Mỗi xe thành một mũi tiến công

QĐND – Ngay sau thắng lợi trận mở màn Buôn Ma Thuột, Đại đội Xe tăng 5, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn Xe tăng 273) được giao nhiệm vụ phối thuộc với Trung đoàn Bộ binh 28 (Sư đoàn 10), bước vào chiến đấu tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 581 và trên Đường 21, đánh bại âm mưu phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột của địch ngày 15-3-1975.

Xe tăng thuộc Trung đoàn 273 đánh địch phản kích trong trận mở màn Buôn Ma Thuột. Ảnh tư liệu.

Đại đội Xe tăng 5 được biên chế 5 xe, tham gia chiến đấu trên hai hướng, quá trình chiến đấu mỗi hướng hình thành từ một đến hai mũi tiến công, mỗi mũi tiến công có một xe tăng. Trên hướng chủ yếu, đại đội sử dụng một trung đội (3 xe) cùng bộ binh tiến công điểm cao 581 từ phía tây bắc. Hướng thứ yếu sử dụng một trung đội (2 xe) tiến công địch trên Đường 21 từ khu vực ki-lô-mét số 9 đến cầu Ya Ích. Sau khi phát hiện từ ngày 11 đến ngày 14-3, địch liên tiếp dùng máy bay đổ quân xuống điểm cao 581 và các khu vực xung quanh. Đến 6 giờ 30 phút ngày 15-3, địch tiếp tục đưa thêm lực lượng đến tăng viện. Trước thủ đoạn của địch, đúng 7 giờ 30 phút, Đại đội Xe tăng 5 được lệnh xuất kích theo Đường 21, đến tuyến triển khai cách mục tiêu khoảng 500m thì dùng pháo bắn vào đội hình địch, sau đó xung phong lên đánh các mục tiêu theo nhiệm vụ.

Trên hướng chủ yếu, 3 xe tăng của trung đội hình thành hai mũi. Mũi thứ nhất gồm 2 xe tiến gần đến điểm cao thì bị địch bắn trả quyết liệt, buộc phải ra hiệu cho bộ binh xuống xe. Sau đó, một xe tăng tốc vượt lên dùng hỏa lực pháo, súng máy 12,7mm và trung liên chi viện cho bộ binh vòng sang hai bên xung phong lên chiếm điểm cao. Chiếc xe còn lại gặp chướng ngại vật phải dừng lại dùng hỏa lực chi viện. Mũi thứ 2 có một xe từ phía Bắc vòng về phía Đông đón đánh địch từ điểm cao chạy xuống và tiêu diệt địch ở các ấp 1, 2, 3. Trước sức tiến công của xe tăng và bộ binh, lực lượng địch còn lại vội rút khỏi điểm cao 581 chạy về phía Đông. Xe 983 dùng hỏa lực súng máy chi viện cho bộ binh truy kích địch. Đến 12 giờ, ta làm chủ hoàn toàn điểm cao 581. Trên hướng thứ yếu, hai xe tăng của trung đội tiến theo Đường 21, tiêu diệt chốt đầu tiên của địch ở ki-lô-mét 9, phát triển chiến đấu đến gần cầu Ya Ích thì bị địch dùng hỏa lực bắn mạnh vào đội hình làm một xe bị hư hỏng. Chiếc xe còn lại của trung đội tăng tốc vượt lên băng qua cầu, xông thẳng vào trận địa pháo và cùng bộ binh tiêu diệt toàn bộ quân địch, sau đó chốt giữ tại trận địa.

Trong trận đánh này, Đại đội Xe tăng 5 đã vận dụng sáng tạo nghệ thuật tiến công trong hành tiến, đánh đúng thời cơ, tiêu diệt địch nhanh gọn, ít tổn thất. Mỗi xe hình thành một mũi tiến công, chủ động hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt địch trên các hướng và phối hợp chi viện cho nhau trong quá trình chiến đấu; kết hợp đột phá chính diện với tiến công bên sườn phía sau, táo bạo thọc sâu, chia cắt, cơ động hỏa lực linh hoạt; bảo đảm tốc độ chiến đấu nhanh, tiêu diệt gọn, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Vũ Xuân
qdnd.vn

Advertisements

Nhớ những ngày chặn địch ở Tây Nguyên

QĐND Online – Những ngày đầu tháng 3-1975, sau khi Buôn Mê Thuột thất thủ, địch cay cú hô hào tái chiếm, vì vậy, tối 13-3-1975, cánh lính chúng tôi thuộc Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66, Sư đoàn 10) nhận lệnh cắt hướng Phước An (thuộc tỉnh Đắk Lắk) đánh quân địch đổ bộ.

Chặng hành quân của chúng tôi toàn đi trên nương đồi, phía trước địch thả bom toạ độ, rồi từng chập pháo bắn rộ lên. Hai bên đường là những dải đen sẫm nên không thể nhận ra làng bản hay rừng cà phê. Một đồng đội đi sau đẩy vào lưng tôi: “Bám sát lên đi! Người đi trước lạc đường là kéo theo cả một đoàn quân đấy!”. Tang tảng sáng, đơn vị chúng tôi đến một cánh rừng thưa, cây cối lúp xúp. Có lệnh dừng lại, chúng tôi ngồi xuống mà hai mắt díp lại vì buồn ngủ. Bộ đội tản ra các ụ đá nhấp nhô tranh thủ ngủ lấy sức, còn bộ phận nuôi quân gạn nước từ các vũng lầy để nấu cơm.

Hoàng Kim Hậu (đứng thứ hai từ trái sang) chụp ảnh kỷ niệm trước khi vào chiến trường miền Nam (ảnh chụp tại Phú Bình, Thái Nguyên năm 1971)

Khoảng 19 giờ tối ngày 14-3, chúng tôi leo lên đường 14 phía bắc Buôn Mê Thuột. Đang hành quân chui luồn qua nương đồi, nay đi trên mặt đường nhựa rộng rãi, phẳng lì, ai nấy đều thấy thoải mái. Phía sau chúng tôi là Buôn Mê Thuột, ánh hoả mai và tiếng bom vẫn chưa dứt, hình như tất cả chiến tranh đang dồn vào thị xã…

Ðại đội 7 của chúng tôi dẫn đầu đội hình. Chúng tôi vừa đi, vừa nghỉ, cứ dừng lại ngồi xuống là ngủ gật. Quá nửa đêm, cơn buồn ngủ như không thể cưỡng lại. Gần nửa tháng hành quân liên miên, những ai ở trong hoàn cảnh này mới thấy sự kỳ diệu của con người: vừa đi, vừa ngủ, người sau gục vào ba lô người đi trước mà ngủ. Không hiểu chúng tôi ngủ kiểu gì, trong đầu thì mê đi mà chân vẫn bước lẹp kẹp theo đội hình. Gần sáng, có người kéo áo, tôi choàng tỉnh, chợt nhận ra anh Mão – Chính trị viên đại đội. Thì ra, đội hình Tiểu đoàn đang vượt qua một bãi lầy, bên phải đường là một khu ruộng cấy, có một con suối chảy ngang qua, bùn réo ùng ục dưới chân. Leo lên một vạt nương với những bụi chuối tối sẫm, anh Mão và tôi cố vượt lên đuổi theo đơn vị. Có tiếng hỏi của người chỉ huy:

-Này, còn Đại đội 8 đã vượt đường xong chưa?

-Báo cáo, còn hai trung đội nữa đang vượt qua bãi lầy.

-Khẩn trương dồn lên đi. Cần tổ chức cho bộ đội vượt nhanh trước khi trời sáng…

Tôi nhận ra Trung đoàn phó trực tiếp đi theo cánh quân của Tiểu đoàn chúng tôi (người mà đến nay, tôi vẫn chưa kịp nhớ tên). Khi trời sáng rõ, chợt có tiếng đại liên và súng cối nổ ngoài bãi lầy, bộ đội chen nhau vượt lên. Đại đội trưởng chạy ào đến:

– Báo cáo, trung đội 12,7mm của đại đội 8 chưa sang hết. Ðịch đang bắn vào đội hình của ta. Xin ý kiến thủ trưởng!

– Sao các anh ngốc thế – Giọng Trung đoàn phó gay gắt – Hoả lực trong tay, địch bắn vào đội hình mà không kịp làm gì à? Cho bắn 20 quả cối 82mm!

Một bức ký hoạ chiến trường của Hoàng Kim Hậu.

Một lúc sau, tiếng cối của ta đáp lại thật đanh thép, súng 12,7mm quét hàng băng dài qua bãi lầy, địch tán loạn chạy vào trong bản, cối 82mm dồn theo.

Nắng bắt đầu gắt, từ mờ sáng đến trưa, chúng tôi chưa hề gặp một con suối nào. Đất đỏ ba zan ở đây tơi xốp thật, chúng tôi hành quân trong một nương chuối và đu đủ chín rục trên cây. Thỉnh thoảng qua một vạt nương khoai lang, chỉ cần đạp nhẹ một cái là dây và củ bật ra. Quá trưa, ai nấy khát cháy cổ, các bi đông nước đã dốc ngược mà vẫn không thấy một khe suối nào để kiếm nước nấu cơm. Chúng tôi phải dùng dao găm đâm vào gốc chuối để có nước uống, một thứ nước vừa chát, vừa hôi. Không có nước nấu cơm, chúng tôi đành phải lấy chuối chín và đu đủ ăn cho lại sức để tiếp tục hành quân.

