Linh hoạt sử dụng phương pháp bắn pháo binh

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Đại đội 26, Tiểu đoàn 2 (Đoàn Pháo binh 75 Nam Bộ) nhận nhiệm vụ dùng hỏa lực bắn kiềm chế sân bay Biên Hòa nhằm hạn chế khả năng hoạt động, tiến tới làm tê liệt hoàn toàn sân bay địch, góp phần bảo đảm cho các đơn vị chủ lực của ta cơ động triển khai trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong điều kiện khó khăn, thời gian gấp, Đại đội 26 đã tập trung lực lượng, thực hiện tốt công tác chuẩn bị để bước vào chiến đấu thắng lợi.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm sân bay Biên Hòa. Ảnh tư liệu.

Tuy mọi mặt công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, nhưng đại đội chưa thể khai hỏa vì thông tin liên lạc giữa đài quan sát và trận địa vẫn chưa thông suốt. Mặc dù chưa bắt được liên lạc với đại đội trưởng ở đài quan sát luồn sâu, song chấp hành lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, ngày 14-4-1975, chỉ huy Đại đội 26 quyết định thay đổi phương pháp bắn từ có quan sát và sửa bắn (qua bắn thử) sang bắn không quan sát thấy (bắn hiệu lực ngay), chỉ bắn một thước tầm và hướng bắn hỏa lực tập trung. Mục tiêu bắn đầu tiên, với số đạn bắn 24 viên trên 3 khẩu, theo phương pháp gấp bắn, ngay loạt đạn đầu đã trúng mục tiêu. Sân bay Biên Hòa bị tê liệt, sau 10 phút, trực thăng vũ trang của địch trong sân bay mới cất cánh cùng với máy bay trinh sát, phản lực chiến đấu từ sân bay khác đến quần lượn, ném bom, bắn rốc két xuống khu vực xung quanh trận địa pháo của ta. Pháo binh của địch ở gần sân bay cũng bắn dồn dập nhiều giờ vào những nơi nghi ngờ ta đặt trận địa pháo. Nhờ ngụy trang kín đáo bằng các trận địa giả, khéo nghi binh, sử dụng phương pháp bắn linh hoạt, Đại đội 26 vẫn giữ được bí mật, an toàn.

Sau một ngày tạm ngừng bắn, ngày 16-4, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào 3 mục tiêu khác trong sân bay kéo dài suốt ngày, với 52 viên đạn làm cho sân bay của địch bị tê liệt trong nhiều giờ. Bị đánh phá mạnh, địch phản ứng quyết liệt. Chúng cho máy bay nhiều lần ném bom vào trận địa pháo của ta và các khu vực xung quanh. Để bảo vệ trận địa pháo, Bộ chỉ huy chiến dịch điều thêm các khẩu đội pháo phòng không và đại đội bộ binh tăng cường bảo vệ, điều một đại đội ĐKZ của Đoàn Pháo binh 75 về tham gia chế áp pháo binh địch, hỗ trợ cho Đại đội 26 hoàn thành nhiệm vụ “khóa chặt sân bay Biên Hòa”. Các ngày tiếp theo, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào các mục tiêu khác trong sân bay, làm cho sân bay Biên Hòa hoàn toàn bị tê liệt, gây thiệt hại nặng nề cho địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Xuân Vũ

qdnd.vn

Hiệp đồng chặt chẽ, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Sau hiệp định Pa-ri được ký kết ngày 27-1-1973, so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi căn bản, có lợi cho ta bất lợi cho địch. Nắm thời cơ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong 2 năm 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, nhanh chóng làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho ta, tích cực làm mọi công tác chuẩn bị, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt toàn bộ quân địch, từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Nếu thời cơ đến sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, đầu năm 1975, ta mở ba chiến dịch lớn là Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1975 đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự: Tạo ưu thế lực lượng, bảo đảm đánh địch trên thế mạnh; vận dụng sáng tạo cách đánh chiến dịch; phát huy sức mạnh các binh chủng, quân chủng trong tác chiến quy mô lớn và đặc biệt là kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhân dân. Sự kết hợp các đòn tiến công như vũ bão của các binh đoàn chủ lực với nổi dậy của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, kết hợp tiêu diệt địch với giành quyền làm chủ, tạo sức mạnh áp đảo, trong đó đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực đi trước có tác dụng trực tiếp tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, quyết định thắng lợi trên chiến trường, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy. Ngược lại, sự nổi dậy của quần chúng có tác dụng căng kéo, phân tán địch, giành dân, giành đất, mở ra thế trận tiến công mới, làm cho LLVT ta tăng thêm sức mạnh, có điều kiện và thời cơ tiến lên đánh to, thắng lớn. Đó là sự vận dụng, phát triển sáng tạo việc kết hợp hai hình thức đấu tranh: Đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; hai phương thức tiến hành chiến tranh: Chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích.

Xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975.

Trong chiến dịch Tây Nguyên, phối hợp với đòn tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực, nhân dân và LLVT địa phương tiến hành các hoạt động tác chiến nghi binh, triển khai làm đường cơ động, phát động quần chúng nổi dậy diệt bắt ác ôn, truy lùng bọn tề điệp, giành chính quyền ở từng khu phố. Quần chúng nhân dân nổi dậy phá “ấp chiến lược”; vận động, làm tan rã địch, cùng Ủy ban Quân quản ổn định tình hình địa phương sau khi được giải phóng.

Chiến dịch Huế – Đà Nẵng thể hiện sự phát triển cao nghệ thuật kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, tiêu diệt và làm tan rã tập đoàn lớn quân địch, vừa giải phóng khu vực, vừa giải phóng thành phố, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Trên hướng Trị Thiên-Huế, đòn tiến công của Quân đoàn 2, trực tiếp là Sư đoàn 324 đã phá một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực Đường 14 phối hợp với nhân dân địa phương nổi dậy giành chính quyền, giải tán toàn bộ chính quyền ngụy Sài Gòn. Trên hướng Đường 12, Trung đoàn 6 và Trung đoàn 271 (Quân khu Trị Thiên) tiến qua sông Hương vào Huế; Trung đoàn 3 (Sư đoàn 324) từ phía nam phối hợp cùng với xe tăng phát triển tiến công vào nội đô, nhân dân ở quận 1, 2 nội thành Huế và quận Phú Vang nổi dậy đánh chiếm, treo cờ ở quận lỵ, tổ chức đón bộ đội, tự vệ nội thành chiếm giữ một số mục tiêu trong thành phố, du kích và nhân dân địa phương dẫn đường, truy lùng địch, giúp bộ đội qua sông, diệt tề điệp, ác ôn. Trên hướng Đà Nẵng, khi các đơn vị chủ lực Quân đoàn 2 phối hợp với LLVT Quân khu 5, nhanh chóng thọc sâu bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, tiến thẳng vào thành phố, đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, thì LLVT địa phương và quần chúng cách mạng nổi dậy giải phóng Hội An và một số nơi khác. Trong thành phố, lực lượng du kích, tự vệ phối hợp tiến công khu nhà lao, bảo vệ các cơ sở sản xuất, kinh tế, văn hóa, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo đảm cho thành phố ổn định sinh hoạt bình thường ngay sau khi giải phóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh có quy mô lực lượng lớn, cường độ tiến công, trình độ tác chiến hiệp đồng cao, đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các binh đoàn chủ lực với nhân dân và LLVT địa phương, giữa các cánh quân và các binh chủng hợp thành. Trong chiến dịch này kết hợp với các đòn tiến công áp đảo của các binh đoàn chủ lực, nhân dân thành phố dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng, hỗ trợ của các đơn vị đặc công, biệt động, bộ đội địa phương thành phố, nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền ở nhiều khu vực nội, ngoại thành, các huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức. Ở nội thành, quần chúng kết hợp với LLVT tại chỗ nổi dậy chiếm trụ sở một số khóm, phường của hầu hết các quận và 6 tòa hành chính quận, đến chiều 30-4-1975 cơ bản ta đã giành quyền làm chủ, kiểm soát tất cả các quận, huyện, phường, xã. Đòn nổi dậy của quần chúng trong chiến dịch Hồ Chí Minh với quy mô rộng lớn, hình thức phong phú đa dạng, kết hợp với tiến công quân sự, nòng cốt là các binh đoàn chủ lực, đã phản ánh quy luật của khởi nghĩa và đạt tới trình độ nghệ thuật phát triển cao của chiến tranh cách mạng.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1975 kết thúc thắng lợi, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của tất cả các thành phần, lực lượng của cả nước, trong đó sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, phát triển trở thành nét đặc sắc trong nghệ thuật toàn dân đánh giặc, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bài học kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào xây dựng nền nghệ thuật quân sự hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá Đào Văn Đệ

