chúng tôi mới ra khỏi vườn cây và tìm được một khe suối bên vạt rừng le lưa thưa, cả đơn vị dừng lại nấu cơm…

Sau hơn 1 tuần hành quân trong rừng, chúng tôi ra tới một sườn đồi, phía trước là một thung lũng rộng với những dông đồi thoai thoải. Con đường 21 uốn lượn bên những sườn đồi xanh mát mắt. Tiếng súng từng chập lại rộ lên, các đơn vị bạn đang chuyển quân rầm rập, xe tăng, xe thiết giáp lấp ló trong cánh rừng thưa. Bất giác, tôi chợt thấy lòng mình rạo rực…

Hoàng Kim Hậu
qdnd.vn

Đại thắng mùa Xuân 1975 – Ý nghĩa của nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong thời đại mới

Quân đội là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp quyết định sự thắng lợi trên chiến trường.

Hoàng Văn Vân
Học viên sau đại học – Học viện Chính trị

Quân đội là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp quyết định sự thắng lợi trên chiến trường. Vì vậy, việc xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân đội có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội đảm bảo cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Là người tổ chức, giáo dục và rèn luyện quân đội ta,  Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng quân đội về mọi mặt, đặc biệt là xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người thường căn dặn cán bộ, chiến sỹ ta: “Phải nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược có quyết tâm thì làm việc gì cũng được”[1] và “có quyết tâm, có sáng kiến thì khó khăn mấy cũng giải quyết được; và nhiều khi chuyển thế bại thành thế thắng”[2]. Thực hiện theo lời dạy của Bác toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ đầy hy sinh gian khổ nhưng rất đỗi vẻ vang làm nên Đại thắng mùa xuân 1975- “một sự kiện có tầm vóc quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc”. Thắng lợi vĩ đại đó đã ghi vào lịch sử dân tộc ta “một mốc son chói lọi bằng vàng”.

Ý chí quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược vốn là truyền thống quật cường, bất khuất lâu đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975.

Trên thực tế, đế quốc Mỹ là kẻ thù rất nguy hiểm, tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh gấp nhiều lần những kẻ thù mà nhân dân ta đã gặp. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Mỹ nổi lên thành cường quốc số một, làm “chúa tể” thế giới tư bản với bom nguyên tử và đồng đô la. Trên thế giới lúc bấy giờ tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ lan tràn ở nhiều nơi. Khi ta bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có nhiều người đồng tình ủng hộ, song cũng không ít người cho ta là phiêu lưu mạo hiểm, “lấy trứng chọi đá”. Đặc biệt, khi Mỹ đưa quân viễn chinh ồ ạt vào xâm lược Miền Nam và dùng không quân, hải quân đánh phá Miền Bắc, rất nhiều người có thiện chí đã tỏ ra lo ngại rằng đất nước ta sẽ bị sức mạnh của Mỹ đè bẹp. Trước một kẻ thù có ưu thế vượt trội so với ta cả về kinh tế, khoa học và công nghệ, vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật quân sự hiện đại, vấn đề lớn, bức bách nhất đặt ra trước Đảng và cả dân tộc ta là: “Ta có dám đánh Mỹ và thắng Mỹ để giải phóng nửa nước còn lại, thống nhất Tổ quốc không?”. Ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm chống Mỹ, không mơ hồ, ảo tưởng về bản chất và âm mưu xâm lược của Mỹ. Điều này được thể hiện cụ thể trong Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1 năm 1959). Nhờ có quyết tâm đó, ta đã vượt qua những khó khăn, trở ngại ở trong nước và quốc tế lúc bấy giờ để đề ra chiến lược thích hợp khởi đầu cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.

Quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ là quyết tâm của Đảng ta nhưng cũng là quyết tâm của toàn quân, toàn dân ta, của cả dân tộc Việt Nam, với ý chí sắt đá: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”[3].

Ý chí quyết tâm đó được bắt nguồn từ truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, tinh thần trách nhiệm với vận mệnh đất nước của người Việt Nam. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, dân tộc ta triệu người như một, sẵn sàng đứng lên chống giặc, đánh giặc cứu nước. Tinh thần ấy được phát huy cao độ trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, phân tích về sự so sánh lực lượng giữa ta và địch một cách toàn diện trong quá trình vận động phát triển cuả cuộc chiến. Đảng ta đã xem xét trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội, vật chất, tinh thần, số lượng, chất lượng, thế, lực và thời cơ, điều kiện khách quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật tác chiến, tình hình cả hai miền Nam, Bắc và tình hình thế giới…từ đó đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ đúng đắn. Quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngụy được xây dựng trên cơ sở khoa học đó đã trở thành phương châm chỉ đạo đúng đắn, bảo đảm cho quân đội ta càng đánh, càng mạnh và đi đến thắng lợi cuối cùng mà đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975: giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập thống nhất, đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc đang sản xuất, sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao với tính chất ác liệt và huỷ diệt ngày càng lớn trong các cuộc chiến tranh. Điều này gây ra tư tưởng, tâm lý lo lắng, hoang mang trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội ta.  Đây là những thách thức gay gắt về chính trị – tinh thần, ý chí quyết tâm của quân đội trước nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Để phát huy tinh thần của Đại thắng mùa xuân 1975 trong việc xây dựng ý chí quyết tâm của quân đội và nhân dân đảm bảo đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao cần thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị – tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam.

Đây là biện pháp cơ bản, quan trọng hàng đầu xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng cho bộ đội, nhằm giúp họ có giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Công tác giáo dục chính trị – tư tưởng hiện nay cần tiếp tục tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của quân đội và đơn vị. Đặc biệt, chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc, truyền thống quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta; xây dựng lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc. Đồng thời, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của Chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Giáo dục chính trị – tư tưởng cần đi sâu nghiên cứu và làm cho bộ đội nhận thức sâu sắc bản chất của kẻ thù, đặc điểm tính chất của cuộc chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao và ảnh hưởng của nó tới ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội ta. Làm cho bộ đội có quan điểm biện chứng trong xem xét, đánh giá tình hình, thấy được những điểm mạnh, những hạn chế của vũ khí công nghệ cao và cách đánh của ta, trên cơ sở đó củng cố quyết tâm, xây dựng niềm tin chiến thắng, xây dựng lòng tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; vào con đường Xã hội chủ nghĩa; vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, vào lực lượng, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam, làm cho bộ đội thấy được khả năng chiến đấu và chiến thắng của ta trong cuộc chiến tranh hiện đại. Trong công tác giáo dục chính trị – tư tưởng cần sử dụng tổng hợp các hình thức tổ chức, biện pháp tiến hành, làm cho nội dung trở nên sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục cao phù hợp với từng đối tượng.

Hai là, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện quân sự, diễn tập tổng hợp làm cho bộ đội có trình độ tác chiến giỏi và khả năng sử dụng thành thạo các loại vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác. Nếu bộ đội không được huấn luyện kỹ năng chiến đấu, không có trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại, không có sức khoẻ tốt… thì ý chí quyết tâm của họ không thể duy trì thường xuyên, liên tục và đạt hiệu quả cao. Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải có quyết tâm đánh, mà đã đánh phải có quyết tâm đánh thắng” và Người chỉ rõ: “Vấn đề là ở chỗ tinh thần của con người phải truyền qua súng, tức là làm sao phải có kỹ thuật giỏi”[4].

Trong công tác huấn luyện cần tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập thực hiện đúng phương châm, phương hướng huấn luyện. Đặc biệt, phải tập trung làm cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị hiện có, nhất là những vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tìm ra nhiều cách đánh hay, phù hợp, có hiệu quả. Đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu. Tạo ra nhiều tình huống khó khăn, gian khổ sát với thực tại của cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao để bộ đội có điều kiện thử thách lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm, quyết đánh và quyết thắng. Kiên quyết đấu tranh chống bệnh “thành tích”, bệnh “hình thức”, chất lượng huấn luyện không thực chất, không sát tình huống chiến đấu.

Ba là, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chính trị nói riêng trong xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội.

Đội ngũ cán bộ có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi cán bộ là “cái gốc” của mọi công việc, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Với cán bộ chính trị Người khẳng định: “Chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”[5]. Đặc biệt, trong những hoàn cảnh khó khăn, ác liệt vai trò của người cán bộ chính trị lại càng quan trọng trong xây dựng, củng cố, duy trì và phát huy ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cho bộ đội. Sự nhạy bén, sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt của người cán bộ nói chung, người cán bộ chính trị nói riêng có ảnh hưởng lớn đến tinh thần, niềm tin, quyết tâm của bộ đội; họ là “linh hồn”, là “điểm tựa tinh thần” giúp bộ đội ổn định trạng thái tâm lý. Mỗi lời nói, hành động của họ có tác dụng cổ vũ, động viên mạnh mẽ toàn đơn vị vượt lên khó khăn, thử thách, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo tìm ra cách giải quyết hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Tóm lại, việc xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng cho bộ đội bảo đảm đánh thắng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao của kẻ thù là nội dung quan trọng và cấp thiết hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu đó, cần làm tốt các giải pháp nêu trên. Đặc biệt, tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục chính trị – tư tưởng cho bộ đội. Thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục truyền thống, phát huy tinh thần chiến thắng của đại thắng mùa xuân năm 1975 trong xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội có ý nghĩa sâu sắc.

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập11, Nxb CTQG, H.2001, tr.465.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H.2001, tr.334.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 108.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 466.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2001, tr.392.

quocphonganninh.edu.vn

Ký ức bài ca chiến thắng

Tối 28-4-1975, sau bản tin thời sự trên sóng phát thanh, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã dự cảm về ngày giải phóng rất gần. Trong vòng 90 phút, ông đã viết xong ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng

Nhiều người đã xem Như có Bác trong ngày đại thắng là ca khúc để đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Nhạc sĩ Hà Nội này cũng đã kể về ca khúc ấy quá nhiều. Tuy nhiên, lần đầu tiên sau 35 năm, tác giả tiết lộ với chúng tôi những câu chuyện bên lề, những ký ức chưa tiết lộ về bài hát, sự  ra đời của ca khúc này đúng vào ngày đại thắng của dân tộc.

Bất ngờ từ Sài Gòn

Ngày 6-5-1975, lần đầu tiên Như có Bác trong ngày đại thắng vang lên trên làn sóng của Đài Phát thanh Giải phóng Sài Gòn. Nhân dân cả hai miền cùng hòa chung giai điệu của khúc ca khải hoàn mừng ngày toàn thắng.

Khi Đài Phát thanh Giải phóng Sài Gòn phát ca khúc này trên sóng, chính nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng ngỡ ngàng bởi ông và Đài Tiếng nói VN vẫn chưa kịp gửi bài hát và băng thu thanh vào Sài Gòn.

Những ngày người Sài Gòn ngân nga điệp khúc VN – Hồ Chí Minh! VN – Hồ Chí Minh! ấy, nhạc sĩ Phạm Tuyên đang ở Hà Nội và ông được một người bạn thông báo rằng hàng triệu người dân phương Nam đang hát vang bài hát của ông.

Trước đó một tuần, vào chiều 30-4-1975, người Hà Nội đã được nghe Như có Bác trong ngày đại thắng, chỉ vài giờ sau khi lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập.

Hai ngày trước thời khắc lịch sử năm 1975 ấy, bài hát được dàn nhạc của Đài Tiếng nói VN thu âm dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Cao Việt Bách và phần lĩnh xướng của hai nghệ sĩ Đặng Hùng – Tuyết Thanh.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên vẫn nhớ rõ từng kỷ niệm về ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng sau 35 năm sáng tác

Trong căn nhà nhỏ của mình những ngày tháng 4 lịch sử sau 35 năm, vị nhạc sĩ có nụ cười dễ mến xúc động nhớ lại: “Chưa có buổi thu thanh bài hát nào ở Đài Tiếng nói VN mà từ người kéo đàn đến nhạc trưởng cũng như ca sĩ đều rưng rưng nước mắt như thế. Khi ca khúc được thu âm xong thì chính tôi và anh Trần Lâm, Giám đốc Đài Tiếng nói VN, cùng khóc”.