Khoảng 13 giờ ngày 15-3-1975, chúng tôi được lệnh tản ra các bụi chuối thay nhau cảnh giới và ngủ lấy sức. Bỗng có tiếng B40 nổ, tiếng đạn cực nhanh loạn xạ, các trung đội nhận lệnh chuẩn bị xuất kích. Súng nổ một chập rồi im lặng, có một toán tàn binh địch gặp đội hình thu dung của ta và xảy ra cuộc đọ súng.

Chiều ấy, chúng tôi tiếp tục hành quân, tối mịt mùng vẫn không ra khỏi khu vườn đu đủ. Vừa đói, vừa mệt, các đại đội chia nhỏ ra từng tổ, thay nhau gác và ngủ qua đêm. Mãi 9 giờ sáng hôm sau, chúng tôi mới ra khỏi vườn cây và tìm được một khe suối bên vạt rừng le lưa thưa, cả đơn vị dừng lại nấu cơm…

Sau hơn 1 tuần hành quân trong rừng, chúng tôi ra tới một sườn đồi, phía trước là một thung lũng rộng với những dông đồi thoai thoải. Con đường 21 uốn lượn bên những sườn đồi xanh mát mắt. Tiếng súng từng chập lại rộ lên, các đơn vị bạn đang chuyển quân rầm rập, xe tăng, xe thiết giáp lấp ló trong cánh rừng thưa. Bất giác, tôi chợt thấy lòng mình rạo rực…

Hoàng Kim Hậu
qdnd.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 1)

“Đã ra quân là đánh thắng” – câu nói đã ngấm vào máu, khắc vào xương, là niềm tự hào đồng thời cũng là trách nhiệm cao cả của những người lính xe tăng đã viết lên những bản hùng ca 52 năm qua.

Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Năm 1968, lần đầu tiên xe tăng Việt Nam xuất kích, địch đã hoàn toàn bị bất ngờ, hoảng loạn chỉ còn biết tháo chạy. Chiến thắng vang dội ở Tà Mây – Làng Vây, góp phần vào chiến thắng chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, đi vào lịch sử Binh chủng Tăng – Thiết giáp như một mốc son chói lọi, mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”.

Ngày 5/8/1967, sau gần 8 năm thành lập, Bộ Tư lệnh thiết giáp được lệnh sử dụng 2 đại đội xe tăng vào Nam chiến đấu. Hai đại đội PT-76 (đại đội 3 và đại đội 9) của Trung đoàn xe tăng H03 được lựa chọn và tổ chức thành tiểu đoàn mang phiên hiệu 198. Ngày 1/10/1967, tiểu đoàn 198 bắt đầu Nam tiến.

Sáng tạo táo bạo

Hơn 2 tháng hành quân bằng bánh xích, vượt trên 1.000 km đường Trường Sơn, toàn tiểu đoàn đến vị trí tập kết với 100% trang bị chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân phải đảm bảo tuyệt đối bí mật ấy, những người lính xe tăng đã có nhiều sáng tạo đến táo bạo. Theo thiếu tướng Lê Xuân Tấu, nguyên trưởng xe tăng 555, đơn vị di chuyển chủ yếu vào ban đêm bằng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng.

Những đêm mù sương, các trưởng xe phải đi bộ trước mũi xe, khoác dù trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi phủ lên ống xả, vừa ngăn được tiếng ồn, vừa tránh bụi lửa phóng ra từ ống xả. Một bộ bánh xích chỉ cho phép chạy được từ 400 đến 500km trong điều kiện đường tốt. Lần này, do xe tăng của ta phải vượt đoạn đường với địa hình phức tạp, nhiều đá to, ngầm, sông… đặc biệt là phải đi dưới làn bom, đạn pháo địch, nên hơn 90% bánh đỡ nặng và gần 50% mắt xích bị hỏng.

Mắt xích và bánh chịu nặng của xe PT-76 đã vượt hơn 1.000km đường Trường Sơn vào tham gia trận đánh Làng Vây năm 1968. Ảnh: Hà Dương.

Các kíp xe đã đảo xích bên phải sang bên trái và ngược lại, đồng thời, lắp xen kẽ mắt xích lành với mắt xích hỏng để đảm bảo hành quân – cái sáng tạo chỉ có ở người lính xe tăng Việt Nam. Tới điểm tập kết, đơn vị đã nhanh chóng ổn định trú quân an toàn, khắc phục các sự cố của xe, sẵn sàng chiến đấu.

Hằng ngày, máy bay trinh sát địch luôn vè vè trên đầu, máy bay B-52 chốc chốc lại giội bom bừa bãi xuống những nơi nghi vấn, nhưng chúng không thể phát hiện ra hàng chục xe tăng nằm chình ình hơn 10 ngày ngay sát cứ điểm, trên đồi không có lấy một bóng cây chỉ bạt ngàn cỏ tranh. Vì xe đã được phủ bằt các sọt cỏ tranh được trồng và tưới nước hằng ngày.

Nguyên Đại đội trưởng Đại đội tăng 9 Ngô Xuân Nghiêm, cho biết, trong từng trận chiến đấu, tính sáng tạo của lính tăng cũng được thể hiện hết sức sinh động. Câu chuyện kíp xe 569 là ví dụ. Lái xe Phạm Văn Hương bị thương ở chân. Vì không có lái xe thay thế, kíp xe đã sáng kiến Hương lái, còn pháo thủ dùng chân đạp cần lái. Nhờ đó, xe tăng 569 vẫn cùng đồng đội lao về phía trước tiêu diệt địch. Hay chuyện chiếc kính ngắm của xe 565 bị hỏng, pháo thủ đã trực tiếp ngắm qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu… Những sáng tạo đó đã góp phần làm nên chiến thắng.

Tập kích bất ngờ

Thắng lợi Tà Mây – Làng Vây có vai trò rất lớn của việc bảo đảm bí mật, bất ngờ trong hành quân, trú quân và tập kết chiến đấu. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên của ta trên chiến trường và cũng không biết bằng cách nào ta có thể đưa được những chiếc xe tăng vượt qua núi rừng Trường Sơn điệp trùng hiểm trở.

Yếu tố bí mật đó thật sự tạo nên bất ngờ rất lớn trong trận Huội San (Tà Mây). Ngày 24/1/1968, đại đội xe tăng 3 đã tấn công cứ điểm này. Hai xe tăng 555 và 558 đã lao thẳng vào căn cứ của địch, bắn sập các lô cốt, hỏa điểm của địch. Bất ngờ trước sự xuất hiện của xe tăng ta, quân địch hoảng hốt tháo chạy tán loạn, quân ta làm chủ trận địa trong một thời gian ngắn.

Đoàn tiền trạm của Tiểu đoàn 198 chuẩn bị cho trận đánh Tà Mây – Làng Vây. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Đến khi đánh cứ điểm Làng Vây, yếu tố bất ngờ về sự xuất hiện của xe tăng không còn nữa, ta lại tạo ra sự bất ngờ mới về hướng tiến công. Để chuẩn bị tiến công, từ ngày 19/1/1968, đại đội tăng 9 đã nhiều lần cùng bộ đội công binh dùng mảng nứa, bí mật thăm dò lòng sông Sêpôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông và đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể.

Đại đội xe tăng 9 bơi xuôi theo dòng sông Sêpôn từ vị trí tập kết chiến đấu ở đồi Pê Sai vào tuyến điều chỉnh cuối cùng ở Làng Troài, cách địch gần 2km. Sông Sêpôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng, địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động theo dòng sông để tập kích vào hướng này.

Các chiến sỹ công binh đã bơi lặn trong dòng nước lạnh buốt đo mực nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm và phá những tảng đá to trên quãng sông nước cạn, để mở đường cho xe tăng đi bằng xích. Những đoạn có nhiều đá ngầm, các chiến sĩ công binh quấn dù trắng trên mình, đứng dọc hai bên để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng bơi. Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đến 23g cả 8 xe đều đến được vị trí cuối cùng ở khu vực cầu Bi Hiên cách cứ điểm địch khoảng 2km. Lúc này pháo binh địch từ Tà Cơn và hỏa lực địch trong căn cứ Làng Vây bắn mạnh ra trên cả hai hướng, máy bay địch cũng bắt đầu thả pháo sáng, bắn phá ngăn chặn ta tiến công.

Đúng 23g25, ngày 6/2/1968, Sở chỉ huy hạ lệnh và phát tín hiệu xung phong. Xe tăng của ta đồng loạt vượt cửa mở, dẫn bộ binh xung phong vào trong cứ điểm của địch. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao. Xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 2)

Ở Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp, có một hiện vật không thuộc nhóm vũ khí khiến khách tham quan không khỏi rưng rưng. Đó chính là nắm cơm bị cháy.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Đầu năm 1972, chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch xuân – hè nhằm tiêu diệt căn cứ Đăk Tô – Tân Cảnh bằng trận chiến hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia, góp phần tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch.

Như mũi tên thép

Đăk Tô – Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của ngụy quân ở bắc Tây Nguyên, mà Mỹ – ngụy cho là vành đai thép án ngữ hành lang Trường Sơn, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng địch được bố trí ở dãy cao điểm phía tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum.

Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh là giải phóng 1/3 mạn bắc tỉnh Kon Tum, làm sụp đổ tuyến phòng thủ bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn. Sau khi vừa tham chiến ở Đường 9 – Nam Lào trở về, tiểu đoàn 297 tăng thiết giáp lại được lệnh tiến vào chiến trường Tây Nguyên với khẩu hiệu “Tiến sâu – Ở lâu – Đánh thắng!”. Sau 2,5 tháng hành quân, đến đầu năm 1972 thì tới ngã ba biên giới Đông Dương.