qdnd.vn

Tận dụng thế, bảo đảm tốt hậu cần cho cơ động nhanh, giành thắng lợi lớn

QĐND Online – Sáng 30-4-1975, Tổng thống ngụy Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh Sài Gòn, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi. Để giành được thắng lợi to lớn đó, chúng ta đã huy động một lượng lớn lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật vượt trội so với kẻ thù, hạn chế các bất lợi trong điều kiện tác chiến ở chiến trường có “không gian rộng”, “thời gian ngắn”… Đóng góp vào chiến thắng lịch sử vẻ vang đó có một phần rất lớn của công tác bảo đảm hậu cần.

Thế mới trong công tác bảo đảm hậu cần

Sau chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung, ngày 25-3-1975 Bộ Chính trị chủ trương, “Tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), binh khí, kỹ thuật và vật chất giải quyết xong Sài Gòn – Gia Định trước mùa mưa”. Tiếp đó vào ngày 30-3 và 14-4, Bộ Chính trị đã chính thức hạ quyết tâm mở chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn kết thúc chiến tranh.

Trong chiến dịch này ta chủ trương sử dụng lực lượng tiến công giải phóng Sài Gòn trên 5 hướng: Tây Bắc (hướng tiến công chủ yếu), hướng Bắc; hướng Đông Nam, hướng Đông, hướng Tây và Tây Nam. Lực lượng chủ lực gồm các Quân đoàn 1, 2, 3, 4; Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 8 và các đơn vị của các binh chủng, bộ đội địa phương của các tỉnh Bình Dương, Bình Phước cùng nhiều lực lượng khác được tăng cường phối thuộc hiệp đồng tác chiến. Do vậy nhu cầu bảo đảm vật chất hậu cần, kỹ thuật phục vụ chiến dịch  rất lớn, vừa phải bảo đảm cho quân ta chiến đấu tại chỗ, giữ vững các vùng giải phóng, vừa bảo đảm hành quân cơ động tác chiến trên khắp các chiến trường.

Trước tình hình đó, công tác hậu cần đã chủ động tận dụng “thế” chiến thắng của quân và dân ta; huy động tối đa nguồn nhân lực, vật lực hậu phương lớn miền Bắc, tập trung khai thác triệt để nguồn cung cấp hậu cần tại chỗ; hậu cần chiến lược và chiến dịch kết hợp chặt chẽ, thọc sâu, vươn xa, bảo đảm nhanh, đầy đủ và kịp thời để các lực lượng chủ lực tiến quân thần tốc, đập tan sào huyệt cuối cùng của chính quyền ngụy Sài Gòn.

Đoàn xe vận tải vượt Trường Sơn bảo đảm cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

“Mạng nhện” chiến lược

Để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh, trước đó ta đã làm thêm hàng nghìn ki-lô-mét đường chiến lược, chiến dịch; kéo dài đường ống dẫn dầu vào miền Đông Nam Bộ. Mạng đường cơ động chiến lược, chiến dịch chằng chịt, đan xen được ví như mạng nhện bao vây, chia cắt quân ngụy và sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn.

Tuyến vận tải quân sự đông Trường Sơn được nhanh chóng xây dựng từ đường số 9 qua các khu vực hậu phương của Trị Thiên, Khu 5, Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ. Với nỗ lực phi thường, trong hai năm (1973 và 1974) chúng ta đã xây dựng thêm 3.480 km đường ô tô (lớn hơn tổng chiều dài đường giao thông xây dựng trong 13 năm trước đó), đưa chiều dài mạng đường vận tải chiến lược lên 16.790km, với sáu trục dọc ở cả đông và tây Trường Sơn. Để đưa bộ đội cơ động áp sát mục tiêu chiến dịch, ta đã chủ động mở thêm mạng đường chiến dịch (ước khoảng 4.000km) nối liền với đường chiến lược. Như vậy, tính đến thời điểm trước khi diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã có mạng đương cơ động chiến lược và chiến dịch trên 20.000km nối liền hậu phương với chiến trường.