Chỉ trong chiều 30-4-1975, bài hát vừa ra đời trước đó 2 ngày của nhạc sĩ Phạm Tuyên đã được phát đi phát lại hơn 40 lần trên sóng Đài Tiếng nói VN. Cứ sau một bản tin thông báo thắng trận tới nhân dân trong nước và bạn bè trên thế giới là bài hát lại vang lên hào hùng.

Ngày 1-5-1975, nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng giống như bao người Hà Nội khác đổ ra bờ hồ Hoàn Kiếm hít thở bầu không khí chiến thắng và thống nhất. Thật tình cờ, trên các đường phố quanh hồ Hoàn Kiếm, xe quân nhạc của quân đội và các nghệ sĩ của Nhạc viện Hà Nội cũng hát vang bài hát của ông để phục vụ nhân dân.

“Các nhạc công và ca sĩ bảo với tôi rằng họ vừa kịp thu âm lại ca khúc trên đài buổi chiều hôm trước. Họ đã chép lại từng nốt nhạc và chơi đàn, hát theo tiếng vọng từ bao con tim. Ngày 2-5-1975, trên Báo Nhân Dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng có bài viết nêu bật ý nghĩa của chiến thắng lịch sử nhan đề Như có Bác trong ngày đại thắng” – nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết.

Muốn reo vui một tiếng

Ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng như là đơn đặt hàng của thời đại và hàng triệu con tim ở thời điểm lịch sử cách nay 35 năm. Đứa con tinh thần của nhạc sĩ giờ đã trở thành tài sản chung của người VN và được coi như một bài hát cộng đồng.

Nhiều lúc, nhiều nơi, người ta hát ca khúc này mà cũng không quan tâm đến tác giả của nó là ai. Nhạc sĩ Phạm Tuyên tâm sự: “Đó là một phần thưởng vô giá với tôi. Khi ca khúc được thu âm xong, tôi có cảm giác đó là một bài mà mình đã sáng tác từ lâu rồi. Lời hát vang lên như đã quen rồi và nếu tôi không sáng tác bài hát này thì sẽ có một người khác sẽ sáng tác thôi”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết đầu tháng 4-1975, ông dự định cho ra đời một bản hợp xướng 4 chương để đáp ứng đơn đặt hàng của Ban Tuyên huấn “có sáng tác hoành tráng xứng tầm chiến thắng lịch sử”.

Thế rồi, sau rất nhiều đêm trằn trọc, ông chỉ có thể phác họa ý tưởng của bản trường ca chứ không thể “nặn” ra một nốt nhạc nào. “Tối 28-4, sau bản tin thời sự nói về vụ ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, trong tôi có một dự cảm về ngày giải phóng đang đến rất gần. Tôi bỗng muốn reo vui lên một tiếng”- nhạc sĩ kể.

Bản thảo ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng, được viết ngày 28-4-1975

Ngay sau bản tin trên Đài Tiếng nói VN, chỉ trong khoảng 90 phút, từ 21 giờ 30 đến 23 giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết xong cả phần lời và phần nhạc của Như có Bác trong ngày đại thắng. Ông kể: “Viết xong, tôi cảm thấy như trả được một món nợ với chính bản thân mình. Đêm đó, tôi ngủ ngon lành và thanh thản như người nông dân vừa cày xong thửa ruộng”.

Mười năm sau ngày giải phóng, nhạc sĩ Phạm Tuyên được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất vì chính ca khúc ông sáng tác vào tháng 4-1975. Đây là một sự kiện chưa có khi nhạc sĩ được tặng huân chương nhờ một bài hát. Xung quanh chuyện được trao huân chương này cũng có nhiều kỷ niệm khiến nhạc sĩ nhớ mãi. “Vài ngày sau khi nhận huân chương, tôi có vào Nam một chuyến. Gặp lại nhiều bạn bè, anh em văn nghệ sĩ, họ biết tin bài hát của tôi nhận huân chương và ai cũng đòi tôi phải “rửa”. Sau vụ “rửa” huân chương đó, gia đình tôi bị thâm hụt ngân sách nặng. Đó là năm mà tôi tiêu nhiều tiền nhất nhưng vui nhất” – nhạc sĩ họ Phạm tiết lộ.

Trong buổi hội thảo ở một tỉnh nọ, nhạc sĩ Phạm Tuyên ngồi ghế dự thính. Ban đầu, người ta đứng trang nghiêm hát Quốc ca để khai mạc hội thảo. Đến lúc tổng kết, họ chan hòa trong lời ca Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công… “Tôi hỏi những đại biểu ngồi cạnh mình và tất cả đều không biết tác giả của bài hát là ai nhưng họ luôn hát nó với tình yêu phơi phới dành cho Bác Hồ và đất nước”  – nhạc sĩ tự hào.

Gửi nắng ra Bắc, gửi nhạc vào Nam

Như có Bác trong ngày đại thắng là tiếng reo vui của một con tim và được hàng triệu triệu con tim cộng hưởng nhưng đó cũng là tiếng lòng thổn thức của nhạc sĩ Phạm Tuyên với phương Nam, với TP mang tên Bác. Trước đó, năm 1969, ông đã gửi vào miền Nam ca khúc Tiếng hát những đêm không ngủ cho những đồng nghiệp hoạt động phong trào thanh niên sôi nổi và “hát cho đồng bào tôi nghe”.

Tiếng hát những đêm không ngủ của Phạm Tuyên được các nhạc sĩ Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn… đưa vào đời sống và trở thành một trong những ca khúc chính cổ vũ phong trào học sinh – sinh viên miền Nam.

Năm 1972, miền Bắc bị bom Mỹ tàn phá, Phạm Tuyên sáng tác ca khúc Hà Nội- Điện Biên Phủ được phát đi phát lại nhiều lần trên chương trình “Phát thanh Tiếng hát miền Nam” của Đài Tiếng nói VN. Bài hát đó được xem như một lời hứa của lũy thép Hà Nội với thành đồng Sài Gòn rằng sẽ chiến đấu đến cùng để chờ ngày thống nhất, non sông nối liền một dải.

Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên, một trong những ca khúc ông vừa ý nhất có sự giao hòa cảm xúc giữa hai miền đất nước là Gửi nắng cho em ra đời năm 1977 trong một chuyến nhạc sĩ công tác ở TP mang tên Bác.  Bài hát này đã từng có thời không được lưu hành vì bị cho là “có tư tưởng xấu” sau ngày giải phóng.

Mùa xuân năm 1982, Gửi nắng cho em qua tiếng hát Ngọc Tân đã làm hàng triệu trái tim lay động. Thế rồi, bài hát được phổ thơ này đã trở thành tâm sự chung của rất nhiều người ở phương Nam  thương về cái rét miền Bắc.

Mười năm sau ngày đất nước thống nhất, nhạc sĩ Phạm Tuyên lại gửi tới TPHCM ca khúc Thành phố mười mùa hoa, tràn ngập sức sống và lạc quan để nhìn tới tương lai. Ông thổ lộ: “Hồi đi bộ đội, tôi ao ước một ngày được cùng đoàn quân giải phóng tiến vào Sài Gòn. TP phương Nam này chính là động lực để tôi có những sáng tác mà mình tâm đắc nhất”.

Từ Việt Nam tới Nhật Bản

Cách đây chừng một tháng, một nhóm nhạc sĩ Nhật Bản đã sang giao lưu với Hội Âm nhạc Hà Nội. Họ tặng những người bạn đồng nghiệp VN hoa anh đào, hát những bài hát của Nhật và đặc biệt thuộc làu ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng.
Nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết năm 2006, nhạc sĩ Takimoto nổi tiếng của Nhật đã sang VN với ý định viết một bản trường ca về đất nước VN mới ở thời đại Hồ Chí Minh. 

Công việc đầu tiên của nhạc sĩ người Nhật này là tìm gặp Phạm Tuyên. Takimoto đã hỏi Phạm Tuyên một câu mà chính tác giả Như có Bác trong ngày đại thắng cũng không trả lời được: “Vì đâu mà bài hát này đã xuất hiện ở Nhật từ năm 1979 và được giới văn nghệ sĩ yêu chuộng hòa bình của Nhật hát rất nhiều?”.

Bài và ảnh: MẠNH DUY

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 – ĐẠI THẮNG CỦA SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Trong những ngày này, nhân dân cả nước với niềm vui vô hạn đang hân hoan kỷ niệm trọng thể lần thứ 36 chiến thắng vĩ đại của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang một trong những cuộc chiến tranh yêu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Trong niềm vui của ngày đại thắng, nhân dân ta tưởng nhớ với lòng biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già dân tộc, nhà yêu nước vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của nhân dân ta, người kết tinh những tinh hoa của dân tộc, Người mà từ đầu thế kỷ 20 đã đề ra một học thuyết độc đáo, đầy sáng tạo là: Một nước thuộc địa hoàn toàn có thể đánh đổ ách thống trị của ngoại bang, giành lại độc lập cho mình nếu dân tộc đó biết đoàn kết triệu người như một dưới sự lãnh đạo của một đảng vô sản.

Thực hiện chân lý “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, nhân dân cả nước đã đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi hy sinh, đã thực hiện trọn vẹn lời căn dặn của Người trước lúc đi xa: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi, đế quốc Mỹ nhất định sẽ cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà…”(1).

Nhân dịp này, nhân dân ta bầy tỏ niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh – Đảng mà từ ngày đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của tổ tiên là đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, đã luôn luôn coi sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng, phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất là nhiệm vụ chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của mình.

Với kinh nghiệm lãnh đạo dầy dạn, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, xem Mặt trận dân tộc thống nhất là ngọn cờ tập hợp, nơi thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã đề ra đường lối đúng đắn và lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách và đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Có thể khẳng định: Sự phát triển của dân tộc và đất nước ta hơn 80 năm qua gắn liền với sự trưởng thành và lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng, một dân tộc mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng, đã từng đương đầu và chiến thắng mọi thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phát huy cao độ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dân tộc đó tập hợp đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất, đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, vùng lên làm Cách mạng tháng Tám thắng lợi, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, liên tiếp đánh bại mọi chiến lược thâm độc của đế quốc Mỹ xâm lược, tiến lên giành thắng lợi trọn vẹn bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta mùa Xuân 1975 lịch sử.

Trong niềm vui lớn kỷ niệm 36 năm ngày đại thắng 30-4-1975, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bầy tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với đồng bào miền Nam  “đi trước, về sau” trong cuộc chiến đấu trường kỳ để giải phóng dân tộc. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” cùng phương châm “một tấc không đi, một ly không rời”, đội quân tóc dài và các địa đạo xuất hiện ở hầu khắp miền Nam đã trở thành hình ảnh tiêu biểu của cuộc chiến tranh nhân dân có một không hai trên thế giới này. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tập hợp quanh ngọn cờ đại nghĩa của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam cùng với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, nhân dân miền Nam đứng ở tuyến đầu chống Mỹ đã đấu tranh kiên cường, bất khuất, tô thắm thêm truyền thống “Thành đồng Tổ quốc”.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bầy tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với đồng bào và chiến sĩ miền Bắc đã thực hiện trọn vẹn Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Lịch sử và dân tộc ta đời đời ghi nhớ công lao to lớn của đồng bào miền Bắc anh hùng, hậu phương lớn của miền Nam ruột thịt, căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. Tập hợp đoàn kết dưới ngọn cờ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân miền Bắc đã không nề gian khổ, không sợ hy sinh, ra sức lao động, sản xuất và chiến đấu, cần kiệm xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã đưa hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm, hàng chục vạn con em mình ra tiền tuyến cùng đồng bào và chiến sĩ miền Nam đánh bại mọi “mưu ma, chước quỷ” của kẻ địch, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, tiêu biểu là trận đại thắng cuộc tập kích chiến lược B52 trên bầu trời Thủ đô Hà Nội tháng 12 năm 1972, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ ngoan cố phải ký Hiệp định Pari và cút khỏi đất nước thân yêu của chúng ta.