Đêm 23/4/1972, từ ngầm sông Pô Kô Hạ, đại đội 7 gồm 9 chiếc xe tăng cùng trung đoàn 66 bộ binh bắt đầu xuất kích. 1g ngày 24/4/1972, xe 377 dẫn đầu tấn công vào hướng đông căn cứ e42 – Tân Cảnh, mở màn trận đánh tiêu diệt cụm cứ điểm này. Sau hơn nửa giờ chiến đấu ác liệt, căn cứ của địch chìm trong khói lửa.

Xe 377 cùng đồng đội xuất kích trong trận Đắk Tô – Tân Cảnh 1972 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Đến 4h30, xe 377 dẫn đầu cho bộ binh và xe 357 xốc tới, dũng mãnh tấn công, như một mũi thép lướt qua công sự, chiến hào, vật cản của địch… tiến thẳng vào sở chỉ huy e42, khiến đại tá cố vấn Mỹ, đại tá Lê Đức Đạt chết tại chỗ, đại tá Vi Văn Bình bị bắt sống. Đến 8h cùng ngày, ta cơ bản làm chủ khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh.

Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh ngụy. Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định điều một trung đội xe tăng, gồm xe 377, 354, 369 vận động theo đường 18 lên hiệp đồng với Trung đoàn 1, Đoàn 2, tiêu diệt địch ở căn cứ Đăk Tô 2.

Một đấu mười

Mặc dù không có thời gian chuẩn bị nhưng, Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển, Trung đội trưởng Trung đội tăng 3 (ngồi trên xe 377) đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, vừa cơ động, quan sát nắm địch, đồng thời dẫn trung đội vận động với tốc độ cao, dũng cảm vượt qua các trận địa, sự bắn phá ác liệt của máy bay địch để đến căn cứ Đăk Tô 2 trước thời gian.

Xe 377 lại tiếp tục dẫn đầu hai xe 354 và 369 lao thẳng vào cứ điểm. Vì gặp chướng ngại vật nên hai xe kia bị tụt lại phía sau. Địch thấy chỉ có mỗi một xe 377 đơn độc bèn cho xuất kích 10 chiếc tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây. Xe 377 lọt vào giữa vòng vây của địch. Cuộc đấu 1 chọi 10 diễn ra ác liệt.

Xe 377, huyền thoại của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trong tình thế nguy nan, Nguyễn Nhân Triển đã bình tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn cháy 7 xe M41, làm rối loạn đội hình địch. Xe tăng 354, 369 trên đường cơ động, biết xe 377 gặp khó khăn chờ chi viện đã chạy với tốc độ cao nhất lao lên trận địa, bắn cháy 3 xe tăng địch. Lúc đó, một xe tăng địch ở phía Nam sân bay dã chiến Phượng Hoàng bắn trúng xe 377.

Dù xe bốc cháy, nhưng kíp xe vẫn kiên cường truy kích địch. Nhưng cuối cùng 4 chiến sĩ trong xe là Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển, Hạ sĩ pháo thủ Hoàng Văn Ái, Nguyễn Đắc Lương và Hạ sĩ lái xe Cao Trần Vịnh đã anh dũng hy sinh. Lúc này xe tăng, bộ binh ta mãnh liệt tiến lên tràn vào tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.

11h30 hôm ấy lá cờ của Tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 tung bay trên cứ điểm Đăk Tô. Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Bờ lêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận ĐăkTô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến ĐăkTô, về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kontum được giải phóng.

Xác những chiếc xe tăng Mỹ do kíp xe 377 bắn cháy tại trận Đắk Tô 2 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy xe 377 đang bốc cháy giữa ngổn ngang xác xe tăng địch. Bên cạnh thi thể không còn nguyên vẹn của các anh, là những nắm cơm mà các anh chưa kịp ăn giữa hai trận đánh đã bị cháy thành than. Tập thể kíp xe 377 đã lập kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao: 1 xe tăng tiêu diệt 7 xe tăng địch trong một trận đánh.

Với chiến công trên, tập thể xe 377 đã nêu tấm gương sáng về bản lĩnh kiên cường. Chiến công của xe 377 được coi là chuyện huyền thoại của Binh chủng tăng thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xe tăng 377 đã trở thành kỷ vật vô cùng thiêng liêng, tự hào của Đơn vị H73 và gia đình các liệt sĩ.

Ghi nhớ chiến công của các anh, chiếc xe tăng 377 đã trở thành tượng đài đặt ở giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô, nơi các anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Phần hài cốt của các anh đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Đăk Tô, mảnh đất nơi các anh đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho đất nước; còn nắm cơm đã cháy thành than, cùng các di vật của kíp xe 377 hiện vẫn đang được lưu giữ tại Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp. Ngày 1/9/2009 nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho kíp xe tăng 377.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ cuối)

Hơn 30 năm đã qua đi, nhưng hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống ngụy quyền trưa 30/4/1975 mãi là biểu tượng chiến thắng huy hoàng của dân tộc.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng
>> Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Kỳ cuối: “Nhân chứng” đặc biệt

(Đất Việt) Sau khi giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết, ngày 26/4/1975, toàn bộ lực lượng của ta bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ba ngày sau, đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong – Trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu tiến vào Sài Gòn.

Thần tốc, táo bạo

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về tử thủ ở ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn. Nửa đêm 29/4, tiểu đoàn 1 đi đầu đội hình đến phía bắc cầu Xa Lộ. Xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu.

Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu. Sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức. Sau khi đánh bại địch giữ cầu Xa Lộ, binh đoàn thọc sâu tức tốc vượt cầu, nhanh chóng vượt qua các tuyến ngăn chặn của địch.

Cánh cổng sắt Dinh tổng thống Nguỵ dưới vành xích xe 390.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

8h ngày 30/4/1975, trong đội hình đại quân thần tốc tiến vào nội đô Sài Gòn, kíp xe 390 gồm: Trung úy Vũ Đăng Toàn chỉ huy xe tăng 390, chính trị viên đại đội 4, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập – lái xe, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên – pháo thủ số 1 và Thiếu úy Lê Văn Phượng – pháo thủ số 2, đi đầu đội hình, vượt qua cầu Thị Nghè, gặp xe tăng địch ra ngăn chặn. Bằng một phát đạn xuyên táo, xe 390 diệt luôn 2 xe M113, số xe địch còn lại hoảng sợ bỏ chạy.

Xe tăng 390 tăng tốc theo đại lộ Hồng thập tự, tiến vào đánh chiếm Dinh tổng thống Nguỵ. Thiếu uý Lê Văn Phượng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 4 nhớ lại, theo phương án tác chiến, xe tăng 390 đến ngã tư thứ 7 thì rẽ trái là vào đến Dinh tổng thống Nguỵ, nhưng vì cả kíp xe không ai biết Dinh ở đâu, xe đã chạy quá một đoạn, nên phải quay lại, theo đường Công lý (nay là đường Nam kỳ khởi nghĩa).

Thắng nhanh để không đổ thêm máu

Sau khi quay lại, chỉ còn cách Dinh khoảng 30m, kíp xe 390 nhìn thấy xe tăng 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc nghiêng cánh cổng phụ bên trái. Do đột ngột gặp sức cản lớn, nên xe chết máy và kẹt ở đó. Khi thấy xe 843 bị vướng trước cổng phụ của Dinh, lái xe Nguyễn Văn Tập quay sang nói với chỉ huy xe Vũ Đăng Toàn: “Hay xe của anh Thận bị thương rồi, Thế nào anh Toàn, có cho xe vào dinh không?”.

“Tông thẳng vào”, Trung úy Toàn đã quyết đoán ra lệnh cho lái xe Nguyễn Văn Tập tông thẳng vào cổng chính của Dinh. Lập tức xe 390 tăng ga, lao thẳng và húc hai cánh cổng thép, xích xe chồm lên cánh cổng bên phải, còn cánh bên trái bung bản lề, nghiêng sang một bên.

Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, tông tiếp vào cánh cổng bên trái, cả hai xe tăng 390 và 843 cùng vượt qua cổng, tiến thẳng vào sân, mở toang cánh cửa cuối cùng vào sào huyệt kẻ thù, tạo điều kiện cho lực lượng ta tràn vào sân Dinh, bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong Dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng, hạ cờ chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh tổng thống nguỵ lúc 11h30 ngày 30/4/1975, thời khắc thiêng liêng báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Khi được hỏi, có nghĩ gì khi quyết định húc vào cánh cổng sắt của Dinh? Ông Vũ Đăng Toàn cho biết, lúc đó, chỉ có suy nghĩ duy nhất là phải giành được thắng lợi nhanh nhất, để đồng đội và nhân dân không phải đổ thêm xương máu nữa. Mặc dù, có thể “dính” mìn chống tăng hoặc vật cản nổ của địch bảo vệ cổng Dinh, có thể hy sinh, nhưng kíp xe không có lựa chọn khác.

Các sĩ quan cao cấp trong phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn
đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng trưa 30/4/1975.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Trung sĩ Nguyễn Văn Tập chia sẻ: “Khi thời cơ đến, chúng tôi chỉ biết đó là độc lập. Đất nước còn chiến tranh thì đau khổ vẫn còn, vậy thì quyết định nhanh chóng để bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng, chấm dứt chiến tranh”. Họ là những người hạnh phúc nhất được chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc.