Mạng đường vận tải chiến lược ngày càng hoàn chỉnh, các lực lượng vận tải đã chuyển sang hình thức vận chuyển lớn theo đội hình trung đoàn tập trung trên cung độ dài để nâng cao hiệu suất. Trước khi bắt đầu chiến dịch ta đã có khoảng 6.770 ô tô làm nhiệm vụ vận chuyển chiến lược vào chiến trường. Chỉ đơn cử, ngày 25-3-1975, Quân đoàn 1 nhận lệnh hành quân gấp từ Tam Điệp (Ninh Bình) và có mặt tại Dầu Tiếng (Tây Ninh) ngày 20-4. Ngày 5-4, Quân đoàn 2 nhận lệnh cơ động ở Đà Nẵng, vừa hành quân vừa chiến đấu đập tan tuyến phò

Đoàn 125 Hải quân chở bộ đội tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Ảnh tư liệu.

Để bảo đảm nhiên liệu cho các phương tiện tham gia chiến dịch, ta đã hoàn chỉnh một hệ thống đường ống dài 4.490km từ hậu phương miền Bắc đến các chiến trường miền Nam theo hai trục đông và tây Trường Sơn, gồm 250 trạm bơm đẩy và hút, 46 kho dự trữ với 270.000 m3 nhiên liệu. Theo thống kê, từ năm 1973 đến giữa năm 1975, bộ đội hậu cần đã vận chuyển vào các chiến trường hơn 303.000 tấn nhiên liệu (gấp 2-3 lần kết quả vận chuyển từ năm 1965 đến năm 1972), riêng mấy tháng đầu năm 1975 đã vận chuyển được 100.000 tấn xăng dầu vào chiến trường, đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển cơ động binh khí, kỹ thuật trên các hướng.

Tính đến khi bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần chiến dịch đã tập trung lực lượng đưa vào miền Nam 115.000 quân và 90.000 tấn hàng, trong đó có 37 tấn vũ khí, 9.000 tấn xăng dầu. Riêng từ ngày 15 đến 26-4-1975, đã khai thác, vận chuyển được 24.000 tấn vũ khí, 25.000 tấn lương thực, thực phẩm, 1.000 tấn thuốc, tổ chức 5 trạm trung tu, 10 trạm sửa chữa pháo và xe tăng, phục vụ cơ động cho chiến dịch.

Tăng cường hậu cần tại chỗ

Song song với bảo đảm hậu cần chiến lược, ta chủ trương điều chỉnh bố trí các căn cứ hậu cần trong các vùng giải phóng trên các hướng chiến dịch. Quân khu Trị Thiên đã triển khai các căn cứ hậu cần trên hướng tiến công vào Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Quân khu 5 đã đã xây dựng căn cứ hậu cần phía sau của chiến trường, đồng thời triển khai các căn cứ hậu cần phía trước trên các hướng tiến công vào Quảng Nam – Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định và phát triển xuống Phú Yên và hướng lên Tây Nguyên.

Các quân khu thuộc B2 cùng các căn cứ hậu cần: Quân khu 6 trên hướng tiến công vào Phan Thiết, Hàm Tân. Quân Khu 7 trên hướng tiến quân vào ven đô và Sài Gòn, Mỹ Tho và lộ 4. Quân khu 9 trên hướng tiến quân vào đô thị, trọng điểm là Cần Thơ. Riêng ở chiến trường miền Đông Nam Bộ đã triển khai 8 căn cứ hậu cần liên hoàn (5 ở phía trước và 3 ở phía sau), hình thành thế trận hậu cần quanh Sài Gòn. Tính đến trước thời điểm diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần đã dự trữ được khoảng 250.000 tấn hàng các loại, thành lập 15 bệnh viện dã chiến, 17 đội điều trị với trên 10.000 giường bệnh để phục vụ bộ đội chiến đấu. Hậu cần miền Nam đã huy động lực lượng vận chuyển hàng hóa, vũ khí vào các kho, trạm của chiến dịch và tập trung sửa chữa, mở đường, bắc cầu, ưu tiên cho những tuyến đường trọng yếu cho các binh đoàn chủ lực tiến công cơ động, nhanh chóng, kịp thời, tạo một thế trận hậu cần liên hoàn, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch.

Ngày 22-4-1975, sau khi duyệt lại mọi mặt chuẩn bị, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định, thời cơ tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi và kết luận: “Ta đã hoàn thành việc tập trung lực lượng, tập trung khí tài kỹ thuật và các cơ sở vật chất khác đạt ưu thế áp đảo quân địch. Đã triển khai xong thế trận bao vây, chia cắt chiến dịch, cô lập Sài Gòn đến cao độ. Chiến dịch lịch sử này đã có những cơ sở đảm bảo chắc thắng”.