Nhân dân ta tự hào về các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng, một đội quân cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm, thông minh và mưu trí. Với cách đánh táo bạo, bất ngờ, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” và “thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa”, trong 55 ngày đêm đã cùng nhân dân miền Nam “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, ghi tiếp những trang sử vàng chói lọi trong lịch sử quân sự chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Kỷ niệm 36 năm đại thắng mùa Xuân, chúng ta kính cẩn nghiêng mình với lòng biết ơn vô hạn trước các liệt sĩ đã dũng cảm hy sinh vì độc lập dân tộc, biết ơn các thương binh, bệnh binh, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các bậc lão thành, các tù chính trị yêu nước, thanh niên xung phong và toàn thể đồng bào ta đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước để có được cuộc sống tươi đẹp hôm nay cho chúng ta và cho các thế hệ mai sau.

Nhân dịp kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bầy tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em, những người bạn chí cốt đã cùng chung chiến hào chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em trước đây đã dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ hết sức to lớn và quý báu.

Chúng ta chân thành cảm ơn các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế và cả loài người tiến bộ trong đó có nhân dân Mỹ vì hoà bình, công lý đã đồng tình, cổ vũ và ủng hộ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta.

Năm 1954 Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chính thể khác nhau. Ở nam vĩ tuyến 17, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, lập nên chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm, thực hiện chế độ thực dân mới, phản bội lại những nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cải thiện đời sống. Chúng thực hiện chính sách khủng bố những người yêu nước, chia rẽ dân tộc, tôn giáo.

Cuối năm 1954, chỉ vài tháng sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chúng tiến hành đàn áp các giáo phái thân Pháp, tổ chức các chiến dịch tố cộng, hành quân khủng bố, cướp lại ruộng đất của nông dân, phân biệt đối xử đối với tư sản, trí thức, công chức đã từng hợp tác với Pháp, phân biệt đối xử với bà con người Hoa. Chúng chủ trương xoá bỏ ý nghĩa thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám và thành quả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ý đồ đê hèn và thâm độc đó đã xúc phạm thô bạo lòng tự trọng và tự tôn dân tộc của mọi người Việt Nam yêu nước.

Không chịu nổi cảnh đau thương, tang tóc do chế độ độc tài, phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm gây ra, nhân dân miền Nam vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng, lại được tôi luyện qua mấy chục năm đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã vùng lên đấu tranh để bảo vệ sinh mệnh và tài sản của mình, xoá nỗi nhục mất nước và cảnh nước nhà bị chia cắt. Nhiều phong trào đấu tranh chính trị công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp cuốn hút hàng triệu người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp đòi dân sinh, dân chủ, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi thống nhất đất nước. Từ đấu tranh chính trị, ở một số nơi đã thành lập những đội vũ trang, tự vệ, diệt ác, trừ gian. Đã xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của một cao trào cách  mạng: Phong trào Đồng khởi đồng loạt nổ ra ở nông thôn thuộc hầu hết các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, mà tiêu biểu là Bến Tre, Mỹ Tho, Long An, Kiến Tường v.v… Nhiều nơi, nhân dân đứng ra tự xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở và cấp huyện. Sự phát triển nhẩy vọt của tình hình cách mạng miền Nam tạo điều kiện để những tổ chức cách mạng có thể hoạt động công khai, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu mới là phải sớm có một hình thức tổ chức công khai để tập hợp các lực lượng yêu nước toàn miền Nam dưới ngọn cờ chung, ngọn cờ đại đoàn kết bằng một chương trình hành động cụ thể.

Đáp ứng yêu cầu của lịch sử và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, ngày 20-12-1960 Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và tiếp đó ngày 20-4-1968 Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam ra đời, đã vận dụng sáng tạo kinh nghiệm hoạt động của các hình thức tổ chức Mặt trận trước đây đoàn kết mọi tổ chức, mọi cá nhân, mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, địa vị xã hội, quá khứ, dân tộc, tôn giáo, thành thị, nông thôn, rừng núi, người có tín ngưỡng và không tín ngưỡng, nhà tư sản và người lao động, người yêu nước ở hải ngoại, sĩ quan và quân nhân chính quyền Diệm, kể cả cấp cao miễn là tán thành mục tiêu: hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cải thiện đời sống.

Mục tiêu trên là sự cụ thể hoá tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mẫu số chung để quy tụ mọi con dân đất Việt yêu nước, thương nòi trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược và bọn tay sai bán nước. Với sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc kết hợp với sức mạnh đồng tình, ủng hộ của quốc tế, cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn.

Với 55 ngày đêm tiến công thần tốc và nổi dậy như vũ bão, mở đầu bằng việc đánh chiếm Buôn Ma Thuột và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, quân và dân ta đã làm nên một kỳ tích là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây là đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng ta, là sức mạnh vô địch của nhân dân ta.

Thắng lợi vĩ đại đó là thắng lợi của mọi người Việt Nam yêu nước, thắng lợi của cả dân tộc. Thắng lợi mang tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc đó một lần nữa chứng minh hùng hồn sức mạnh tất thắng của ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất – một trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam.

35 năm đã qua kể từ ngày “Bắc Nam sum họp một nhà”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, nhân dân ta đã lao động quên mình để hàn gắn những vết thương chiến tranh, thực hiện hoà hợp dân tộc, cùng nhau ra sức xây dựng non sông yêu  quý của chúng ta “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Hồ Chủ tịch đã căn dặn.

Đặc biệt qua hơn 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường. Chính trị-xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia được tăng lên mạnh mẽ, tạo ra thế và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Kỷ niệm 35 năm Đại thắng mùa Xuân 1975, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tin tưởng đồng bào và chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài  tăng cường đoàn kết, thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp và cuộc sống, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hăng hái tham gia, đẩy mạnh các phong trào, các cuộc vận động thi đua yêu nước, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”; phát huy dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới… góp phần thiết thực vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng năm 2010, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng… lập thành tích cao nhất để chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc: 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm thành lập nước, 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, 80 năm thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam…, chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Phát huy tinh thần đại thắng mùa Xuân 1975; tự hào và tin tưởng về sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, chúng ta ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

(1) Trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

HUỲNH ĐẢM
Uỷ viên BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Đại Đoàn Kết