Đó là giờ phút mà không phải người lính nào cũng có may mắn được trải nghiệm. “Cảm giác sung sướng đến phát khóc khi được chứng kiến khoảnh khắc lịch sử, đích đến cuối cùng sau bao nhiêu năm đồng bào, đồng chí đổ xương máu cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc”, Thiếu úy Lê Văn Phượng bồi hồi nhớ lại.

Năm tháng đã qua đi, nhưng hình ảnh xe tăng 390 húc tung cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975 mãi mãi là in đậm trong lòng những người lính xe tăng và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Hiện nay, xe tăng 390 được trưng bày tại Bảo tàng lực lượng Tăng – Thiết giáp. Câu chuyện về “nhân chứng” lịch sử đặc biệt này sẽ như một khúc ca truyền thống tiếp lửa cho các thế hệ những người lính Tăng – Thiết giáp.

Với ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của xe tăng 390 trong Đại thắng mùa Xuân 1975, tháng 8/2011, Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng đã xét duyệt hồ sơ và thẩm định hiện vật xe tăng 390, nhất trí đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 1)

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cần phải phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Người nói: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”.Dưới sự tổ chức và rèn luyện trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chỉ 15 năm sau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân – phong kiến, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở đầu quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bàng hoàng và hoảng sợ trước ngọn đuốc giải phóng dân tộc trong thời đại mới đã được thắp sáng tại Việt Nam, thực dân Pháp và các thế lực phản động quốc tế phiêu lưu xâm lược Đông Dương một lần nữa. Sau nhiều cố gắng thương lượng bất thành, từ tháng 12 năm 1946, lãnh tụ Hồ Chí Minh một lần nữa lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam tiến hành trường kỳ kháng chiến và 9 năm sau kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tiếp nối Điện Biên Phủ – Việt Nam là hàng chuỗi phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở không gian Á, Phi và Mỹ La tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Sau thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thế chân, nhảy vào miền Nam, âm mưu chiếm đóng, chia cắt lâu dài đất nước nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: hoàn thiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn ngày càng được củng cố, miền Bắc hoàn thành nghĩa vụ cao cả là hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ. Quân và dân miền Nam đã lần lượt làm thất bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tiến tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Lá cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân giương cao, biến Việt Nam thành lương tâm và khí phách của cả thờì đại. Chiến thắng năm 1975 của Việt Nam là chiến thắng của thời đại Hồ Chí Minh, chiến thắng của dân tộc chống đế quốc, của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản, của văn minh chống lại bạo tàn, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về sự kiên định, trung thành với mục tiêu lý tưởng cộng sản; đồng thời, đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện Việt Nam, góp phần xứng đáng vào tăng cường sức sống cho hệ tư tưởng cộng sản trong thời đại mới. Chính vì vậy, Người không chỉ được kính trọng, ngưỡng mộ, mà còn là một tấm gương cần noi theo, một sự chỉ dẫn không thể thiếu đối với nhân dân Việt Nam và đông đảo lực lượng cách mạng, tiến bộ toàn thế giới trước kia, hiện tại và tương lai.
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa cộng sản, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong một sự nghiệp cách mạng. Lập trường cộng sản của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở của một nhận thức đúng đắn, một ý chí sắt son với quốc gia dân tộc, một trình độ giác ngộ giai cấp sâu sắc qua thực tiễn hoạt động chính trị – xã hội phong phú của bản thân Người. Bởi vậy, ngay trong hoàn cảnh hoạt động bí mật hiểm nghèo, trong chốn lao tù khắc nghiệt, hay trong những thời điểm bị chính các đồng chí cộng sản hiểu lầm, đánh giá sai…, Người vẫn luôn luôn tự tin, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cộng sản.

Điều hết sức đặc sắc ở Hồ Chí Minh là Người đã duy trì sự kiên định, trung thành bằng cách vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận cộng sản chủ nghĩa một cách kịp thời, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như với bối cảnh mới của thời đại. Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi; về vai trò, vị trí của cách mạng vô sản ở thuộc địa đối với cách mạng thế giới nói chung và cách mạng vô sản ở chính quốc nói riêng; về khả năng, tiềm năng cách mạng của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Đông Dương; về giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; về quy luật ra đời của đảng cộng sản ở Việt Nam; về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa – phong kiến; về xây dựng nền văn hóa và con người mới xã hội chủ nghĩa; về khối đại đoàn kết toàn dân tộc như động lực của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân với sức mạnh tổng hợp, chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân; về xây dựng Nhà nước, xây dựng Đảng như tổ chức của những công bộc, những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; về nền đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, hợp tác và hội nhập quốc tế… là những cống hiến vô giá đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.

Hệ thống lý luận do Mác, Ăngghen và Lênin xây dựng cách đây hàng thế kỷ vẫn có ý nghĩa thời đại sâu sắc một phần rất lớn là nhờ được nhiều lãnh tụ cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh của Việt Nam, bổ sung, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn sinh động của quốc gia và thế giới đương thời. Đối với những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn có giá trị soi sáng con đường cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trước kia và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới vừa qua cũng như những đóng góp của đổi mới đối với quá trình phục hồi, phát triển của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trên ý nghĩa hiện thực của nó, cũng chính là thành công và đóng góp của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là một chiến sĩ trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, có đóng góp to lớn cho tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân tất cả các nước, giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa vô sản và các dân tộc bị áp bức và giữa các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới với nhau. Chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh có nội dung phong phú: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột; đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”; đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội; đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Từ năm 1912 đến năm l917, Người đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ, sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa. Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ I, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân như đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa. Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các diễn đàn này, Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là một nhân cách cộng sản mẫu mực, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; sống cuộc đời giản dị, khiêm tốn, ham học hỏi, nói đi đôi với làm; thực hành nghiêm túc các nguyên tắc sinh hoạt của Đảng; gắn bó máu thịt với nhân dân, thường xuyên nhấn mạnh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Trọn đời, Người chỉ có một mục đích duy nhất là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người “…chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t4, tr.161).

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, trong đó chứa đựng tinh hoa của đạo đức nhân loại, đạo đức dân tộc và đạo đức cộng sản mà Mác, Ăngghen, Lênin đã đặt nền móng. Nội dung hàng đầu của đạo đức Hồ Chí Minh là trung với nước, hiếu với dân, là tình yêu thương con người. Chữ “trung”, chữ “hiếu” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên tầm cao cộng sản, đó là trung thành với lợi ích quốc gia, với độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả, nghiệp lớn. Chính vì vậy, đạo đức Hồ Chí Minh là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người chỉ rõ: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t5, tr.252). Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dốc trọn tâm can, nhiệt huyết cho dân, cho nước, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không tơ hào lợi lộc, vinh hoa phú quý là nội dung rất quan trọng trong đạo đức Hồ Chí Minh, được vị lãnh tụ đề cập ngay từ đầu trong tác phẩm Đường cách mạng và nhấn mạnh trong Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa.

Trong mọi hoàn cảnh, dù ở thủ đô hay trong rừng núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giản dị, thanh cao. Hình ảnh vị lãnh tụ với cháo bẹ, rau măng, lán rạ… trong núi rừng kháng chiến; hay đôi dép cao su, bộ ka ki khiêm tốn, ngôi nhà sàn bé nhỏ, đơn sơ… trên cương vị nguyên thủ quốc gia, mà khi đi vào cõi vĩnh hằng không để lại một chút tài sản riêng tư, đã tạc dấu ấn của một nhân cách cộng sản đích thực vào tinh thần thời đại ngày nay.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh còn tỏa sáng một cách mẫu mực từ việc làm, cách ứng xử và cuộc sống hàng ngày của Người. Khi kêu gọi toàn dân xây dựng hũ gạo kháng chiến, vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cũng mỗi bữa bớt lại một nắm gạo và 10 ngày nhịn ăn một bữa. Khi kêu gọi toàn dân rèn luyện thân thể, Người cũng “tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Để thực hiện nghiêm túc chủ trương tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn mang theo cơm nắm, muối vừng trong mỗi chuyến công tác,v.v… Suốt đời, Người thực hiện nói ít, làm nhiều, nói đi đôi với làm, cán bộ làm gương cho quần chúng noi theo, xây đi đôi với chống, lấy xây làm chính và thực hành tu dưỡng đạo đức thường xuyên như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh cũng tỏa sáng một cách độc đáo từ quan niệm Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Ngay sau khi thành lập nước, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, kiên trì đấu tranh phòng chống các căn bệnh, nguy cơ quan liêu, xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng nhân dân, đặc quyền đặc lợi, chủ nghĩa cá nhân… Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội chưa hẳn là đời sống vật chất cao, mà trước hết ở các giá trị nhân văn, đạo đức của nó, được thể hiện trong từng cán bộ cách mạng và đảng viên. Người nhấn mạnh: “Phong trào cộng sản quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh loài người chẳng những là do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành sức mạnh vô địch” (Hồ Chí Minh: Lênin và Cách mạng tháng Mười. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.160).
Thế giới ngày nay có biết bao đổi thay sâu rộng, khó lường. Sự nghiệp của những người cộng sản đã phải nếm trải không ít đổ vỡ, mất mát nhưng loài người không bao giờ quên, không bao giờ phủ nhận những đóng góp lịch sử vĩ đại của cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong suốt thế kỷ XX. Loài người cũng mãi mãi tự hào về những chiến sĩ lỗi lạc, những lãnh tụ kiệt xuất đã từng xuất hiện và trưởng thành từ phong trào cộng sản, phong trào cách mạng sôi động ấy, trong đó có Hồ Chí Minh (Việt Nam).