Như vậy, tính đến trước thời điểm diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã giải quyết tốt vấn đề chiến trường có “không gian rộng”, “thời gian ngắn”, “lượng vật chất lớn”. Có được kết quả ấy là do ta có “thế” mới trên nền “thế” cũ đã được chuẩn bị từ nhiều năm trước, kịp thời phát huy “lực” sẵn có, kết hợp chặt chẽ giữa tuyến hậu cần chiến dịch và hậu cần chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho quân chủ lực của ta bao vây, truy kích thần tốc, tiến tới giành thắng lợi nhanh chóng và trọn vẹn trong trận đánh cuối cùng, lập nên chiến công vĩ đại.

Mạnh Thắng

qdnd.vn

Giải phóng thị xã Bà Rịa và tỉnh Phước Tuy

Đến trưa 27-4-1975, lực lượng Quân đoàn 2 cùng bộ đội địa phương đã giải phóng thị xã Bà Rịa và toàn tỉnh Phước Tuy. Trong khi đó, hướng tấn công vào Nước Trong tiếp tục căng thẳng. Địch chống cự quyết liệt với sự trợ giúp của máy bay.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Trên đường số 1, vào lúc 10 giờ ngày 27-4 ta đã đập tan khu vực phòng ngự của địch, làm chủ chi khu Trảng Bom do Sư đoàn 18 bộ binh và Trung đoàn 5 thiết giáp ngụy chiếm giữ. Tàn binh địch chạy về đến Suối Đỉa bị Trung đoàn 270 tiêu diệt và bắt 2.000 tên. Sư đoàn 18 ngụy bị đánh thiệt hại nặng.

Tại vùng ven Sài Gòn, bộ đội đặc công- biệt động nhanh chóng đánh chiếm các cầu qua sông, chuẩn bị cho các binh đoàn tiến vào thành phố. Đây là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi không phải đánh chiếm mà còn phải bám trụ đánh địch phản kích, giữ bằng được các cầu trên hướng tiến quân.

Ngày 27-4 Trung đoàn 113 đặc công đánh chiếm cầu Rạch Chiếc, cầu Rạch Cát. Trung đoàn 115 đặc công cùng với một tiểu đoàn của Trung đoàn Gia Định chiếm cầu Bình Phước, làm chủ xa lộ Đại Hàn đoạn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre. Trung đoàn 116 chiếm cầu xa lộ Biên Hòa. Các trận chiến đấu, chiếm và giữ các cầu vào thành phố diễn ra hết sức quyết liệt. Địch liên tục phản kích hòng tái chiếm cầu.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Bắt đầu tổng công kích vào Sài Gòn

Đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, trận tổng công kích vào Sài Gòn bắt đầu. Trên hướng Đông- Đông Nam, gần 20 tiểu đoàn pháo binh của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 đồng loạt nổ súng, dội bão lửa vào khu vực Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành, Đức Thạnh, Bà Rịa.

Sư đoàn 325 tiến công chi khu Long Thành, nhanh chóng tiêu diệt 3 tiểu đoàn địch, bắt sống 500 tên. Sau đó, sư đoàn 325 vượt đường 15, giải phóng Phước Tường, bao vây Long Tân.

Sư đoàn 3 Quân khu 5 dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 nhanh chóng đánh chiếm quận lỵ Đức Thạnh và thị xã Bà Rịa. Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương Phước Tuy tiến công giải phóng các huyện Xuyên Mộc, Đất Đỏ.

Sư đoàn 304 tấn công căn cứ Nước Trong, trường thiết giáp, trường bộ binh của ngụy. Địch nơi đây gồm học viên 2 trường cùng lữ đoàn 468 lính thủy đánh bộ, trung đoàn 318 thiết giáp kháng cự quyết liệt. Hàng trăm lượt máy bay địch ném bom vào đội hình ta. Sư đoàn 341- Sông Lam tấn công khu vực phòng thủ của địch tại chi khu Trảng Bom.

Trên hướng Nam và Tây Nam, Sư đoàn 5 Đoàn 232 đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 22 ngụy, nhanh chóng làm chủ đường số 4 đoạn từ Bến Lức đi Tân An. Sư đoàn 8 Quân khu 8 và lực lượng công binh quân khu cùng bộ đội địa phương, du kích đánh chiếm ngã ba Trung Lương đi Tân Hiệp, Long Định và làm chủ đường số 4 đoạn Cai Lậy đi An Hữu.