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 2

Thời cơ

Trong các tháng 7, 8, 9, 10 năm 1974, các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu làm việc nhộn nhịp và căng thẳng. Các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và Bộ Chính trị hàng ngày theo dõi tình hình và chỉ đạo việc nghiên cứu dự thảo kế hoạch tác chiến chiến lược. Lúc này, một luồng gió mát phấn chấn thổi qua toàn Đảng và toàn dân ta: Cách mạng miền Nam đang trỗi dậy sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương tháng 3 năm 1974. Cục diện chiến trường đang chuyển biến có lợi cho ta. Quân và dân ta đã chủ động đưa thế và lực cách mạng tiến lên từng bước vững chắc, đã phản công và tiến công địch liên tục giành thắng lợi ngày càng lớn với nhịp độ nhanh. Khu 9 nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, xoá hẳn hơn 2.000 đồn bốt địch, giải phóng hơn 400 ấp với gần 800.000 dân. Khu 8 xoá hẳn hơn 800 đồn bốt địch, giải phóng thêm hơn 200 ấp với hơn 130.000 dân. Khu 7 duy trì thế tiến công địch, đánh bại cuộc hành quân giải toả của địch, giữ vững bàn đạp phía bắc Sài Gòn. Vùng ven Sài Gòn đẩy mạnh các mặt đấu tranh giữ vững các lõm giải phóng, đánh thiệt hại nặng quân địch phản kích. Khu 5 đã chuyển lên thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng bàn đạp vùng giáp ranh (Nông Sơn, Thượng Đức, Tuy Phước, Minh Long, Giá Vụt), đẩy mạnh đánh phá địch ở đồng bằng, xoá hẳn gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân. Ở Tây Nguyên, ta tiến công tiêu diệt và bức rút Đắc Pét, Chư Nghé, Măng Bút, Măng Đen, I-a-súp, mở rộng vùng giải phóng và hành lang chiến lược. Ở Trị Thiên, tiếp tục giam chân sư đoàn thuỷ quân lục chiến, sư đoàn cơ động chiến lược của nguỵ, áp sát vùng giáp ranh và đẩy mạnh chống “bình định” ở đồng bằng ngày càng có kết quả hơn. Địch thì bị động, sa sút toàn diện. Kế hoạch “bình định” lấn chiếm của chúng bị đánh bại một bước quan trọng trên nhiều khu vực ở đồng bằng, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Tinh thần và sức chiến đấu của quân nguỵ giảm sút rõ rệt: 170.000 tên đào ngũ, rã ngũ kể từ đầu năm. Tổng số quân của chúng giảm 20.000 tên so với năm 1973; số quân chiến đấu giảm xuống nhiều. Lực lượng cơ động chiến lược địch bị sa lầy (sư đoàn thuỷ quân lục chiến ở Trị Thiên, sư đoàn dù ở Thượng Đức). Mỹ giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng của quân nguỵ không thực hiện được theo ý muốn của chúng. Trong tài khoá 1972-1973, Mỹ viện trợ cho nguỵ 1.614 triệu đôla về quân sự. Tài khoá 1973-1974 chỉ còn 1.026 triệu đôla và tài khoá 1974-1975 giảm xuống còn 700 triệu. Nguyễn Văn Thiệu phải kêu gọi quân của hắn chuyển sang tác chiến “kiểu con nhà nghèo”: theo tài liệu của chúng thì chi viện hoả lực giảm sút gần 60% vì thiếu bom, đạn; sức cơ động cũng giảm 50% vì thiếu máy bay, thiếu xe, thiếu cả nhiên liệu. Tình trạng đó buộc chúng phải chuyển từ hành quân lớn, tiến công nhảy sâu bằng máy bay lên thẳng, xe tăng sang phòng ngự chốt, lấn dũi, lùng sục nhỏ. Tóm lại, đặc điểm chủ yếu của tình hình miền Nam sau gần hai năm ta đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris là: mặc dầu quân Mỹ và quân chư hầu đã buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng ở đây vẫn đang diễn ra một cuộc chiến tranh cách mạng của ta chống chiến tranh thực dân mới của địch, kết hợp tiến công quân sự và đấu tranh chính trị. Nổi bật là cuộc đấu tranh đó diễn ra với quy mô ngày càng lớn mà ta thì ngày càng chủ động và mạnh lên, địch ngày càng bị động và yếu đi, tạo thêm một bước phát triển mới về so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng. Đi đôi với việc phát triển thế và lực trên chiến trường miền Nam, ta còn ra sức xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh về mọi mặt, từng bước khắc phục những hậu quả nghiêm trọng của hai cuộc chiến tranh phá hoại. Về sản xuất đạt xấp xỉ mức năm 1965, đời sống nhân dân được ổn định. Trong hai năm 1973-1974, hàng chục vạn chiến sĩ đã được động viên ra tiền tuyến, công tác chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu, chủ yếu là từ Khu 4 cũ trở vào và trong quân chủng Phòng không – Không quân được tiến hành rất tích cực. Tháng 10-1974, trời cuối thu bắt đầu lạnh, gợi cho các cán bộ quân sự chúng tôi nhớ đến mùa chiến dịch sắp đến. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp nghe Bộ Tổng Tham mưu trình bày kế hoạch tác chiến chiến lược. Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị khá đầy đủ mọi mặt tình hình địch và ta, diễn biến trên các chiến trường từ sau khi ký Hiệp định Paris bằng những bản đồ, biểu đồ, bảng so sánh các số liệu, treo khắp bốn bức tường trong phòng họp. Qua nghe báo cáo và thảo luận, hội nghị nhất trí đánh giá tình hình miền Nam gọn trong năm điểm: Một là, quân nguỵ ngày càng suy yếu cả về quân sự chính trị, kinh tế. Lực lượng ta đã mạnh hơn địch ở miền Nam. Hai là, Mỹ ngày càng gặp nhiều khó khăn trong nước và trên thế giới, khả năng viện trợ cho nguỵ ngày càng giảm bớt, cả về chính trị và kinh tế. Do đó, Mỹ chẳng những phải giảm bớt viện trợ cho nguỵ mà còn khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam và dù chúng có can thiệp thế nào đi nữa cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của nguỵ quyền Sài Gòn. Ba là, ta đã tạo được một thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, đã tăng cường được lực lượng và dự trữ vật chất, đã hoàn chỉnh được hệ thống đường giao thông chiến lược và chiến dịch. Bốn là, ở đô thị đã có phong trào đòi hoà bình, dân sinh, dân chủ, độc lập dân tộc, đòi lật đổ Thiệu. Năm là, nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Hội nghị lần này có một vấn đề được đặt ra và thảo luận sôi nổi: liệu Mỹ có khả năng đưa quân trở lại miền Nam khi ta đánh lớn dẫn đến nguy cơ sụp đổ của quân nguỵ không? Mọi người đều thấy rõ và rất chú ý là sau khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam, buộc phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ lại càng khó khăn và bối rối hơn trước. Mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Mỹ và giữa các đảng phái ở Mỹ lại càng gay gắt thêm. Vụ bê bối Oatơghết giày vò cả nước Mỹ kéo theo sự từ chức của một tổng thống cực kỳ phản động: Níchxơn. Kinh tế Mỹ suy thoái, lạm phát tăng, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng, khủng hoảng nhiên liệu đang tiếp diễn. Những đồng minh của Mỹ cũng kèn cựa với Mỹ và các nước phụ thuộc vào Mỹ cũng tìm cánh quẫy ra khỏi sự khống chế của Mỹ. Viện trợ của Mỹ cho nguỵ quyền Sài Gòn theo hướng ngày càng giảm. Đồng chí Lê Duẩn kết luận một nhận định quan trọng thành nghị quyết: “Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam thì khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam và dù chúng can thiệp đến thế nào đi nữa thì cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn”. Khi thảo luận kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1975, một vấn đề rất quan trọng nữa cũng được đặt ra là chọn chiến trường chủ yếu ở đâu? Trên toàn chiến trường miền Nam, địch bố trí lực lượng theo thế “mạnh ở hai đầu”. Cụ thể là ở Quân khu 1 tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, địch có 5 sư đoàn chủ lực; ở Quân khu 3, trong đó có tuyến phòng thủ vòng ngoài bảo vệ Sài Gòn, địch có 3 sư đoàn chủ lực, nhưng chúng còn có thể sẵn sàng cơ động 1 đến 2 sư đoàn chủ lực trong số 3 sư đoàn ở Quân khu 4 về. Còn ở Quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên, địch chỉ có 2 sư đoàn chủ lực, lại phải rải ra vừa giữ các tỉnh Tây Nguyên, vừa phải bảo vệ các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận. Nhưng Tây Nguyên là một chiến trường hết sức cơ động, có nhiều lợi thế để phát triển về phía nam theo đường số 14 hoặc xuống phía đông theo các đường số 19, 7, 21. Địa hình ở đây là cao nguyên, độ cao chênh lệch không đáng kể, tiện việc làm đường, các binh khí kỹ thuật cơ động thuận tiện, phát huy được hết sức mạnh. Tóm lại, đứng về mặt chiến lược, đây là một địa bàn hết sức quan trọng. Hội nghị nhất trí thông qua phương án của Bộ Tổng Tham mưu, chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975. Nhưng Bộ Chính trị thấy rằng, để đi đến quyết định cuối cùng về quyết tâm chiến lược, còn phải nghiên cứu tình hình kỹ hơn nữa, bổ sung cho kế hoạch tác chiến chiến lược đầy đủ hơn nữa. Đồng thời quyết định phải gấp rút đẩy mạnh nhiều mặt công tác để thực hiện quyết tâm. Bộ Chính trị triệu tập các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường ở miền Nam ra Hà Nội báo cáo tình hình và bàn kỹ để có sự nhất trí về quyết tâm chiến lược. Đầu tháng 12 năm 1974, các đồng chí Phạm Hùng, uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Thượng tướng Trần Văn Trà, Phan Văn Đáng, uỷ viên Trung ương Đảng ở Nam Bộ và các đồng chí Võ Chí Công, uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư khu uỷ Khu 5, Thượng tướng Chu Huy Mân ở Khu 5 lần lượt đến Hà Nội. Bộ Chính trị làm việc riêng với các đồng chí phụ trách từng chiến trường, nghe báo cáo tình hình mọi mặt. Trong các ngày từ 3 đến 5-12-1974, Thường trực Quân uỷ Trung ương lần lượt nghe các đồng chí ở Nam Bộ và Khu 5 báo cáo về ý định và kế hoạch tác chiến”. Đây là những cuộc họp chuẩn bị cho Hội nghị hết sức quan trọng của Bộ Chính trị kéo dài từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975. Dự Hội nghị, ngoài các đồng chí trong Bộ Chính trị, còn có các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường, các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và các đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách tác chiến. Tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị đều lần lượt phát biểu ý kiến và thảo luận rất kỹ. Cần nói rằng trong thời gian 20 ngày của Hội nghị, việc nhận định tình hình cũng như những ý kiến của Bộ Chính trị có sự phát triển từng tuẩn, ngày càng rõ nét những ý định chiến lược lớn lao và ngày càng thể hiện một quyết tâm sắt đá. Giữa lúc Bộ Chính trị đang họp thì một tin vui lớn từ miền Nam đưa tới: bộ đội chủ lực của miền Đông Nam Bộ phối hợp với lực lượng của địa phương mở chiến dịch đường số 14-Phước Long giành thắng lợi lớn. Trong hơn 20 ngày ta đã diệt và bắt trên 3.000 tên địch, thu 3.000 súng các loại, giải phóng thị xã Phước Long và toàn tỉnh Phước Long. Đây là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Chiến dịch đường số 14-Phước Long thắng lớn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chiến thắng này đánh dấu một bước suy sụp mới của quân nguỵ. Quân chủ lực của chúng không còn đủ sức hành quân giải toả quy mô lớn để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng mà ta đã chiếm trên các địa bàn rừng núi và giáp ranh. Chiến thắng này còn cho thấy rõ hơn về đế quốc Mỹ trong ý đồ và khả năng can thiệp của chúng vào miền Nam Việt Nam. Điều quan trọng hơn cả là chiến dịch đường số 14-Phước Long thắng to đã nói lên những khả năng mới rất lớn của quân và dân ta. Chiến thắng đó củng cố thêm quyết tâm chiến lược được xác định trong Hội nghị Bộ Chính trị và bổ sung cho phương án giành thắng lợi lớn khi có thời cơ. Lúc đầu Mỹ hùng hổ cho tàu chở máy bay chạy bằng năng lượng nguyên tử Intơpraidơ dẫn một lực lượng đặc biệt của hạm đội 7 từ Philíppin tiến về phía bờ biển Việt Nam; ra lệnh đặt sư đoàn 3 thuỷ quân lục chiến Mỹ ở Okinawa trong tình trạng báo động khẩn cấp. Bọn hiếu chiến ở Lầu năm góc doạ ném bom trở lại miền Bắc. Nhưng rồi cuối cùng Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Slesinhgiơ buộc phải bỏ qua “sự kiện Phước Long” và tuyên bố: “Đây, chưa phải là một cuộc tiến công ồ ạt của miền Bắc Việt Nam”. Hắn phớt lờ lời kêu gọi thảm thiết của Thiệu. Đại sứ, Mỹ Matin ở Sài Gòn nói với Thiệu: “Việc yểm hộ của Mỹ lúc này chưa được phép”. Ngày nay Mỹ đã yếu thế đến mức không thể muốn làm gì thì làm. Hội nghị Bộ Chính trị phân tích sự suy yếu củạ địch báo hiệu một thời cơ mới đang đến. Nhưng muốn tạo được thời cơ lớn phải có những trận đánh tiêu diệt lớn, rung động lớn, làm cho địch bị tiêu diệt và tan rã lớn. Tình hình lúc này đối với ta vô cùng thuận lợi. Ở miền Nam có thể sẽ diễn ra một cuộc khủng hoảng đưa đến một thời cơ lớn cho ta. Nếu ta đánh mạnh nhất, gọn nhất, nhanh nhất, thì nhất định sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn sớm hơn ta dự kiến. Ngày 8-1-1975, hai ngày sau chiến thắng Phước Long, đồng chí Lê Duẩn kết luận Hội nghị. Đồng chí nói: “Hội nghị chúng ta rất phấn khởi, nhất trí cao. Lần này có các đồng chí ở Nam Bộ và Khu 5 ra dự. Tình hình đã sáng rõ. Chúng ta quyết tâm hoàn thành kế hoạch hai năm. Hai năm là ngắn và cũng là dài. Cuộc chiến đấu ở miền Nam được thực lực mạnh ở miền Bắc dấy lên thành sức mạnh cả nước. Bây giờ quân Mỹ đã rút ra rồi, quân đội ta đã có sẵn ở trong Nam, quần chúng lại có khí thế. Đây là nội dung của thời cơ. Ta phải nắm vững và đẩy mạnh đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, đó là đặc điểm Việt Nam. Ở miền Nam ta có sức mạnh mới: giành thế chủ động trên chiến trường, tạo được thế liên hoàn từ Trị Thiên vào đến đồng bằng sông Cừu Long. Ta đã tạo được quả đấm mạnh. Ở Khu 8, Khu 9, quả đấm cũng đang hình thành và phát triển. Ta tạo được bàn đạp quanh đô thị; đô thị có phong trào quần chúng của ta, thế giới ủng hộ ta”. Sau khi phân tích tình thế suy yếu của địch, đồng chí Lê Duẩn nói tiếp: “Ta phải giáng đòn chiến lược trong năm 1975. Ở Nam Bộ ta phải tạo thế liên hoàn trong toàn miền, áp sát vào Sài Gòn hơn nữa, tiêu diệt quân chủ lực địch nhiều hơn nữa, làm cho các địa phương có sức bung ra khi có thời cơ. Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, ta phải áp sát vào Mỹ Tho hơn nữa. Chúng ta đồng ý năm nay mở đầu bằng đánh Tây Nguyên”. Đồng chí chỉ tấm bản đồ treo phía sau lưng nói: “Cần đánh mở ra ở Buôn Ma Thuột và Tuy Hoà. Ở Khu 5 ta phải giải phóng từ Bình Định trở ra. Ở Trị Thiên, ta phải làm chủ từ Huế đến Đà Nẵng. Thắng lợi lớn như vậy thì làm cho so sánh lực lượng thay đổi lớn. Phải đánh liên tục đến mùa mưa, tạo ra những thắng lợi dồn dập. Ta đánh mạnh, địch có nguy cơ tan rã nhanh hơn. Đánh ở vòng ngoài đô thị thì ta phải đập tan quân chủ lực địch. Khi vào đô thị, ta phải đập nát đầu não của địch. Miền Bắc phải bảo đảm đầy đủ về vật chất và kỹ thuật cho bộ đội. Đây là nhân tố cơ bản để giành thắng lợi. Bất cứ thời cơ nào ta cũng thắng. Phải xem có cách gì đánh nhanh hơn nữa. Bộ Tổng Tham mưu cần suy nghĩ nhiều hơn về vấn đề đó”. Hội nghị Bộ Chính trị (18-12-1974-8-1-1975) có ý nghĩa lịch sử, đánh giá đúng thực chất tình hình, nắm vững quy luật chiến tranh cách mạng, kịp thời phát hiện những nhân tố mới để hạ quyết tâm chiến lược chính xác. Rõ ràng về cuối Hội nghị, Bộ Chính trị nhấn mạnh nhiều hơn đến việc cần phải đánh nhanh hơn. Đấy là một mong muốn có căn cứ khoa học sau khi đã phát hiện thời cơ và nắm lấy thời cơ, nếu bỏ lỡ thời cơ thì có tội đối với dân tộc. Kết luận của đồng chí Lê Duẩn được Hội nghị nhất trí hoàn toàn và biến thành nghị quyết: Chưa bao giờ ta có điều kiện đẩy đủ về quân sự, chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn thuận lợi như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc giữa lúc phong trào ba nước Đông Dương đang trên đà tiến công mạnh, giành thắng lợi ngày càng to lớn. Bộ Chính trị nêu quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi tiến hành Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã nguỵ quân, đánh đổ nguỵ quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị còn nhấn mạnh: Ta vẫn đề phòng khả năng Mỹ có thể can thiệp bằng không quân, hải quân, trong trường hợp quân nguỵ có nguy cơ sụp đổ lớn và với điều kiện chúng có khả năng kéo dài sự chống đỡ. Nhưng dù Mỹ có can thiệp như thế nào ta cũng có đầy đủ quyết tâm và điều kiện để đánh thắng chúng và chúng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị được thể hiện trong kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976: năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm, trong kế hoạch năm 1975, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là: nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Hết: Chương 2, xem tiếp: Chương 3