Ở những thập niên đầu thế kỷ XXI hiện nay, nhân dân lao động toàn thế giới đang nỗ lực và sáng tạo đấu tranh vì một thế giới tốt đẹp hơn: một thế giới của hòa bình, độc lập dân tộc; một thế giới khác với thế giới tư bản chủ nghĩa, không còn áp bức, bóc lột, bất công. Tuy nội dung, hình thức đấu tranh có nhiều điểm khác trước, nhưng mục tiêu đấu tranh vẫn thống nhất với thời kỳ của các thế hệ tiền bối cách mạng. Bởi vậy, lá cờ của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và tấm gương của các chiến sĩ cộng sản lỗi lạc như Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị dẫn đường./.

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 2)

TP – Năm 1965, dân chúng Mỹ bắt đầu nghi ngờ về việc Hoa Kỳ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến Việt Nam. Số lượng người phản đối ngày một tăng lên.

Sự phẫn nộ của những người yêu hòa bình

Nhiều thanh niên bất mãn đã tách khỏi xã hội Mỹ và thành lập những công xã như thế này

Các cuộc phản đối được thực hiện với nhiều kiểu thể hiện: Những buổi biểu diễn nhạc chống chiến tranh, tuần hành đòi ngưng ném bom, khẩu hiện dán trên xe máy: Tình yêu chứ không phải chiến tranh, và biểu ngữ “Chiến tranh có hại cho trẻ em và những sinh vật khác”.

Thanh niên Mỹ đốt giấy triệu tập nghĩa vụ quân sự và bao vây các trung tâm tuyển quân. Các cuộc biểu tình lan vào trường học, đặc biệt là sau khi việc hoãn triệu tập nghĩa vụ quân sự đối với sinh viên bị bãi bỏ.
Năm 1968, khoảng 10.000 người Mỹ đã di cư sang Canada để tránh phục vụ cho cái mà họ gọi là cuộc chiến tranh đồi bại.

Lý do để những người yêu hòa bình phản đối cuộc chiến này được đưa ra ngày càng nhiều. Một trong những lý do chính là họ cho rằng thực chất của cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là một cuộc chiến trong đó lực lượng Việt Cộng đã cố gắng để đánh bại một chính phủ tham nhũng và vô dụng ở Sài Gòn.

Những người yêu hòa bình tố cáo Chính phủ Hoa Kỳ đã hủy hoại cả đất nước và con người Việt Nam, đã làm cho hàng ngàn người Mỹ chết, bị thương, và cái giá của cuộc xung đột này còn thể hiện ở chỗ nạn lạm phát trầm trọng.

Phái hiếu chiến lại đồng ý với Johnson rằng cuộc chiến ở Việt Nam quan trọng đối với an ninh của nước Mỹ và cần chấp nhận sự chết chóc và tốn tiền của. Thậm chí còn có người đòi chiến tranh phải leo thang thêm nữa.

Họ tin sẽ có “ánh sáng ở cuối đường hầm” và chỉ có những nỗ lực hết cỡ của quân đội mới có thể mang lại chiến thắng trọn vẹn. Họ dẫn chứng từ những báo cáo của những nhà ngoại giao Mỹ và tư lệnh ở chiến trường Việt Nam rằng đối thủ của họ đã kiệt sức và đang đứng trước bờ vực chiến bại.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Tối thứ Ba ngày 30 tháng Chạp năm 1968, là ngày đón năm mới của người Việt Nam. Những ngày kế tiếp được gọi là Tết – những ngày bắt đầu một năm mới tính theo lịch mặt trăng.

Ở khắp các đô thị miền Nam VN, đường phố đông nghẹt những người trẻ tuổi trông như vừa mới từ ngoại ô lên để đón lễ. Ngoài ra còn có rất nhiều những đám tang bất thường với kèn sáo, và dĩ nhiên là cả quan tài.

Nhưng khi vỡ lở rồi mới biết, áo quan chứa toàn vũ khí, còn những người ngỡ như nông dân lại là Việt Cộng. Tối đó, Việt Cộng đã mở một cuộc tấn công kinh hoàng khắp cả trăm đô thị ở miền Nam, trong đó có Sài Gòn và 26 tỉnh lỵ.

Sau một tháng chống trả, quân đội Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ giành lại được quyền kiểm soát, làm thương vong 42.000 quân Việt Cộng. Đó là một sự kiện chứng tỏ với Johnson rằng đối phương không hề đã bị đẩy đến bờ vực đầu hàng và cuộc chiến hãy còn dài lắm.

Johnson quyết định rút lui

Trước dấu hiệu có thể bị thất bại trong cuộc chạy đua tiếp theo vào Nhà Trắng bởi những đối thủ có chính sách hòa bình ở Việt Nam được đông đảo cử tri ủng hộ, mà một trong những người đó chính là anh trai của cố Tổng thống John Kennedy – ông Robert Kennedy, người đã đề nghị việc Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam từ đầu năm 1963 với phát biểu: “Chúng ta đang giết những người vô tội…”

Là một chính trị gia tinh quái, Johnson hiểu điều gì sắp xảy ra. Ngày 31/3/1968, ông tuyên bố trên tivi: “Tôi đang từng bước hạ màn chiến tranh ở Việt Nam. Tôi đã đề nghị không lực của chúng ta không tiếp tục oanh tạc Bắc Việt Nam”.

Sau một thoáng suy nghĩ, ông nói tiếp: “Đang có sự chia rẽ trong các gia đình người Mỹ. Do đó, tôi không mong muốn, và cũng không chấp nhận Đảng của tôi bổ nhiệm tôi làm tổng thống trong nhiệm kỳ tới”.
Bốn năm trước, Johnson nhận được sự ủng hộ của đông đảo cử tri Mỹ. Nhưng lúc này, ông đã phải tuyên bố giã từ sự nghiệp chính trị của mình.

Sau đó một tháng, một cuộc đàm phán sơ bộ giữa những người đại diện của ông Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ được tổ chức ở Paris. Bất chấp điều đó, chiến sự vẫn nổ ra.

Thời đại Nixon

Cuối những năm 1960, người Mỹ ngao ngán với những cuộc bạo động, biểu tình. Cuộc chiến ở Nam á vẫn không có được câu trả lời khi nào thì chấm dứt. Việc hai chính khách bị ám sát trong cuộc tuyển cử năm 1968 càng làm cho dân chúng lo lắng và thất vọng. Vì thế cử tri Mỹ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên hứa hẹn đoàn kết đất nước lại.

Richard M.Nixon trở thành Tổng thống Hoa Kỳ tháng Giêng năm 1969. Năm 1972, ông tái đắc cử. Chính quyền Nixon thay đổi chính sách đối ngoại, tái lập mối quan hệ với Trung Quốc, và muốn chấm dứt sự liên lụy với cuộc chiến Việt Nam.

(Còn tiếp)
Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng
dịch và tổng hợp

>>Kỳ 1: Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam?

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ cuối)

TP – Nixon luôn phải nỗ lực quyết liệt để đạt được những thành tựu trong cuộc đời. Điều đó khiến ông ta có nhận định rằng thế giới chỉ là một đấu trường trong đó chỉ có chiến thắng mới là điều đáng quan tâm.

ảnh đăng trang 716 với ghi chú : "Vợ chồng Tổng thống Nixon đón nhận sự cổ vũ sau bài diễn văn ông đọc vào năm 1968 tại New York"

Nixon và kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh

Có vẻ như ông ta nhìn nhận những người không cùng quan điểm không đơn giản chỉ là người bất đồng với ông mà là kẻ thù của ông. Những người này đe dọa đến quyền lực của ông và họ cần phải bị tiêu diệt.

Nixon cư xử nếu không nói như một Hoàng đế, thì cũng giống một hoàng tử. Ông ta mua một biệt thự giá 250.000USD ở Key Biscayne– Florida, và một biệt thự khác ở San Clemente– California mà ông ta phong cho cái tên là Nhà Trắng miền Tây.

Chính phủ của ông chi hết 10,5 triệu USD trong hai nhiệm kỳ, một phần trong số đó là để trang bị vũ khí và thiết bị an ninh, còn phần lớn là để sắm sửa đồ đạc và xây dựng cảnh trí. Mười sáu phi cơ và mười sáu máy bay trực thăng luôn phải túc trực để ông sử dụng. Quản gia, người hầu, đầu bếp, thợ làm vườn, lái xe của Nixon gồm cả trăm người.

Trong một lần trả lời báo chí, Nixon cho rằng: “Tổng thống phải khác người, ông ta phải có một phong cách đặc biệt. Bởi dân chúng muốn như vậy. Họ không muốn Tổng thống cũng tham gia vào đám đông và nói : Nhìn này, trông tôi cũng giống với các anh”. Thế nên, người ta luôn thấy ông thắt cà-vạt và mặc áo choàng. Và thậm chí bạn thân của ông ta cũng không được gọi tên của ông, mà phải trân trọng gọi là Mr.Nixon hoặc ngài Tổng thống.

Với thái độ xa lánh dân chúng kiểu đó, dưới thời đại của ông rất ít có những cuộc họp báo và các thông tin quan trọng thường không đến được với dân chúng Mỹ. Một ví dụ là Nixon đã không nói về việc ông cho ném bom Campuchia mãi đến khi việc này đã xảy ra được hơn một năm.

Nhiều người lo ngại rằng Tổng thống đã bao trùm những luật lệ của riêng ông lên Chính phủ.