Đường số 4, con đường huyết mạch nối Sài Gòn và ĐBSCL hoàn toàn bị cắt đứt. Cùng thời gian này, Sư đoàn 3 đánh chiếm đầu cầu ở An Ninh, Lộc Giang trên sông Vàm Cỏ, bảo đảm cho Sư đoàn 9 và lực lượng binh khí kỹ thuật vượt sông Vàm Cỏ Đông sang chiếm khu vực Tây Vĩnh Lộc và Mỹ Hạnh. Trung đoàn 24 và Trung đoàn 28 đánh địch, mở rộng hành lang, phát triển lên phía Bắc.

Ở hướng Bắc, Sư đoàn 312 Quân đoàn 1 và bộ đội địa phương Bình Dương phá hủy một số trận địa pháo của địch, làm chủ một đoạn đường 16, bao vây căn cứ Phú Lợi, làm chủ khu vực phía Bắc thị xã Thủ Dầu Một không cho Sư đoàn 5 ngụy co cụm về Sài Gòn.

Ở hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 tập trung hỏa lực pháo binh tiêu diệt 11 trong số 18 trận địa pháo của địch. Sư đoàn 316 chốt chặn dọc đường số 1 và đường 22, kiềm chế sư đoàn bộ binh 25 ngụy, không cho chúng rút từ Tây Ninh về Đồng Dù và Hóc Môn.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Chuẩn bị cho giờ G

Đêm 25-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu lên máy bay bỏ chạy sang Đài Loan. Ngụy quân và ngụy quyền càng nháo nhào tìm đường tháo chạy. Dù vậy, địch vẫn mơ màng tìm giải pháp chính trị đối với ta hầu tìm ngừng bắn. Đại sứ Mỹ Martin và những nhân vật ngoại giao phương Tây khác hoạt động tấp nập ở hậu trường sân khấu chính trị Sài Gòn. Nhiều sức ép – kể cả của Mỹ – đòi Trần Văn Hương từ chức tổng thống để đưa Dương Văn Minh lên nắm quyền.

Xe tăng quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập.

Chiều 25-4, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng một số máy bay A 37 mới chiếm của địch để đánh phá sân bay Tân Sơn Nhất, làm rối loạn tinh thần chiến đấu của địch. Ngày tấn công đã được xác định là 28-4-1975.

Đến thời điểm này các cánh quân tiến về Sài Gòn và lực lượng tại chỗ nội thành Sài Gòn đã chuẩn bị cho giờ G nổ súng: 26-4-1975.

Chỉ thị về công tác chính trị của Bộ Tư lệnh chiến dịch được đưa đến toàn thể cán bộ chiến sĩ. Nội dung cơ bản của chỉ thị là quán triệt quyết tâm của Trung ương Đảng, ý nghĩa lịch sử chiến dịch, phương châm chỉ đạo và cách đánh, xây dựng tinh thần đoàn kết hiệp đồng giữa các đơn vị, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ chiến dịch, lập thành tích chào mừng ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phương án thực hiện chiến dịch như sau: các đơn vị thực hiện bao vây, chia cắt chặn giữ quân địch tại chỗ không cho địch tiến về Sài Gòn, thoát về ĐBSCL hoặc ra biển; tiêu diệt và làm tan rã các đơn vị chủ lực địch ở vùng ngoài, chiếm các vị trí để đưa các đơn vị đột kích vào nội đô.

Không đánh theo kiểu bóc vỏ từ ngoài vào mà bỏ qua các cụm cứ điểm mạnh của địch ở Tây Ninh, Lai Khê, Phước Vĩnh… đánh thẳng vào các căn cứ tuyến hai nơi địch phòng thủ yếu hơn; chỉ đánh vào cụm cứ điểm khi thật cần thiết. Bộ đội địa phương, đặc công biệt động… nhanh chóng chiếm các đầu cầu, vị trí trọng yếu tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực đánh vào các cứ điểm của nội thành…

Bên cạnh đòn quân sự, Bộ chỉ huy chiến dịch còn xây dựng một kế hoạch nổi dậy của quần chúng làm chủ các phường, khóm, đường phố, công sở… Trước ngày nổ súng, ta công bố chính sách khoan hồng của cách mạng đối với tù binh và hàng binh, nhằm lôi kéo một bộ phận lính ngụy buông súng, giảm bớt sự đối kháng, tạo điều kiện cho những người lầm đường lạc lối về với nhân dân.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

5 cánh quân nhận nhiệm vụ đánh vào sào huyệt địch

Đến ngày 24-4-1975, các đơn vị phía Bắc di chuyển vào đã đến nơi tập kết. Trước đó từ ngày 20-4, các cánh quân lần lượt đến sở chỉ huy chiến dịch nhận nhiệm vụ mục tiêu từng hướng.

Hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 do thiếu tướng Vũ Lăng làm tư lệnh, đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính ủy. Ngoài ra còn có 2 trung đoàn Gia Định (1 và 2), các đội đặc công- biệït động của Thành đội Sài Gòn và được sự chi viện của pháo binh và phòng không chiến dịch.

Lực lượng này có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và cùng với Quân đoàn 1 chiếm bộ tổng tham mưu ngụy.

Hướng Bắc và Đông Bắc, Quân đoàn 1 do thiếu tướng Nguyễn Hòa làm tư lệnh, thiếu tướng Hoàng Minh Thi làm chính ủy, có tăng cường Trung đoàn 95 bộ binh (Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) và một trung đoàn cao xạ tự hành, có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, tiêu diệt sư đoàn 5 ngụy, tiếp đó đánh chiếm bộ tổng tham mưu và căn cứ bộ tư lệnh các binh chủng ngụy tại Gò Vấp.

Hướng Đông và hướng Đông Nam có hai quân đoàn 4 và 2. Quân đoàn 4 do thiếu tướng Hoàng Cầm làm tư lệnh, thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm chính ủy, tăng cường Lữ đoàn 52 (Quân khu 5), một tiểu đoàn pháo 130 ly, 3 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp, một tiểu đoàn cao xạ hỗn hợp. Quân đoàn 4 có nhiệm vụ tiêu diệt sở chỉ huy bộ tư lệnh Quân đoàn 3 Sư đoàn 18 ngụy tại Biên Hòa, sau đó thọc sâu vào nội thành chiếm Dinh Độc Lập.

Quân đoàn 2 do thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm tư lệnh và thiếu tướng Lê Linh làm chính ủy. Quân đoàn 2 có nhiệm vụ đánh chiếm Bà Rịa, Nước Trong, Long Bình, chặn sông Lòng Tàu, sau đó phát triển vào nội thành, cùng Quân đoàn 4 chiếm Dinh Độc Lập.

Hướng Tây và Tây Nam, Đoàn 232 do trung tướng Lê Đức Anh làm tư lệnh và thiếu tướng Lê Văn Tưởng làm chính ủy. Đoàn có 3 tiểu đoàn xe tăng, một đại đội thiết giáp, một tiểu đoàn pháo 130 ly, một trung đoàn, năm tiểu đoàn pháo cao xạ và bộ đội Quân khu 8. Lực lượng này có nhiệm vụ tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy, cắt đứt đường số 4, sau đó thọc sâu đánh biệt khu thủ đô ngụy và tổng nha cảnh sát.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

Bộ Chính trị chỉ đạo: Thời cơ mở cuộc tổng tấn công đã chín muồi

Sáng 22-4-1975, Bộ Chính trị đã họp nghe Quân ủy Trung ương báo cáo về tình hình mặt trận và kế hoạch tác chiến của ta. Bộ Chính trị đã nhận định: “Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch đã không thể hiện ý đồ cố thủ Sài Gòn, mà giữ cho được hành lang đường số 4 từ Sài Gòn về Cần Thơ.

Mỹ ngụy đã lập chính phủ mới, đưa ra với ta đề nghị ngừng bắn, đi đến giải pháp chính trị, hòng cứu vãn tình thế thất bại hoàn toàn của chúng. Tất cả tình hình nói trên đang gây rối loạn lớn trong ngụy quân, ngụy quyền. Phong trào quần chúng nhân dân có thể có bước phát triển mới.

Thời cơ để mở cuộc tổng tấn công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị”.

Trong ngày này, Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh duyệt lại lần cuối cùng kế hoạch chính thức của chiến dịch Hồ Chí Minh. Ta sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn từ năm hướng: Tây Bắc, Bắc-Đông Bắc, Đông-Đông Nam, Tây và Tây-Tây Nam.