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 4

Đường ra trận

Chúng tôi vào Mặt trận Tây Nguyên, mang bí danh: “Đoàn A.75”.

Theo quy định, khi giao dịch, thông tin liên lạc và thảo luận với nhau trong chiến dịch này, đồng chí Võ Nguyên Giáp mang bí danh Chiến, còn tôi mang bí danh Tuấn.

Năm nào cũng vậy, cứ vào những ngày giáp Tết, tôi lại chuẩn bị một ít quà nhỏ và thư chúc mừng năm mới gửi đến các gia đình cơ sở cách mạng đã giúp đỡ tôi trong những năm hoạt động bí mật trước đây. Lần này tôi cũng chuẩn bị sẵn quà và thư chúc Tết như thế để khi tôi lên đường rồi, người nhà gửi đi như thường lệ.

Tôi ký sẵn các bức điện mừng nhân ngày kỷ niệm thành lập Quân đội Liên Xô và Cộng hoà dân chủ Đức tháng 2, và Quân đội Mông Cổ tháng 3 năm 1975 để đúng ngày gửi đi.

Sáng ngày 5-2-1975, tức là ngày 25 Tết âm lịch, chúng tôi sang sân bay Gia Lâm để đáp máy bay vào Đồng Hới. Ra tiễn chúng tôi chỉ có các đồng chí Thiếu tướng Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng và Thiếu tướng Lê Văn Tri, Tư lệnh bộ đội Phòng không – Không quân.

Đúng 10 giờ rưỡi sáng, chiếc máy bay AN 24 cất cánh.

Hà Nội rợp hoa chuẩn bị đón xuân. Hà Nội, trái tim của cả nước, nơi phát ra quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Hà Nội anh hùng và mến yêu hôm nay đẹp vô cùng. Trên máy bay chúng tôi nhớ đến lời dặn của các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, nghĩ đến trách nhiệm lớn lao của Đảng giao phó và đến cách đánh sắp tới của ta ở Tây Nguyên như đồng chí Lê Duẩn đã dặn: “Nên suy nghĩ nhiều và có cách đánh đúng”.

Đi vào chiến dịch này, ở đâu cũng thế, từ cán bộ lãnh đạo đến từng chiến sĩ, ai cũng lạc quan và sôi nổi khí thế lập công. Chúng tôi nóng ruột muốn tới chiến trường ngay trong ngày để hoàn chỉnh cách đánh đang ấp ủ và chăm chú theo dõi từng hành động của địch.

Theo tin tình báo của ta, trong hai ngày 9 và 10-12-1974, trong “Dinh Độc lập”, Thiệu họp với bọn tư lệnh các quân đoàn, quân khu nguỵ để phán đoán hoạt động của ta trong năm 1975. Bọn chúng nhận định:

– Trong năm 1975, ta có thể đánh với quy mô lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng năm 1972. Ta chưa có khả năng đánh thị xã lớn hoặc thành phố, dù có đánh cũng không giữ được. Ta chỉ có thể đánh loại thị xã nhỏ và cô lập như Phước Long, Gia Nghĩa.

Yêu cầu chủ yếu của ta năm 1975 là giành 2 triệu dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và mở rộng vùng giải phóng ở miền núi. Mục đích của ta là giành thắng lợi để thúc ép chúng thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam.

Chúng cho rằng đầu năm 1975, phương hướng tiến công của ta là đánh Quân khu 3, chủ yếu là Tây Ninh, nhằm lấy Tây Ninh làm thủ đô của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Về thời gian tiến công, địch phán đoán ta sẽ đánh trước hoặc sau Tết cho đến tháng 6-1975, tới lúc đó là mùa mưa thì dừng lại nghỉ. Do nhận định về ta như thế, Thiệu ra lệnh cho bọn tướng nguỵ ráo riết đánh ta trước để phá vỡ kế hoạch chuẩn bị của ta. Trần Thiện Khiêm, thủ tướng nguỵ, họp với các trưởng quân khu, trưởng tiểu khu để mở chiến dịch “bình định cấp tốc lập tức”, trong 3 tháng, kể từ ngày 1-1-1975, để “ngăn chặn Chiến dịch Đông Xuân của Việt cộng”. Do nhận định như vậy, chúng không thay đổi thế bố trí chiến lược mạnh hai đầu (Quân khu 1 và Quân khu 3) và chúng cũng chưa có sự tăng cường lực lượng gì lớn ở Quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên.

Đầu năm 1975, chúng có 1.351.000 quân, trong đó có 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân “phòng vệ dân sự” có vũ trang, gồm 13 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn biệt động quân.
Chúng bố trí lực lượng như sau:

Ở Quân khu 1, chúng để 5 sư đoàn chủ lực (trong đó có 2 sư đoàn tổng dự bị) và 4 liên đoàn biệt động quân, 21 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 418 khẩu, 5 thiết đoàn và 6 chi đội xe tăng, thiết giáp gồm 449 xe, 1 sư đoàn không quân trong đó có 96 máy bay chiến đấu. Phần lớn lực lượng quân chủ lực địch giữ Huế và Đà Nẵng.

Ở Quân khu 2, chúng để 2 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 382 khẩu, 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng, thiết giáp gồm 477 xe, 2 sư đoàn không quân, trong đó có 138 máy bay chiến đấu. Phần lớn quân chủ lực địch rải ra giữ Tây Nguyên, đồng bằng và ven biển.

Ở Quân khu 3, chúng để 3 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 376 khẩu, 7 thiết đoàn và 15 chi đội xe tăng, thiết giáp gồm 655 xe, 2 sư đoàn không quân, trong đó có hơn 250 máy bay chiến đấu. Toàn bộ quân chủ lực địch triển khai theo hình vòng cung từ tây bắc, bắc và đông bắc bảo vệ thành phố Sài Gòn từ xa trên dưới 50km.

Ở Quân khu 4, chúng để 3 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn bảo an, 15 tiểu đoàn và 55 đại đội pháo gồm 380 khẩu, 5 thiết đoàn và 17 chi đữi thiết giáp gồm 493 xe, 1 sư đoàn không quân, trong đó có 72 máy bay chiến đấu, 580 tàu, xuồng các loại. Quân chủ lực địch giữ khu vực Cẩn Thơ, Chương Thiện, đường số 4 và tuyến biên giới.

Thế địch đã suy yếu, chúng lại phạm sai lầm lớn về chiến lược trong việc đánh giá ta, dẫn tới những kế hoạch bố trí lực lượng sai và chủ trương tác chiến sai, báo hiệu một thất bại lớn đang đến với chúng.

Máy bay đỗ xuống Đồng Hới, đồng chí Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên cùng một đoàn xe của Bộ Tư lệnh 559 từ Quảng Trị ra, đã chờ đón chúng tôi ở sân bay.

Chúng tôi lên xe vào Quảng Trị. Đường qua Lệ Thuỷ, Hồ Xá gồ ghề do nhiều năm địch đánh phá dữ dội cho nên xe chạy xóc nhiều, nhưng đây cũng là một trong những đoạn đường kiên cường, anh hùng trên đất nước ta góp phần vào việc chi viện cho miền Nam đánh thắng.

Tới sông Bến Hải, chúng tôi xuống thuyền gắn máy chạy ngược sông. Trời nắng nhưng mát một cách lạ lùng.

Xế chiều, chúng tôi đổ bộ lên một bến phía nam sông để đi vào Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh 559, ở phía tây Gio Linh.

Bộ đội 559, như tên gọi của nó, ra đời tháng 5-1959, thuộc Tổng cục Hậu cần. Bộ đội 559 cũng như ngành Hậu cần của quân đội ta là lịch sử của một quá trình xây dựng, chiến đấu và phát triển, là sự thể hiện tư tưởng cách mạng tiến công, quan điểm bạo lực cách mạng, sự nhìn xa thấy trước để phục vụ chiến đấu. Tất cả những gì mà bộ đội 559 đã làm đều là những kỳ công.

Đồng chí Trần Đăng Ninh, uỷ viên Trung ương Đảng, một chiến sĩ cách mạng kiên cường đã hai lần vượt khỏi nhà tù của thực dân Pháp, là người có công lớn xây dựng ngành Hậu cần của quân đội ta từ những năm 1950 trở đi trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nếu đồng chí còn sống thì sẽ rất mừng được thấy lực lượng hậu cần hùng mạnh của quân đội ta hôm nay mà ngày trước đồng chí từng mong ước.

Lúc này hơn 10.000 xe tải lên mặt đường, bao gồm một số xe của các quân khu, các địa phương và của Bộ Giao thông vận tải điều tới tăng cường. Như một người nội trợ đảm đang, ngành Hậu cần vừa phục vụ kế hoạch hàng năm của quân đội, vừa tần tảo, chắt chiu dự trữ lực lượng từng ngày, từng tháng trên toàn chiến trường miền Nam để chờ thời cơ lớn đến, vừa làm nhiệm vụ đối với bộ đội trong nước, vừa làm nghĩa vụ quốc tế đối với các nước anh em. Và một điều hết sức phấn khởi là thấy các chiến sĩ ta đi vào chiến dịch bằng cơ giới, ngoài mặt trận ăn uống no đủ, ngay đến lương khô của ta như loại A72 cũng khá là ngon.

Cũng từ chiến dịch này, các chiến sĩ ngoài mặt trận đã nhận được một số súng lớn và đạn lớn do công nhân quốc phòng của ta sản xuất trong nước bắt đầu từ năm 1973.

Đây cũng là bước đầu của cuộc cách mạng kỹ thuật trong ngành công nghiệp quốc phòng.

Càng đi ra mặt trận, càng thấy sức mạnh to lớn của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Hậu phương là một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Nhân dân anh hùng của hậu phương anh hùng, chịu đựng hy sinh và gian khổ làm tất cả mọi việc, gửi ra mọi thứ cần thiết để phục vụ tiền tuyến, kể cả những người chồng, những người con yêu quý nhất của mình.