Tháng 6/1969, Nixon tuyên bố kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”. Có nghĩa là sẽ từ từ rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam và để miền Nam Việt Nam tự giải quyết cuộc chiến của họ. Cuối tháng 8/1969, nhóm 25.000 lính Mỹ đầu tiên trở về nhà. Thời điểm đó, ông tăng cường ném bom miền Bắc, và bí mật ném bom cả Lào và Campuchia.

Phong trào phản chiến tăng lên

Ảnh đăng trang 719 với ghi chú : “Gia đình Nixon thăm Vạn lý trường thành. Chuyến thăm Trung Quốc năm 1972 này đã đánh dấu một mốc chuyển biến quan trọng trong đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ”

Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh chỉ thành công một phần. Số lượng binh lính Mỹ trở về nhà ngày một tăng lên, nhưng chính quyền tham nhũng và kém hiệu quả của Nguyễn Văn Thiệu không thể tuyển được đủ quân để lấp vào khoảng trống đó.

Trong khi đó, các tổ chức phản chiến ở Mỹ ngày càng lớn mạnh. Ngày 15/5/1969 hàng trăm ngàn người Mỹ đeo băng đen trên tay áo đổ ra đường diễu hành.

Một cuộc xuống đường tương tự diễn ra vào ngày 15/10/1969. Rồi ngày 15/11/1969 tại Washington khoảng 40.000 người tham gia cuộc đi bộ “Phản đối sự chết chóc” , mỗi người cầm một tấm bảng có ghi tên một lính Mỹ chết ở Việt Nam.

Ông Nixon không chứng kiến các cuộc diễu hành này. Ngồi trong Nhà Trắng, ông bận xem trận bóng đá trên tivi. Ông ta cảm thấy việc rút quân khỏi Việt Nam một cách vô điều kiện là nhục nhã.

Và để có “Hòa bình trong danh dự” thì phải thông qua việc Việt Nam hóa chiến tranh. Một cuộc thăm dò dư luận Mỹ cho thấy 3/4 dân chúng Mỹ đồng tình với quan điểm này của Tổng thống.

Nhưng dần dần cách nhìn nhận của dân chúng Mỹ thay đổi. Tivi đã đưa hình ảnh về sự chết chóc và hủy hoại trực tiếp vào tận trong các gia đình người Mỹ. Báo chí đăng tải những sự kiện như lính Mỹ tàn sát cả một làng của người Việt ở Mỹ Lai.

Mùa xuân 1970, Nixon thông báo quân đội Mỹ đã xâm chiếm Campuchia để xóa sổ những địa điểm tiếp tế của Việt Cộng và Bắc Việt Nam. Dù cho binh lính đã rút khỏi đây vào tháng Sáu, nhưng phong trào phản chiến vẫn ngày càng sôi sục. Quốc hội có nghị quyết đòi việc ném bom Campuchia phải chấm dứt vào tháng Bảy.

Sinh viên đồng loạt biểu tình. Hơn 400 trường học đóng cửa. Từ ngày 9 đến 10/5/1970, khoảng 100.000 sinh viên tập trung trước Nhà Trắng. Thoạt đầu, Nixon gọi họ là những kẻ lười biếng vô công rồi nghề.

Sau đó ông ta tìm cách trò chuyện với họ trong trật tự và thân thiện. Nhưng thay vì nói về chiến tranh, ông chỉ đề cập đến bóng đá và lướt sóng. Một tờ báo viết về sự kiện này : “ Hai người Mỹ gặp nhau và ông nói gà bà nói vịt”.

Việc thương lượng hòa bình vẫn được tiến hành ở Paris. Ngày 8/10/1972, sau khi đã kiên nhẫn thảo luận, Kissinger tuyên bố một thỏa thuận ngừng bắn với Bắc Việt Nam chuẩn bị được ký kết. Hòa bình trong tầm tay. Ngày 23/10, ông ta lại nói việc ký hiệp ước bị trì hoãn vì có những điểm cần làm sáng tỏ.

Có một lý do mà Nam Việt Nam không chấp thuận. Đến tháng 11, việc làm sáng tỏ này vẫn chưa hoàn tất, Nixon ra lệnh huy động tổng lực không quân Hoa Kỳ tấn công Bắc Việt Nam. Thật không may, hầu hết doanh trại, kho hàng, nhà máy là những điểm chính của cuộc tấn công đều được đặt ở khu dân cư đông đúc. Nhà cửa, trường học, bệnh viện bị phá hủy ngoài chủ định, tổn thất trong người dân cũng rất cao.

Trước sự việc đó, nhiều đại biểu Quốc hội trước đó từng ủng hộ Nixon cũng đã lên tiếng đòi nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến. Cuối cùng thì ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ cũng ký vào bản thỏa thuận này. Mỹ rút quân nhưng vẫn chi viện cho Nam Việt Nam. Còn Bắc Việt Nam thì thả tù binh Mỹ.

Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. 46.000 binh lính Mỹ tử trận, 300.000 bị thương, tiêu tốn hết 137 tỷ USD. Một hậu quả vô hình khác là sự chia rẽ trong các gia đình Mỹ và cảm giác bứt rứt của người Mỹ.

Sự tôn trọng chính quyền liên bang cũng bị giảm sút bởi sự che đậy các hành động của họ trước dân chúng. Trong đầu người Mỹ đã xuất hiện cảm giác không muốn có bất cứ một trường hợp Việt Nam tương tự nào nữa, nhưng họ vẫn mơ hồ về việc nước Mỹ có nên tiếp tục quan tâm đến những lục địa phía Tây bán cầu nữa hay không.

Một hệ quả của cuộc chiến này là sự hạn chế quyền hạn của Tổng thống trong chiến tranh. Tháng 11/1973, Quốc hội thông qua nghị quyết Quyền hạn trong chiến tranh, nêu rõ: Tổng thống gửi quân đội ra nước ngoài phải giải trình với Quốc hội trong vòng 48 giờ. Quốc hội có thể ra quyết định rút quân trong vòng 60 ngày. Nixon phủ quyết nghị quyết này, nhưng nó vẫn được thông qua mà không cần đến sự đồng ý của ông ta…

Thay lời kết

Người bạn gửi tặng chúng tôi cuốn sách này là Nguyễn- kỹ sư cơ giới hạng nặng đang làm việc tại một thành phố nhỏ phía Nam nước Mỹ. Gần 30 năm trước anh đã từng trải những ngày tháng kinh hoàng của thân phận vượt biên trái phép.

Vài năm trở lại đây cuộc sống riêng ổn định, vợ chồng anh vẫn dành trọn những ngày cuối tuần làm việc thêm ngoài giờ để có thêm tiền gửi về hỗ trợ nhiều hoàn cảnh khó khăn trên mọi miền đất nước mà báo chí Việt Nam kêu gọi giúp đỡ, đồng thời chuẩn bị tỉ mỉ về một kế hoạch mở lớp dạy nghề cơ khí miễn phí cho trẻ nghèo sau ngày hồi hương.

Nguyễn tâm sự: Anh chỉ là một trong hàng triệu Việt kiều luôn tha thiết thương nhớ quê hương, ước mong được đóng góp thật nhiều cho đất nước.

>>Kỳ 2 —->> Kỳ trước

Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 1)

MỞ ĐƯỜNG

Giao điểm đường Trường Sơn với đường Hồ Chí Minh qua Tây Giang.

Sau 50 năm, nhóm phóng viên Báo Quảng Nam đã có chuyến đi dọc đường Trường Sơn năm xưa, đường Hồ Chí Minh hôm nay qua địa phận Quảng Nam thực hiện loạt bài để phác họa đôi nét về một con đường đã đi vào huyền thoại…

Chúng tôi thực hiện chuyến đi dọc đường Trường Sơn bằng xe máy trong những ngày cuối tháng tư lịch sử. Cách đây mấy mươi năm, núi rừng nơi đây rầm rập bước chân của hàng vạn bộ đội ào ào tiến về Nam, còn giờ đây Trường Sơn đang đón nhận đợt gió Lào nóng rát đầu tiên của năm. Núi rừng Trường Sơn giờ đã xanh ngút ngàn như cố xóa đi những vết tích của chiến tranh, nhưng ký ức về những năm tháng mở đường năm xưa vẫn im đậm trong tâm trí mọi người khi chúng tôi tìm về.

Ngược dấu chân xưa

Nếu khởi điểm của tuyến đường Trường Sơn là Km số 0 tại Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, nơi xuất phát chuyến hàng đầu tiên vượt rừng vào Nam do “Đoàn công tác đặc biệt”, tức Đoàn 559 hành quân vào ngày 13-8-1959, thì cột mốc T2 với cao điểm 1484 tại thôn Asò, xã A Nông, huyện Tây Giang là nơi khởi đầu tuyến đường Trường Sơn vào địa phận Quảng Nam. Để đến cao điểm này, chúng tôi phải vượt 12km đường đá lởm chởm từ giao lộ đường Hồ Chí Minh hiện nay tại đầu thôn Atép, xã Bha Lêê, huyện Tây Giang. Từ khi mở tuyến đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đi suốt Bắc Nam thì 12km này vẫn còn nguyên vẹn của dấu ấn đường Trường Sơn năm xưa, và đây là đoạn đường Trường Sơn dài nhất còn lưu dấu của một thời ác liệt. Chiếc xe máy bò trên những đoạn đường đá nhấp nhô cũng chỉ được gần 8km. Gửi xe lại một nhà dân ven đường, chúng tôi trực chỉ hướng tây “hành quân” trong cái nắng và gió Lào.

Phóng viên Báo Quảng Nam khảo sát tuyến đường Trường Sơn đoạn 12km qua Tây Giang.