Để thực hiện đánh nhanh, tiêu diệt địch, bảo vệ dân và các cơ sở kinh tế, văn hóa, cách đánh của ta là: thực hiện chia cắt, bao vây tiêu diệt địch phòng thủ ở vòng ngoài, không cho chúng co cụm về nội thành.

Đánh chiếm các cầu lớn mở đường cho các đơn vị đột kích cơ giới mạnh đánh thẳng vào 5 mục tiêu chủ yếu (Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và Dinh Độc Lập). Phối hợp với các quân đoàn là lực lượng đặc công, tự vệ thành phố…

Một kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy phối hợp đòn tiến công quân sự đã được chuẩn bị dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

Nguyễn Văn Thiệu từ chức tổng thống ngụy

Ngày 21-4-1975, dưới sức ép của Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu cay đắng từ chức tổng thống ngụy, Phó Tổng thống Trần Văn Hương 72 tuổi lên nhậm chức.

Theo nhận định của ta, cả Hương lẫn Thiệu đều là kẻ ngoan cố chống lại tổ quốc, chống lại nhân dân. Chính quyền của Hương chỉ là một chính quyền Thiệu không có Thiệu.

Vào thời điểm này, tướng lục quân Mỹ Weyand – người cố vấn cho quân đội ngụy tử thủ- đã phải lên tiếng: “Tình hình quân sự là tuyệt vọng”. Tình hình này làm rung động chiến lược của bọn ngụy quyền và buộc chúng phải có sự đối phó mới.

Chúng đã tính đến khả năng giữ Sài Gòn không nổi thì co cụm về Cần Thơ giữ Quân khu 4. Chúng cho rằng ở Quân khu 4 nhiều sông rạch ta không thể sử dụng được xe tăng, xe bọc thép, pháo binh hạng nặng và tiếp tế hậu cần khó khăn.

Ngày 21-4, tùy viên quân sự Mỹ ở Sài Gòn, một số cố vấn không quân Mỹ cùng Sư đoàn trưởng Sư đoàn 4 không quân ngụy về tận sân bay Bình Thủy nghiên cứu chỗ di tản cho máy bay ở Biên Hòa và Tân Sơn Nhất.

Bên cạnh đó tăng thêm thiết bị cho sân bay này nhằm vào việc yểm trợ Sài Gòn nếu sân bay Biên Hòa bị tê liệt. Chúng còn dự kiến chuyển Bộ Tư lệnh không quân về Bình Thủy khi phải chạy về cố thủ ở Cần Thơ.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

Giải phóng Xuân Lộc

Ngày 20-4-1975, lực lượng đi đầu của Quân đoàn 2 đã tiến vào khu vực Rừng Lá, cách Xuân Lộc khoảng 20km. Trong thế bị bao vây cô lập và trước nguy cơ bị tiêu diệt, đêm 20-4-1975, địch tháo chạy theo liên tỉnh lộ 2 về Bà Rịa, sau đó chạy tiếp về Biên Hòa.

Do ta không phát hiện sớm được địch rút quân và tổ chức truy kích chưa thích hợp nên chỉ tiêu diệt được một phần. Đa số Sư đoàn 18 ngụy đã chạy thoát về Biên Hòa.

Thị xã Xuân Lộc được giải phóng. “Cánh cửa thép” với sự chốt chặn của Sư đoàn 18 ngụy đã bị mở toang. Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, Sư đoàn 3 Quân khu 5 và các lực lượng vũ trang địa phương đã hình thành mũi tiến công ở phía Đông và Đông Nam Sài Gòn. Xuân Lộc được giải phóng, đồng nghĩa với việc phòng thủ từ xa của ngụy tại Phan Rang và Xuân Lộc bị phá sản. Địch hoang mang tột độ, tinh thần chiến đấu suy sụp.

Ở phía Tây Bắc Sài Gòn, Sư đoàn 25 của địch vẫn bám chặt địa bàn Tây Ninh. Cảnh sát và các cơ quan hành chánh ngụy đều bỏ chạy về Sài Gòn. Ta không đánh Tây Ninh nhưng phải kìm giữ không cho Sư đoàn 25 ngụy lùi về Sài Gòn.

Sư đoàn 316 Quân đoàn 3 vượt sông Sài Gòn cắt một đoạn đường từ Trà Võ, Bàu Nâu đi Gò Dầu Hạ, không cho địch lên xuống. Sân bay Biên Hòa bị ta nã pháo liên tục, địch phải đưa máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online