Khi đến Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh 559, chúng tôi đã thấy đồng chí Lê Ngọc Hiền vừa từ Tây Nguyên đi xe hơi ra theo như đã hẹn.

Trong căn nhà mái tranh, đêm xuống từ lâu, nhưng chúng tôi chưa ngủ được vì những suy nghĩ về chiến dịch sắp đến. Làm thế nào để thực hiện bằng được quyết tâm của Bộ Chính trị về giải phồng miền Nam. Giành thắng lợi ở Tây Nguyên, đặc biệt đánh Buôn Ma Thuột bằng cách nào? đánh như thế nào để địch phải sụp đổ nhanh chóng?

Tôi nhớ đến kiểu đánh truyền thống của dân tộc ta, kiểu đánh độc đáo của quân đội ta hơn 30 năm qua. Kiểu đánh quen thuộc của tôi cũng lại trở lại trong óc. Bất ngờ và bất ngờ đối với địch, đánh như sét giáng, đập nát ngay đầu não chỉ huy của chúng. Nhưng thực tế có cho phép không?

Sáng hôm sau, chúng tôi dậy sớm làm việc. Đồng chí Lê Ngọc Hiền báo cáo tình hình Mặt trận Tây Nguyên và dự kiến kế hoạch tác chiến. Các đồng chí Đinh Đức Thiện và Đồng Sĩ Nguyên báo cáo tình hình chuẩn bị của Hậu cẩn, cho biết đã đưa vào mặt trận đầy đủ mọi thứ phục vụ chiến đấu, đề nghị đã đánh là đánh lớn, cần bao nhiêu gạo, đạn, xăng và xe để chở quân, cũng có đủ. Điều đó làm chúng tôi rất yên tâm. Đối với Hậu cần, đánh to, đánh thắng lớn, thắng nhanh thì càng giảm bớt mức tiếp tế mà lại còn lấy được những phương tiện vật chất, kỹ thuật của địch để bổ sung cho ta.

Ngay hôm sau, đồng chí Đinh Đức Thiện quay lại Quảng Bình đôn đốc việc dồn kho đạn ở đây ra mặt trận bổ sung cho Tây Nguyên, chỉ đạo việc lấy loại đạn nào trước, loại đạn nào sau, còn chúng tôi tiếp tục đi vào phía trong. Biển số xe chúng tôi được sơn lại, thêm chữ TS và con số 50, có nghĩa là xe được quyền ưu tiên số 1 của bộ đội Trường Sơn. Đồng chí Đại tá Phan Khắc Hy, Phó Tư lệnh 559, được phân công đi cùng với đoàn, phòng những trắc trở dọc đường để bảo đảm cho chúng tôi sớm vào tới Sở chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên.

Trên đường chiến lược, các chiến sĩ ta tấp nập làm đường, chữa đường. Các cô thanh niên xung phong vừa lao động vừa hát, vừa cười nói ríu rít, vẫy theo xe:

– Thủ trưởng ơi, gần Tết rồi mà chúng em chưa nhận được thư nhà.

Chúng tôi tặng các cô mấy trăm chiếc cặp tóc để chia nhau làm quà.

Từng đoàn xe lớn sau khi chở đạn vào mặt trận quay ra Bắc, chạy rầm rập trên đường. Anh em lái xe với tay ra ngoài buồng lái:

– Thủ trưởng ơi, 30 Tết rồi mà anh em không còn một điếu thuốc hút.

Chúng tôi tặng anh em lái xe một số thuốc lá để làm quà Tết.
Giữa đường, chúng tôi gặp Sư đoàn 316 đang hành quân. Lần đầu tiên toàn Sư đoàn hành quân bằng cơ giới ra mặt trận trên 500 chiếc xe lớn. Sư đoàn được lệnh từ khi lên đường đến lúc nổ súng, tuyệt đối không được mở máy thông tin liên lạc để giữ bí mật. Ta bắt được điện của địch đang gọi nhau kêu mất hút Sư đoàn 316, không biết Sư đoàn này đang di chuyển đi đâu. Chiến sĩ ta ngồi trên xe sung sức, khỏe mạnh, tươi vui, vẫy mũ, vẫy tay, reo hát trong tiếng gầm của xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo tầm xa, kéo pháo cao xạ, xe tải các loại nối đuôi nhau thành dãy dài vô tận như một dòng thác lớn chảy ra tiền tuyến.

Hết: Chương 4, xem tiếp: Chương 5

vnthuquan.net

Nhân chứng đặc biệt – Kỳ 3

“Ông Tùng đã thảo văn kiện đầu hàng”

Đại tá Bùi Văn Tùng

TT – Trong phần tường thuật dưới đây, nhà báo chuyên nghiệp Borries Gallasch đã trả lời một cách chắc chắn về vấn đề gây tranh cãi hàng chục năm qua: người đã thảo lời tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh.

Thảo văn kiện

Sau một vài phút, ông Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu và ông Bùi Văn Tùng rời khỏi phòng, theo sau là những người đã có mặt tại đây để sang đài phát thanh. Chúng tôi bước xuống cầu thang ra bãi cỏ, đến ngang chỗ vòi phun nước, tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu leo lên một chiếc xe jeep được bảo vệ bởi hai chiến sĩ giải phóng (đại úy Phạm Xuân Thệ đi xe này – TS). Chính ủy Bùi Văn Tùng và một người lính khác lên chiếc xe thứ hai. Tôi đang đứng ngay cạnh chiếc xe jeep nói chuyện với ông chính ủy bằng tiếng Pháp, cố gắng xin ông ta để được lên xe. Ông gật đầu đồng ý. Luật sư Đỉnh với bộ râu dài cũng leo lên chiếc xe jeep này và chúng tôi lái đi. Chỉ có hai chiếc xe này của chúng tôi chạy giữa thành phố lúc ấy – một thành phố đã từng sôi sục mà nay sự sợ hãi bỗng nhiên được làm dịu đi – qua tòa đại sứ Mỹ trống hoác, đến đài phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng và nhà báo Borries Gallasch tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 (Ảnh tư liệu gia đình của Borries Gallasch)

Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Những kỹ thuật viên đã lấy chân dung của Thiệu từ trên tường xuống và ném qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi ngồi bất động một lát. Ông Mẫu quạt mặt mình bằng một quyển sách. Tổng thống Dương Văn Minh và chính ủy xe tăng Bùi Văn Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ. Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh.

Ông Mẫu trông có vẻ hài lòng. Ông tỏ ra như thể chiến thắng này là chiến thắng của ông. Người thành lập và phát ngôn cho lực lượng thứ ba, mà mới tuần trước đã giải thích cho tôi tại sao nhóm trung lập của ông ấy sẽ là một nhân tố cần thiết cho bất cứ một tương lai chính trị nào ở Nam VN, nay tuyên bố rằng: “Không còn lực lượng thứ nhất nữa nên chúng ta không còn cần đến lực lượng thứ ba, hòa giải dân tộc diễn ra sớm hơn dự định. Bây giờ dù muốn hay không chúng ta cùng làm việc cho nhân dân ta”. “Không phân biệt chính kiến?”. “Đúng, chúng ta có khác nhau về quan điểm nhưng những điểm khác nhau đó chỉ hướng chúng ta đi đến một mục đích chung”.

Chính ủy Tùng đã rất khó viết. Ông ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào.

Trong lúc đấy mọi người dường như đang thư giãn và giảm phấn khích hơn so với một giờ trước. Đại úy Phạm Xuân Thệ, người đã bắt ông Minh trong dinh, vẫn còn lăm lăm khẩu súng trong tay. Ông ta nhắc đi nhắc lại với ông Minh về việc đầu hàng trên đài.

Thời khắc lịch sử

Đại tướng Dương Văn Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người lính bộ đội nhìn ông Minh với vẻ tò mò. Họ vây quanh ông ta trong lúc phía bên ngoài vẫn còn nghe những tiếng nổ. Những người lính giải phóng đã thể hiện sự vui mừng không kìm nén được. Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người lính: “Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú ấy?”. Đó là số mệnh của những người dân VN: người em của tổng thống là một tướng lĩnh trong quân đội miền Bắc VN và trong 20 năm anh em ruột thịt ở hai bên chiến tuyến (Tuổi Trẻ sẽ trở lại câu chuyện này trong một hồ sơ sắp tới).

Trên đường tìm kiếm tài liệu và gặp gỡ nhân chứng, vào tháng 3-2005, phóng viênTuổi Trẻ đã đến Bộ tư lệnh Quân đoàn II đóng ở Bắc Giang (cách Hà Nội 80km). Trong khi xem xét kỹ từng hiện vật ở bảo tàng quân đoàn (lúc đó còn rất ngổn ngang vì đang sắp xếp trưng bày lại), phóng viên Tuổi Trẻđã sửng sốt khi nhìn thấy bản thảo lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh. Đó là hai trang giấy pơluya màu xanh, nhăn nhúm và lấm lem bụi đường. Nhìn nét chữ thì biết ngay của đại tá Bùi Văn Tùng và cán bộ bảo tàng cũng xác nhận điều đó.

Điều đáng nói là ngay bên cạnh bản thảo viết tay của đại tá Tùng, chúng tôi lại thấy một bản thảo cùng nội dung, nhưng được một người nào đó viết. Trả lời thắc mắc này, cán bộ Bảo tàng Quân đoàn II nói rằng: Sợ bản thảo gốc bị mờ, giấy lại nhăn, khó đọc, nên bảo tàng cho người viết lại để dễ đọc. 

Một lời giải thích khó có thể chấp nhận! Do vậy cán bộ bảo tàng đã không thể trả lời được câu hỏi tiếp theo: Điều gì sẽ xảy ra khi bản thảo của đại tá Tùng bị mất, và con cháu chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy một bản thảo được ai đó viết lại?

Sau cuộc hội ý với cấp trên, sĩ quan tuyên huấn quân đoàn đã không đồng ý cho phóng viên sao chụp, ghi hình tư liệu này.                                       

BÙI THANH

Đại úy Thệ im lặng. Tất cả mọi người bỗng nhiên im lặng. Rồi một vài người lính giải phóng nói chuyện với tôi bằng tiếng… Nga. Họ trông thấy phù hiệu “Báo chí Đức” trên áo sơmi của tôi và tưởng tôi là nhà báo Đông Đức. Họ đã nói chuyện với tôi về Các Mác. Bạn tôi là Hà Huy Đỉnh đã giải thích cho họ rằng tôi là nhà báo Tây Đức. Mặt họ sầm xuống, tỏ ra nghi ngờ và e dè hơn.

Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng, nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rất rõ ràng cho tôi những việc tôi phải làm: ông Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố vào máy ghi âm của tôi, việc này được lặp đi lặp lại ba lần. Lần đầu tiên ông Minh chần chừ vì được yêu cầu phải đọc là: “Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”, nhưng ông ấy chỉ muốn nói: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh…”. Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận: không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh phải nói: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn”. Nhưng ông Minh không đọc được bản viết tay của chính ủy Tùng và nói sai nhiều lần. Tất cả mọi thứ lại phải được đọc lại từ đầu. Cuối cùng đã xong. Ông Minh kết thúc âm giọng chính xác: “…miền Nam Việt Nam”.

Tôi cũng ghi âm lời phát biểu của ông Mẫu và ông chính ủy Tùng rồi chúng tôi đi vào phòng thu thanh. Tôi ngồi ngay trước micro và bật băng của ba bài phát biểu. Ông Minh ngồi bên tay trái tôi. Chính ủy Tùng, ông Mẫu đứng đằng sau chúng tôi. Kỹ thuật viên ngồi phía bên kia của kính ngăn yêu cầu bật máy lại, lần này để máy lại gần micro hơn và không quá to. Lúc này mọi sự đều tốt đẹp. Chính ủy Bùi Văn Tùng đã nói những gì với tôi mà tôi không hiểu. Hà Huy Đỉnh dịch lại. Tôi đã được ông cảm ơn về sự giúp đỡ của tôi và cho phép tôi chở ông về lại dinh Độc Lập trên chiếc xe jeep. Chúng tôi rời khỏi tòa nhà. Tôi ngồi sau tay lái và ông chính ủy ngồi ghế bên.