Lội bộ hơn 3km không xa, nhưng hôm đó giữa cái nắng đợt đầu như đổ lửa cứ hắt vào mặt người khiến ai nấy cũng ướt đẫm mồ hôi. Đường rừng là những con dốc thẳng đứng bò lên đã rã rời đôi chân, lại phải hứng chịu những đợt gió Lào thổi ngược. Tuyến đường Trường Sơn này rộng khoảng 6m, nhưng cỏ lau và cây rừng đã lấn vào gần hết mặt đường, nhiều đoạn chỉ còn lại một lối mòn đủ một người đi. Con đường đơn độc này lâu nay ít dấu chân người, nhưng thật may là hôm ấy, được bác Alăng Đàn, nguyên Chủ tịch UBND xã A Nông, giờ là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Tây Giang, từng là chiến sĩ giao liên trên tuyến đường này dẫn đường nên chúng tôi không cô độc và thỏa sức “khai thác” kho tư liệu quý ấy.

Cao điểm 1484

Chúng tôi chạm chân đến bìa rừng của ngọn núi Bha – Nơơm hùng vĩ khi mặt trời đã đứng bóng. Đây là ngọn núi cao nhất của dãy Trường Sơn, điểm khởi đầu của tuyến đường Trường Sơn từ Lào qua xã A Nông, huyện Tây Giang. Bác Alăng Đàn nói ngọn núi này vô cùng hiểm trở, dốc đá dựng đứng. Ngay từ đầu năm 1960, địch đã xây dựng dọc vùng ranh giới Việt – Lào tại nơi đây các đồn Atép, Apăl, Caxar… nhằm khống chế việc bộ đội ta mở đường từ Hạ Lào qua. Trên cao điểm 1484, do núi đá dựng đứng không thể trèo lên được, địch cho máy bay chở lính đem theo hàng hóa, đạn dược nhảy dù làm đồn án ngự, khống chế. Những tưởng với đội quân được trang bị vũ khí tối tân đến tận chân răng kẽ tóc, chặn chốt ở những điểm yết hầu sẽ hạ gục ý chí mở đường của bộ đội Trường Sơn. Nhưng chúng đã lầm, chính nơi nguy hiểm nhất lại là nơi an toàn nhất! Sau những chiến thắng vang dội đánh địch tại các vùng Hạ Lào, bộ đội Binh đoàn 559 đã lần theo đường mòn, vượt qua cao điểm 1484.

Bia di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh đông Trường Sơn.

Những năm tháng đó, ngày cũng như đêm, trên cao điểm 1484 địch thi nhau bắn đạn xuống uy hiếp. Nhưng chúng không ngờ rằng ngay ở dưới chân cao điểm, dọc theo sườn núi dựng đứng, bộ đội mở đường của Binh đoàn 559 dùng những cuốc, xẻng, xà beng, đục đá mở những con đường mòn ban đầu đủ một người đi, về sau cứ nới rộng ra dần để cho những đoàn quân âm thầm vượt qua làn bom rơi, đạn nổ ngay dưới chân địch.

Đường đã có rồi, nhưng việc vận chuyển vũ khí, lương thực vượt qua biên giới đi qua ngay dưới họng súng của kè thù lại vô cùng khó khăn và nếu bộ đội Trường Sơn không dựa vào người dân của bản Klô, huyện Kờ Lùm (Lào) và đồng bào Cơtu của bản Asò, Arớt của xã A Nông thì khó hoàn thành được nhiệm vụ vừa mở đường, vừa vận chuyển lương thực vũ khí vào chiến trường. Già làng Alăng Xê, 70 tuổi rồi nhưng còn rắn rỏi, khỏe mạnh lắm. Ông từng là Xã đội phó của xã A Nông, là du kích và là bạn cùng chiến đấu với đơn vị với Alăng Đàn, kể việc người dân của bản tham gia khoét núi, đào địa đạo chung quanh đường Trường Sơn để cất giữ vũ khí, lương thực và là nơi trú ẩn, nghỉ ngơi của bộ đội khi vượt biên giới. Già bảo, ngày xưa thằng giặc nó bảo người Cơtu mình cái đầu ngu lắm, không biết gì nhưng được bộ đội mở đường về đánh thằng giặc nó cướp sắn, đốt rẫy của đồng bào nên đồng bào mình khuyên nhau thà chết chứ không ai khai báo cho giặc.

– Ngày 5-5-1959, lãnh đạo Bộ Quốc phòng thừa lệnh Bộ Chính trị trực tiếp giao cho Thượng tá Võ Bẩm tổ chức “Đoàn công tác đặc biệt”, gọi là Đoàn 559 làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn;

– Ngày 19-5-1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn mở đường Trường Sơn;

– Trong 16 năm mở đường, đường Trường Sơn dài 16.700km đường xe cơ giới xuyên qua ba nước Đông Dương, dọc theo 10 tỉnh của Việt Nam, 7 tỉnh của Lào, 4 tỉnh của Campuchia;

-Trên tuyến đường đã có 20 nghìn cán bộ, chiến sĩ hy sinh; gần 5.000 xe tải, pháo bị phá hủy.

Tiến về Nam

Sau cuộc khám phá 12km tuyến đường Trường Sơn còn nguyên vẹn qua xã A Nông, huyện Tây Giang, chúng tôi tiếp tục theo đường Hồ Chí Minh qua xã Bha Lêê, xã A Vương huyện Tây Giang) dài trên 28km, xã Za Hung, A Roi, Mà Cooih và thị trấn Prao (huyện Đông Giang) dài 45km. Tuyến đường Trường Sơn năm xưa giờ được “khoác” lên bộ áo mới bởi trùng với đường Hồ Chí Minh hiện nay nhưng đã rộng thênh thang và thảm nhựa phẳng lỳ. Nhưng ký ức về những tháng năm đầu tiên mở đường qua đây (giai đoạn 1960-1965) vẫn còn in đậm trong tâm trí các cựu chiến binh Binh đoàn 559 và cán bộ lão thành cách mạng. Theo các bác Đoàn Ngọc Giảng, Trung úy Trung đoàn 70, hiện ở tại phường An Xuân, TP. Tam Kỳ; Phạm Hào, Trung úy Binh trạm 04; Nguyễn Thanh Đình, Thượng úy Đoàn 185 hiện ở tại xã Ba, huyện Đông Giang thì những ngày đầu mở đường qua đây vô cùng vất vả bởi núi non hiểm trở, dốc cao dựng đứng và nhiều ngầm, suối chảy xiết. Để có đường, ban đầu chỉ là đường mòn vừa đủ một người đi, bộ đội Đoàn 559 phải treo mình trên những vách núi rồi dùng cuốc, xẻng, xà beng mở đường; nếu núi đá thì phải nổ mìn; khi vượt ngầm, suối thì dùng đôi vai vác đá lấp để tạo những lối đi. Bom giặc cứ rơi, đạn cứ nổ nhưng đường thì không bao giờ tắc, cứ dài ra theo năm tháng, bởi với các chiến sĩ 559 việc mở đường như mở những mạch máu chảy trong cơ thể họ vậy.

Từ năm 1965, do nhu cầu chiến trường ngày càng được mở rộng, bộ đội Trường Sơn tiếp tục mở đường, vượt bến Giằng, xoi mở đường qua Nam Giang. Tại đây, gặp đường 14 làm thời Mỹ – Diệm, bộ đội cùng với lực lượng thanh niên xung phong tiếp tục mở đường, lấp hố bom địch bắn phá đảm bảo cho xe thông tuyến từ Thạnh Mỹ lên Ca Dy (Nam Giang) đi qua 5 xã, thị trấn của Phước Sơn là Phước Xuân, Phước Mỹ, Phước Đức, Phước Năng, Khâm Đức. Tuyến đường đi qua Nam Giang và Phước Sơn để lên giáp tỉnh Kon Tum dài trên 100km, là cửa ngõ của bộ đội ta tiến lên Tây Nguyên nên luôn là tọa độ bắn phá của địch. Giặc muốn biến cung đường này làm mồ chôn Cộng sản nên máu của biết bao chiến sĩ và lực lượng thanh niên xung phong đã đổ xuống…

Bài 2: Trên tuyến lửa Trường Sơn

Bom cứ rơi, đạn cứ nổ, nhưng đường thì không bao giờ tắc. Nhằm bảo vệ “mạch máu” đường Trường Sơn thông suốt, những trận quyết tử ở sông Bung, Bến Giằng, làng Rô… đã đi vào lịch sử như huyền thoại.

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn

Trường Sơn – Dấu ấn Quảng Nam (Bài 2)

TRÊN “TUYẾN LỬA” TRƯỜNG SƠN

Bến Giằng - sông Bung, nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trên đường Trường Sơn.

Nhiều cung đường, ngọn núi, con suối, đèo dốc, cây cầu, dòng sông… nằm dọc ngang trên đường mòn Trường Sơn qua Quảng Nam những năm tháng chiến tranh là “tuyến lửa”. Nhằm bảo vệ “mạch máu” đường Trường Sơn thông suốt, quân dân ta đã thực hiện những trận đánh quyết tử trên dòng sông Bung, Bến Giằng, làng Rô, Khâm Đức…

Bến Giằng… “phải chăng đất Quảng anh hùng là đây!”

Bến Giằng (Nam Giang) là một trong số những “tọa độ chết”, do nằm ở vị trí quan trọng về mặt quân sự. Từ đây có hai nhánh rẽ lớn. Một lên tây Trường Sơn qua các xã Cà Dy, Chà Vàl, A Xăh, Bến Yên rồi đi xuống vùng B Đại Lộc. Nhánh hai rẽ xuống Tà Lu, Za Hung, Trung Mang… Nắm rõ vị trí chiến lược này, Mỹ – ngụy đã huy động trên 20 lượt máy bay B52 rải bom xuống khu vực này sau khi phát hiện đường Trường Sơn đã mở nhằm chia cắt không cho quân và dân ta vận chuyển hàng hóa, lương thực và vũ khí phục vụ chiến trường. Bên cạnh đó, địch còn dùng máy bay trinh sát quần thảo liên tục trên bầu trời, nhất là vùng giáp ranh biên giới Việt – Lào, dọc sông Bung, sông Thanh, dọc các đường 13,14…

Nguyên Bí thư Huyện ủy Nam Giang Zơ Râm Un kể về năm tháng vận động thanh niên dân tộc mở đường.

Trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều lần quân ta chủ trương đánh giao thông nhằm cắt đứt sự viện trợ bằng đường bộ của địch cho các đồn bốt dọc đường 14 lên cụm cứ điểm Khâm Đức. Trung đội bộ đội địa phương do đồng chí Nguyễn Tùng Lưu chỉ huy phối hợp với du kích xã Cà Dy đánh địch trên trục đường 14, đoạn giữa làng Rô và làng Ngói. Điển hình, ngày 10-11-1962, quân ta bố trí cán bộ trinh sát theo dõi chặt chẽ tình hình địch, phục kích trên đường từ Khâm Đức về miền xuôi, rồi chớp thời cơ thuận lợi tấn công địch. Kết quả trận này, ta đánh hỏng 1 chiếc xe GMC, diệt 10 tên địch và nhiều vũ khí, quân dụng khác… tạo tiền đề thắng lợi cho các cuộc chiến đấu về sau.

Năm 1970, Mỹ tiếp tục dùng thủ đoạn rải chất độc hóa học để tàn phá hoa màu, hủy hoại môi trường, làm cây rừng trút lá nhằm hủy diệt nguồn sống và tán xanh che chở của quân dân dọc sông Bung, đường 14, sông Cái đoạn từ Thác Cạn, Đầu Gò lên Thạnh Mỹ, Bến Giằng đến các làng Rô, làng Ngói… (Một tài liệu giải mật của Mỹ còn cho biết, Mỹ đã sử dụng hóa chất gây ra sình bùn và tạo mây, kéo dài mùa mưa trên Trường Sơn). Hậu quả, thời điểm này, nhân dân chung quanh khu vực Bến Giằng có đến 800 người bị đói. Thêm vào đó, nạn dịch sởi hoành hành làm cho 250 người dân ở đây bị chết. Chúng còn dùng trực thăng bắn phá, thả máy kiểm thính để phát hiện cán bộ, đảng viên đi lại trên các trục đường. Mỹ – ngụy cũng tăng cường quân càn quét, ném bom tàn phá, hòng chiếm Bến Giằng. Chúng sử dụng máy bay B52 rải bom, đồng thời huy động 4 tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ – ngụy mở nhiều đợt càn quét lên Thạnh Mỹ nhằm ngăn chặn sự tiếp tế của quân ta từ sông Bung lên Bến Giằng, nơi có hành lang Nam Bắc, Đông – Tây ngang qua. Tuy nhiên, du kích của ta đã dùng kế un khói bên bờ sông Bung để nghi binh, nhử máy bay địch đến ném bom rồi dùng súng bắn rơi nhiều máy bay địch. Hai cứ điểm Coong Zêl, dưới chân núi La Dêê, huyện Nam Giang và cứ điểm Cơ Noong, thuộc xã Ta Xiêng, huyện Tây Giang, giặc đặt nhiều đồn bốt để kiểm soát và khống chế đường chiến lược Trường Sơn và vùng biên giới Hạ Lào. Lợi dụng lúc địch chưa quen với địa hình, ta bao vây bám sát, bắn tỉa, lập vành đai chông thò, cài mìn tự tạo vây quanh đồn. Địch bắn trả quyết liệt, nhưng do rơi vào thế cô lập, nên chúng vội vã huy động hàng chục trực thăng đổ xuống Coong Zêl bốc quân rút chạy về xuôi. Chốt điểm cuối cùng của Mỹ – ngụy trên núi rừng Nam Giang bị xóa sổ hoàn toàn.

Một góc làng Rô.

Đường Trường Sơn = đạn bom + máu

Năm 1965 là thời điểm phong trào mở đường Trường Sơn của bộ đội chủ lực và thanh niên xung phong lên đến cao điểm nhằm phục vụ cho chiến dịch vận chuyển bằng xe tải vào miền Nam. Từng là bộ đội Trường Sơn, trực tiếp tham gia lái xe mở đường cùng Đoàn 559, ông Nguyễn Văn Luyến hiện sinh sống tại thôn Pà Dấu 1, thị trấn Thạnh Mỹ (Nam Giang) kể: “Lúc đó, trên dòng sông Bung, đạn giặc trút như vãi. Các chiến sĩ lái xe cố gắng làm giảm tiếng động, đề phòng sự phát hiện của địch. Xe chủ yếu chở đạn dược và các thiết bị hàn điện ở cầu. Do áp lực khẩn trương mở đường, làm cầu, nên có khi một ngày có đến hàng chục chiếc xe của ta bị cháy. Đường mòn cũ xưa chỉ vừa đủ cho một làn xe qua lại. Hai bên là vực thẳm”. Theo ông Luyến, khi vượt sông Bung phải qua ngầm Dần dài 3km. Xe lưu thông không đèn lù lù chạy trong đêm vì sợ địch phát hiện. Nhưng địch đã dùng máy bay loại C130 bắn pháo xối xả xuống đường Trường Sơn. Có ngày, hai xe bị cháy ông phải thay đến chiếc xe thứ ba để vận chuyển quân khí, thiết bị hàn điện cho cầu. Một lần khác, khi đi cùng với Đoàn 559 để lấy vũ khí, súng đạn từ Lào về, địch phát hiện bắn tỉa. Xe ông Luyến bị cháy, nhiều đồng đội đã hi sinh. Khi kể về trường hợp hi sinh của trung sĩ Đoàn, một người đồng đội, ông Luyến không cầm được nước mắt. Lúc ấy, Đoàn chỉ 13 tuổi, tình nguyện xung phong vào Nam mở đường. Dù còn rất trẻ, nhưng anh xin được làm “hoa tiêu”chỉ đường cho bộ đội và không may bị địch bắn bị thương nặng.

Trận đánh đồn Đất Bắc, đoạn giáp ranh giữa Lào với Quảng Nam, nơi có đường Trường Sơn đi qua cũng ác liệt không kém. Trong khi bộ đội đang mở đường vòng Trường Sơn để tiện vận chuyển hàng hóa, vũ khí thì địch đã sử dụng máy bay rải hàng tấn bom phá hoại. Ông Zơ Râm Un, nguyên Bí thư Huyện ủy Nam Giang, người trực tiếp chỉ huy, huy động 500 thanh niên đều là đồng bào dân tộc thiểu số làm đường Trường Sơn đoạn từ cầu Xơi đến cầu Bến Giằng. Mỗi một đoạn đường đi qua nơi đây luôn thấm đẫm mồ hôi, máu và sự hy sinh của bộ đội, thanh niên xung phong, kể cả dân làng. Theo ông Un, trên hanh lang chuyển từ kho K81 về Bến Giằng – Thạnh Mỹ đến các xã giáp ranh Đại Lộc, Quế Sơn, ngoài Trung đoàn 38, địa phương huy động trên 1.800 dân công vận chuyển bằng tất cả phương tiện như dùng sức người gùi cõng, xe đạp thồ, thuyền, hoặc cho hàng vào bao nylon thả xuôi dòng sông… Ngày nào cũng xuất hiện hình ảnh những chiến sĩ dân công tải đạn, tải gạo trên đường mòn Hồ Chí Minh… “Biết bao máu xương của chiến sĩ, đồng bào đã đổ xuống trên vùng đất Bến Giằng này. Mở đường và giữ đường trên tuyến lửa này quan trọng không kém như mục tiêu bắn hạ máy bay, tiêu hao sinh lực địch. Nói như vậy để thấy giá trị lịch sử vô biên của đường Trường Sơn huyền thoại” – ông Un nói.

 Đã từng chứng kiến cảnh máy bay B52 của giặc Mỹ quần thảo, thả bom mìn phá đường Trường Sơn qua làng Rô, xã Cà Dy (Nam Giang), mế Len nay đã sống gần hết 100 mùa rẫy vẫn còn ám ảnh khi nhắc đến cảnh bồng bế mấy đứa con trốn chạy dưới làn mưa đạn. Dường như bà là thế hệ già nhất còn sót lại ở cái làng Rô bé nhỏ này. Già làng Hồ Văn Seng cũng là nhân chứng sống của cuộc chiến tranh khốc liệt ở làng Rô, người đóng góp công sức mở đường Trường Sơn, nuôi nấng nhà cách mạng, nhà thơ Tố Hữu… Thật tiếc là ông đã đi xa cách đây vài tháng trong một cơn bạo bệnh.

Bài 3: Năm tháng không quên

Chiến tranh khốc liệt nhưng không giết chết được lý tưởng và tình yêu của người lính Trường Sơn, của những mối tình quân dân nở như rừng hoa lan…

Trong hành trình mở đường và giữ đường Trường Sơn có cả máu và hoa, là những năm tháng không thể nào quên…

THANH NAM – HỮU PHÚC – THANH MINH

baoquangnam.com.vn