Tôi không thể nổ máy chiếc xe. Lúc ấy ông chính ủy trở nên sốt ruột và chúng tôi đã đi sang một chiếc xe khác, nơi tôi lại ngồi băng ghế sau. Chúng tôi lại đi qua những con đường của VN. Lúc ấy khoảng 2g chiều, những người lính của Mặt trận Giải phóng đã đứng gác tại tất cả các ngã tư và trên những con đường đã rất đông người. Chúng tôi đã đi mà không có bảo vệ. Sài Gòn đã chắc chắn ở trong tay của chính quyền cách mạng, không gặp sự kháng cự nào.

Tại dinh Độc Lập, tôi nhảy ra khỏi xe. Trên khuôn mặt bình thản của chính ủy Bùi Văn Tùng giấu một nụ cười. Rồi ông nói với tôi bằng một câu tiếng Đức mà ông biết: “Danke” (cảm ơn).

Hai ngày sau, ông Minh được tự do trở về nhà với vườn hoa phong lan của mình.

Trong ảnh, Borries Gallasch ngồi cạnh ông Dương Văn Minh để chuẩn bị ghi âm lời tuyên bố đầu hàng. Đây là bức ảnh duy nhất ghi lại thời khắc lịch sử ở Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30-4-1975.

Tác giả bức ảnh này là nhà báo Kỳ Nhân – một nhà báo đối lập trước năm 1975, lúc đó đang cộng tác cho Hãng tin AP (Mỹ). Khi nhìn thấy bức ảnh duy nhất này, cả George Esper và Peter Arnett (phóng viên chiến trường nổi tiếng, sau này làm cho CNN) đều thảng thốt: “Tấm ảnh này sẽ đi vào lịch sử!”.

Nhà báo Kỳ Nhân đã giao phim và ảnh cho AP. Sau đó ít ngày, George Esper và Peter Arnett đã “tặng” lại cho đại diện quân giải phóng là trung úy Phùng Bá Đam (nay là đại tá). Trước khi đi học, ông Đam có bàn giao phim và ảnh lại cho bộ phận tuyên huấn  của Trung đoàn 66, Sư đoàn 304.

B.T.

BORRIES GALLASCH (Nam Hải – Tiến Long dịch)

tuoitre.vn

Nhân chứng đặc biệt – Kỳ 2

Người châu Âu duy nhất trong dinh Độc Lập

Từ trái sang: ông Nguyễn Văn Binh, ông Nguyễn Hữu Hạnh, ông Dương Văn Minh, ông Nguyễn Văn Hảo và ông Vũ Văn Mẫu đang nói chuyện với đại diện quân giải phóng trưa 30-4-1975 (ảnh do gia đình nhà báo Borries Gallasch tặng đại tá Bùi Văn Tùng)

TT – Borries Gallasch vào tháng 4-1975 là phóng viên của báo Tấm Gương (Đức), thường trú tại miền Nam VN.

Sáng 30-4-1975, mặc dù “sợ đến run cả hai đầu gối”, Borries Gallasch vẫn tìm cách “lọt” vào bên trong dinh Độc Lập, và sau đó trở thành phóng viên nước ngoài duy nhất chứng kiến thời khắc lịch sử ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Dưới đây là tường thuật của ông, với tư cách một nhà báo. Nó được viết cách đây 32 năm và được in trong cuốn Ho – Tschi – Minh Stadt. Vì cuốn sách được viết từ năm 1975, nên không thể tìm thấy trong các hiệu sách ở Đức. Nhờ nỗ lực của nhà quay phim Đặng Việt Tùng, bản sách duy nhất của Borries Gallasch đã được gửi về VN vào giữa năm 2006.

“Lọt” vào nơi chuyện quan trọng sẽ xảy ra

Đúng 7 giờ sáng, những chiếc máy bay trực thăng cuối cùng của không lực Hoa Kỳ rời khỏi Sài Gòn. Đến 12g trưa, những lá cờ của Mặt trận Giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc Lập.

Dietrich Mummendey cùng tôi đã trụ lại qua đêm tại Hội Chữ thập đỏ nằm trên đường Hồng Thập Tự. Vào khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi đi đến khách sạn Caravelle nơi tập trung hầu hết phóng viên thông tấn nước ngoài còn ở lại. Đầu tiên là người Pháp, người Nhật, một vài người Anh, Ý và cả chúng tôi. Mummendey và tôi không thể nán lại lâu hơn nên đã đi đến văn phòng của Hãng Reuters, nằm cách khách sạn khoảng 2km.

Quân giải phóng

Mặc dù sợ đến run cả hai đầu gối, nhưng sau đó tôi vẫn đi bộ đến dinh Độc Lập vào lúc 11g sáng hôm ấy. Tôi đứng một mình trước dinh mà giờ đây yên lặng như một viện bảo tàng và ngổn ngang những mũ sắt, quân phục, súng ống, thậm chí cả lựu đạn và một khẩu súng chống tăng, súng máy ngay tại bãi cỏ.

Không có một bóng người nào ở đó. Những tiếng nổ từ phía kho đạn của sân bay Tân Sơn Nhất vẫn còn vọng lại. Tôi bước qua cánh cổng sắt mở hé. Một thiếu tá bước sát ngay bên cạnh tôi, nhưng làm như có vẻ không nhìn thấy tôi. Tôi băng ngang qua bãi cỏ và nghĩ rằng có thể bị ai đó bắn bất cứ lúc nào. Ngay bên những bậc thang dẫn đến lối vào chính có những người lính đang cãi vã. Một chiếc Limousine đen, bên trong là ông Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống của một chính thể không còn nữa, nói với tôi: “Chúng tôi đang chờ phái đoàn của Mặt trận Giải phóng vào dinh, anh có thể đợi nếu anh muốn”. Những người lính của đội cận vệ tổng thống thậm chí đã không thèm chào khi một nhân vật quan trọng thứ hai của quốc gia được chở ra bằng cổng sau.

Tôi hít một hơi thật sâu rồi bước tiếp lên những bậc tam cấp đi vào cửa chính qua tiền sảnh rồi đi lên lầu một. Tại đây tôi gặp Hà Huy Đỉnh – một luật sư Sài Gòn người nhỏ bé và cũng là học trò của thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Hà Huy Đỉnh, người mà chỉ vừa mới đi lên từ tầng hầm đã có cùng ý nghĩ như tôi: đi đến một chỗ mà nếu có chuyện gì quan trọng xảy ra thì sẽ xảy ra ở đấy.

Một cảnh ngoạn mục

Trong khoảnh khắc ấy, khi chúng tôi còn đang đứng ở giữa sảnh thì cửa thang máy bật mở, bước ra là tổng thống Minh “lớn”, thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một vài người thân cận từ dưới hầm trú ẩn đi lên. Ông Minh “lớn” (Big Minh) nói: “Thật là tốt khi anh có mặt ở đây, anh sẽ chứng kiến sự chuyển đổi vận mệnh của đất nước tôi vào tay những người xứng đáng hơn tôi”.

Trong lúc những nhân viên của tổng thống Dương Văn Minh đi đi lại lại đầy lo âu, thì ông vẫn đứng im lặng giữa sảnh và phóng tia mắt nhìn qua cửa sổ phía trước của dinh về hướng nhà thờ Đức Bà. Bỗng nhiên những tiếng nổ inh tai của súng máy vang lên. Tôi nằm rạp xuống sàn tìm kiếm sự che chắn đằng sau cột ximăng. Phút cuối cùng của sự nổi dậy, một cuộc đánh chiếm dinh?!

Không có tấm kính nào bị vỡ, chúng tôi rời khỏi chỗ nấp. Minh “lớn” vẫn đứng nguyên chỗ cũ, to lớn như một bức tượng bên cạnh ông thủ tướng thấp bé. Rồi trước mắt chúng tôi xuất hiện cảnh tượng không thể tin được: ba chiếc xe tăng treo những lá cờ của Mặt trận Giải phóng tiến qua cổng sắt hướng về phía bồn hoa trước dinh. Súng bắn loạn xạ lên không trung, những phát súng của niềm vui, dàn giao hưởng của chiến thắng, giai điệu của vinh quang. Chiếc tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng, lăn xích thẳng trên bãi cỏ nhằm hướng dinh lao tới. Hai chiếc tăng còn lại vòng sang hai bên và rồi tất cả đều dừng lại trước mặt tiền của dinh. Khoảng 20-30 phát súng khác được bắn lên.

Xe tăng lữ đoàn 203 đang ào ạt tiến vào sân dinh Độc Lập trưa 30-4-1975 - Ảnh: Borries Gallasch

Tôi chạy ra ban công chụp ảnh. Tôi và Hà Huy Đỉnh thay phiên nhau. Thật là một cảnh ngoạn mục. Và rồi một người lính giải phóng với khẩu súng bên tay trái và một lá cờ bên tay phải xông lên cầu thang suýt xô ngã tôi. Hai chiến sĩ giải phóng khác chiếm lấy vị trí bên phải và bên trái của cầu thang. Đầu tiên không ai nhận thấy Minh “lớn” và những người khác đang chờ họ ở phía bên kia của phòng tiếp khách.

Một người lính đứng ngay trước mặt tôi. Anh ta hét vào tôi, hét đi hét lại điều gì đó mà tôi không hiểu. Hà Huy Đỉnh hét giải thích cho tôi là mở cửa ra ban công. Tôi mở cánh cửa kính ra vào. Anh ta lướt qua tôi, kéo cờ lên và vẫy đi vẫy lại.

Ở phía dưới nhiều chiếc xe tăng tiếp tục tiến vào và tất cả đều bắn lên không trung. Một vài nhà báo chạy vào qua bãi cỏ.

Khoảng 30 binh sĩ của chế độ Sài Gòn đứng giơ tay đầu hàng và xếp thành ba hàng trên bãi cỏ.

Là một người châu Âu duy nhất, là một nhà báo duy nhất, tôi chứng kiến đại tướng Minh “lớn” – tổng thống của VN cộng hòa, đã bị bắt bởi Phạm Xuân Thệ, chỉ huy của đoàn Đông Sơn thuộc quân đội giải phóng. Tay cầm súng ngắn đã lên đạn, một khẩu K54 của Nga, Thệ rất phấn khích la lớn yêu cầu ông Minh ra đài phát thanh.

Nhưng tướng Minh không muốn đi. Ông ta đề nghị rằng bài nói của ông phải được thu âm vào máy thu ở trong dinh. Họ tranh luận việc đó. Càng lúc càng nhiều người lính giải phóng chạy vào. Rồi họ bắt đầu tìm máy thu nhưng không có kết quả. Không có một cái máy ghi âm nào trong dinh cả.

Sự hoang mang chấm dứt khi người chỉ huy của quân giải phóng, chính ủy Bùi Văn Tùng xuất hiện. Ngay lúc đó, một nhóm đông người tập trung lại và được đưa vào phòng tiếp khách của tầng thứ nhất.

BORRIES GALLASCH (Nam Hải – Tiến Long dịch)

oOo

Trong phần tường thuật kỳ tới, nhà báo Borries Gallasch sẽ góp câu trả lời rõ ràng của mình cho vấn đề gây tranh cãi hàng chục năm qua: người đã thảo lời tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh.

Kỳ tới “Ông Tùng đã thảo văn kiện đầu hàng”

tuoitre.vn

Hiệp định Paris về Việt Nam, một mốc son trên đường thắng lợi

ND – Ba mươi tám năm đã qua kể từ ngày 27-1-1973, ngày Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Như đối với bất cứ sự kiện lịch sử nào, đối với Hiệp định Paris về Việt Nam cũng vậy, độ lùi về thời gian càng xa, sự đánh giá càng trở nên toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.

Cho đến nay, vẫn còn như mới nguyên những câu hỏi từng được đặt ra, từng được giải đáp và ngày nay, tiếp tục được khẳng định một cách mạnh mẽ hơn, chắc chắn hơn. Ðó là: Con đường nào dẫn tới cuộc đàm phán Paris? Ðâu là thực chất của cuộc đàm phán? Ðâu là nội dung và ý nghĩa của Hiệp định Paris, nhất là đối với đại thắng mùa Xuân năm 1975?

Con đường nào dẫn đến cuộc đàm phán ?

Có thể nói gọn, đó là con đường đấu tranh quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường và chỉ có thắng lợi trên chiến trường mới buộc địch phải tới bàn đàm phán.

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền nam, cả về quân sự và chính trị, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã phá sản. Ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ðể hòng cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ “chiến tranh đặc biệt” chuyển thành “chiến tranh cục bộ”, thực chất là “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh.

Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền nam, mặt khác, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền bắc, đưa chiến tranh xâm lược ra cả nước ta. Ba năm 1965, 1966, 1967 là thời gian Mỹ điên cuồng leo thang chiến tranh.

Ðể lừa bịp dư luận, chính quyền Johnson rêu rao “miền bắc xâm lược miền nam” và mở cuộc vận động “ngoại giao hòa bình”, đòi “miền bắc đình chỉ thâm nhập người và dụng cụ chiến tranh vào miền nam, rút quân khỏi miền nam” và “đàm phán không điều kiện với Mỹ”.

Về phía ta, ngay từ đầu, Ðảng ta đã nhận định rằng, Mỹ buộc phải “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược. Mặc dù Mỹ đưa vào miền nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền bắc, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch.

Trên thực tế, Mỹ càng leo thang chiến tranh thì càng vấp phải những đòn giáng trả mãnh liệt của ta, cuối cùng, càng thấy đất trời mù mịt. Về mặt ngoại giao, ta nêu cao chính nghĩa của cuộc chiến đấu, bóc trần bộ mặt xâm lược và tính chất nguy hiểm của các hành động leo thang chiến tranh cùng thủ đoạn đàm phán hòa bình giả hiệu của địch.

Ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền bắc. Ðiều kiện tiên quyết của ta cho đàm phán là: chỉ khi nào Mỹ chịu chấm dứt ném bom, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới nói chuyện với Mỹ.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền trung trong Tết Mậu Thân năm 1968 cùng với thắng lợi của miền bắc đánh bại chiến tranh phá hoại đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ.

Ðêm ngày 31-3-1968, phát biểu ý kiến trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Johnson thừa nhận thảm bại trong Tết Mậu Thân và thông báo, đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền bắc Việt Nam, trừ khu vực phía bắc khu phi quân sự. Ông còn cam kết “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa.

Trong tình thế đã thay đổi có lợi cho ta, bằng một đòn tiến công ngoại giao mới, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ.

Cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20

Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bắt đầu tại Paris và gần sáu tháng sau đi đến thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31-10-1968, đồng thời thỏa thuận về việc triệu tập tại Paris một hội nghị để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Ngày 25-1-1969, Hội nghị Paris về Việt Nam họp phiên đầu tiên, mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”.

Hội nghị Paris về Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20, cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: Giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, giữa hòa bình với chiến tranh.

Ðó là cuộc đối thoại giữa hai thế lực đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị, chính nghĩa.

Ðó còn là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Paris đã diễn ra một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau.

Cả ta và đối phương đều đến hội nghị với những mục đích và đòi hỏi đối lập nhau. Ta đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền nam. Mỹ cũng nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Có nghĩa là Mỹ tiếp tục thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, điều Mỹ không làm được trên chiến trường.

Chính vì những đòi hỏi khác nhau đó mà đàm phán vừa mở ra mấy tháng đã dẫm chân tại chỗ. Ðể khai thông, ngày 8-5-1969, đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam đưa ra giải pháp toàn bộ 10 điểm về việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Ðáp lại, ngày 14-5-1969, Tổng thống Mỹ R.Nixon, qua diễn văn đọc trên truyền hình Mỹ, đã đưa ra tám điểm của giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Giải pháp của hai bên vẫn đối chọi nhau như nước với lửa.

Ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam được thành lập. Ngày 8-6, Tổng thống Nixonn công bố chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, chủ trương tìm một con đường khác chứ không phải thông qua đàm phán để rút được quân Mỹ ra khỏi chiến tranh mà vẫn giữ được chính quyền và quân đội Sài Gòn. Thực chất của “Việt Nam hóa chiến tranh” là dùng người Việt đánh người Việt” “thay đổi mầu da của xác chết”. Ðể thực hiện, Mỹ triển khai một kế hoạch toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế, trong đó quan trọng nhất là chuyển giao vũ khí hiện đại cho quân đội Sài Gòn, củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ngăn chặn mọi âm mưu đảo chính.

Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào nhằm ngăn chặn tiếp tế của miền bắc vào miền nam, cô lập lực lượng cách mạng miền nam từ bên ngoài. Về ngoại giao, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới trong khuôn khổ “học thuyết Nixon”, tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô – Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo điều kiện có lợi cho Mỹ.

Thực tiễn cho thấy, những gì Mỹ không làm được thời kỳ “Mỹ hóa” cao độ cuộc chiến tranh thì không làm được trong thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh”. Những năm 1969 – 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa hai bên trên chiến trường cũng như tại bàn đàm phán. Ðàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận được thất bại của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhất là sau thắng lợi của ta ở Ðường 9 – Nam Lào và trong Chiến dịch Ðông- Xuân 1971-1972, giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn.

Từ cuối năm 1971 đến những tháng cuối năm 1972, cả ta và Mỹ đều đưa ra những đề nghị mới, thông qua đàm phán công khai và đàm phán riêng, cuối cùng đi đến thỏa thuận về một văn bản hiệp định.

Hội nghị Paris về Việt Nam, nếu kể từ cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ (tháng 5-1968) cho đến khi ký được hiệp định đã kéo dài trong 4 năm chín tháng, qua 202 phiên họp công khai và 24 phiên họp riêng.

Mặc dù ngoan cố đến phút cuối cùng, ngày 27-1-1973, Mỹ đã buộc phải ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Hiệp định Paris được sự công nhận và bảo đảm của một hội nghị quốc tế về Việt Nam, thông qua Ðịnh ước quốc tế, ký ngày 2-3-1973 cũng tại Paris.

Hiệp định Paris với Ðại thắng mùa xuân năm 1975

Nội dung cơ bản của Hiệp định Paris và các nghị định thư kèm theo là:

– Mỹ và các nước khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

– Chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Mỹ chống lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Rút hết quân Mỹ và đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền nam Việt Nam. Không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền nam Việt Nam, để nhân dân miền nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình.

– Hai bên trao trả hết tù binh và những người bị bắt trong chiến tranh.

– Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một bên của “hai bên miền Nam Việt Nam”; công nhận trên thực tế miền nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội và hai vùng kiểm soát.

– Mỹ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam.

Hiệp định Paris đáp ứng những yêu cầu cơ bản, có tính nguyên tắc mà Việt Nam đã nêu lên trong đàm phán.

Việc ký kết hiệp định là thắng lợi tổng hợp của cuộc chiến tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao; là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại.

Với việc ký hiệp định, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, tạo ra so sánh lực lượng mới, thuận lợi cho việc thực hiện tiếp mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành giải phóng miền nam. Ðiều chủ yếu nhất trong các điều khoản về quân sự là Mỹ phải rút quân nhưng Việt Nam vẫn giữ nguyên lực lượng chính trị và vũ trang ở miền nam Việt Nam.

Sau gần 20 năm xâm lược và sa lầy ở Việt Nam, ngày 29-3-1973, quân đội viễn chinh Mỹ đã phải lặng lẽ cuốn cờ về nước, không trống, không kèn. Ðây là lần đầu tiên từ hơn một trăm năm, sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài đã chấm dứt trên đất nước ta.

Nếu như việc ký kết Hiệp định Paris là thắng lợi lớn của nhân dân ta thì đó lại là thất bại lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chính vì vậy, ta kiên quyết đấu tranh để hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh, trước hết là Mỹ phải thực hiện các điều khoản về ngừng bắn, rút hết quân và chấm dứt dính líu. Ta cũng đấu tranh để chính quyền Sài Gòn ngồi lại bàn đàm phán với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tại La Xen-lanh-clu để giải quyết các vấn đề chính trị ở miền nam.

Còn Mỹ và chính quyền Sài Gòn tuy buộc phải ký kết hiệp định nhưng vẫn tìm mọi cách phá hoại việc thi hành. Mỹ rút hết quân nhưng vẫn tiếp tay cho chính quyền Sài Gòn tiếp tục các hành động chiến tranh, mưu toan xóa bỏ thực tế ở miền nam Việt Nam đã được hiệp định thừa nhận, đẩy lùi các lực lượng cách mạng, giành giật lại những gì chúng đã mất. Chính vì vậy, cuộc đấu tranh của nhân dân ta để thi hành Hiệp định Paris, thực chất là cuộc đấu tranh để tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền nam, đã tiếp diễn quyết liệt và kéo dài hơn hai năm nữa mới kết thúc được.

Tháng 6-1973, năm tháng sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tại Hội nghị lần thứ 21 BCH T.Ư Ðảng, Ðảng ta đã nhận định tình hình miền nam có thể phát triển theo hai khả năng: một là, ta từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam. Hai là, xung đột quân sự ngày càng tăng cường và mở rộng, ta phải tiếp tục chiến tranh cách mạng, một thời gian nữa để đánh bại Mỹ – ngụy, giành thắng lợi hoàn toàn.

Hội nghị chỉ rõ: Dù tình hình phát triển theo khả năng nào cũng đều phụ thuộc vào thực lực và sự đối phó của ta và điều quyết định trước hết là cách mạng miền nam chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực, dựa vào sức mạnh chính trị và sức mạnh vũ trang của nhân dân, tận dụng và phát huy những nhân tố mới, thuận lợi mới do Hiệp định Paris đưa lại.

Thực tế tình hình miền nam đã diễn ra theo khả năng thứ hai.

Cuối năm 1973 đầu năm 1974, phối hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao, ta kiên quyết phản công và tiến công, đập tan những âm mưu và hành động lấn chiếm của địch, tạo được thế mạnh mới trên nhiều mặt; giành quyền chủ động trên khắp các chiến trường, củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ bắc vào nam, xây dựng và tăng cường các binh đoàn chủ lực cơ động ở rừng núi; cải thiện tình hình nông thôn ở đồng bằng. Ta cũng phát động được phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi trong các thành thị dưới khẩu hiệu “hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc”, đồng thời tiếp tục tranh thủ thêm được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Tháng 10-1974, Bộ Chính trị T.Ư Ðảng ta họp bàn nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước trong hai năm 1975-1976. Kết thúc đợt một của hội nghị, Bộ Chính trị nhận định: “Ðây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta giải phóng miền nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ…”. Bộ Chính trị quyết định: “Ngay từ giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975-1976”.

Tình hình phát triển hết sức nhanh chóng. Ba tháng sau, ngày 7-1-1975, kết thúc đợt hai của hội nghị, Bộ Chính trị nêu quyết tâm : Tranh thủ thời cơ lớn, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975.

Ðiều thần kỳ đã xảy ra sớm hơn dự định. Ngày 30-4-1975, với một cuộc tiến công và nổi dậy chưa từng có, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã đánh đổ toàn bộ quân đội và chính quyền Sài Gòn và chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã toàn thắng!

HÀ ĐĂNG

nhandan.com.vn