Nam bộ những ngày hào hùng – Kỳ 1

Đa sắc đa chiều

TT – Sau mười năm nghiên cứu và biên soạn công phu, bộ sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến chính thức được phát hành. Đây là một công trình khoa học đồ sộ chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử mới. Nhân dịp kỷ niệm 36 năm Ngày thống nhất đất nước, Tuổi Trẻ trích giới thiệu một số điểm mới của bộ sách này và câu chuyện của những người biên soạn.

Ông Tô Bửu Giám, một thành viên ban biên soạn, run run cầm từng cuốn sách nặng trĩu, nét cười cũng run run: “Tôi cứ ngỡ mình không được nhìn thấy công trình xuất bản. Có 14 người đã ra đi trong quá trình thực hiện bộ Lịch sử Nam bộ kháng chiến: 11 anh trong hội đồng chỉ đạo, ba anh trong ban biên soạn và cộng tác viên…”.

Trong ấy có chủ tịch hội đồng chỉ đạo Võ Văn Kiệt và chủ biên Trần Bạch Ðằng.

Các đại biểu bên bộ sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến tại buổi lễ ra mắt ngày 31-3-2011  Ảnh: Minh Đức

Không ít sự việc đã đi vào văn kiện chính thức với sự đánh giá cụ thể, song như vậy không có nghĩa là người sau phải chấp nhận như không còn gì để bàn cãi – thực sự, vẫn là con người đánh giá các sự việc với cả mặt sáng suốt lẫn hạn chế của con người trong cuộc. Như vậy, nếu công trình Lịch sử Nam bộ kháng chiến này có  chỗ nào không hoàn toàn thống nhất với các đánh giá – thậm chí, kết luận – trước đây cũng là chuyện bình thường

Cố thủ tướng VÕ VĂN KIỆT
(chủ tịch Hội đồng chỉ đạo biên soạn
Lịch sử Nam bộ kháng chiến)

Tinh thần sử

Ông Nguyễn Trọng Xuất, tổng thư ký ban biên soạn, kể: lúc đầu chủ tịch hội đồng chỉ đạo giao cho một số người viết đề cương tổng quát của bộ sử, nhưng sau đó quyết định mời nhà nghiên cứu Trần Bạch Ðằng làm tổng biên tập. Chủ tịch hội đồng chỉ đạo Võ Văn Kiệt đích thân đến tận nhà ông Trần Bạch Ðằng, trèo lên thang gác, kiên trì thuyết phục ông.
Lúc đầu ông Trần Bạch Ðằng từ chối vì bận nhiều công trình khác, nhưng chủ tịch hội đồng chỉ đạo Võ Văn Kiệt quả quyết: “Nếu cậu không nhận làm thì mình cũng bỏ luôn”. Áp lực tình cảm ấy khiến nhà nghiên cứu Trần Bạch Ðằng gật đầu và ngồi lại.

Sau đó, bộ đề cương Lịch sử Nam bộ kháng chiến ra đời, sau nhiều lần tranh luận, chỉnh sửa đã trở thành đề cương chính cho bộ sách sau này. Việc biên tập bộ Lịch sử Nam bộ kháng chiến thật sự được bắt đầu vào cuối năm 2002… Ông Trần Bạch Ðằng trở thành tổng biên tập của bộ sử, sau đó chức danh này được thống nhất là “chủ biên”.

Những người biên soạn khó ai hình dung đến quá trình ngót nghét một thập kỷ cho ra đời bộ sử. Rồi câu chuyện ít ai lường trước là vị chủ biên đầy uy tín của bộ sử ấy đã ra đi khi “chuyện lớn” đang đi vào giai đoạn quyết liệt nhất. Ông Xuất ôn lại: Mọi việc đến nửa đường thì ông Trần Bạch Ðằng lâm trọng bệnh. Từ năm 2005 vị chủ biên đã yếu, nhiều lần thở oxy nhưng ông ráng gượng vượt qua đến năm 2006. Lúc ấy, cơ bản các chương đã hình thành, riêng tổng luận thì chưa có. Năm 2007, bệnh của vị chủ biên đã rơi vào giai đoạn nguy kịch. Một tuần trước lúc lâm chung, ông viết một lá thư gửi cho ông Võ Văn Kiệt đại ý: “Chưa bao giờ tôi băn khoăn ray rứt như lần này vì trong đời chưa bao giờ tôi nhận sự phân công mà không làm tròn. Ðây là bộ sách mà tôi tâm huyết!”. Nhận thư, ông Võ Văn Kiệt im lặng, rưng rưng nước mắt.

Ngày đưa tang, theo ông Xuất, ông Võ Văn Kiệt trân trọng viết vào sổ tang của cụ Trần Bạch Ðằng: “Ðây là một người mà tôi có thể nói là đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng…”.

Bộ sách do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm chủ tịch hội đồng chỉ đạo và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng làm chủ biên. Lịch sử Nam bộ kháng chiến gồm bốn cuốn, trong đó có hai cuốn chính sử tập trung vào hai giai đoạn là chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống đế quốc Mỹ (1954-1975); hai cuốn Biên niên sự kiện lịch sử Nam bộ kháng chiến 1945-1975 và Những vấn đề chính yếu trong lịch sử Nam bộ kháng chiến.

Phong cách Trần Bạch Đằng

Ông Xuất nhớ lại cảm giác mình lúc ấy: “Tôi cứ nghĩ mọi việc có thể sẽ bị đổ vỡ!”. Bộ sách hơn nửa con đường, chủ biên thì qua đời. Phần kết luận về cuộc kháng chiến chống Mỹ và cả phần tổng luận 35 năm chiến tranh cách mạng cũng chưa có chữ nào.

Ông Xuất kể: “Trong lúc khó khăn ấy, ông Kiệt nói với mọi người rằng chúng ta cần nhất trí với nhau chỉ có một chủ biên duy nhất là Trần Bạch Ðằng, sẽ không có ai thay thế.

Bây giờ anh em đã cùng với Trần Bạch Ðằng “đi hết” cuộc kháng chiến, đã biết hết tính ý, văn phong… thì chúng ta tiếp tục viết. Còn có tập thể thường trực, tôi còn sống, ta sẽ phải hoàn tất công trình lịch sử này”. Phần tổng luận sau đó được ông Xuất cùng những đồng sự chấp bút. Tính đến lúc hoàn thành, nó cũng trải qua mười mấy lần chỉnh sửa.

May mắn được viết bởi chính những người đã từng làm nên lịch sử, Lịch sử Nam bộ kháng chiến còn may mắn được thừa hưởng phong cách làm việc “rất Trần Bạch Ðằng” mà ban biên soạn tuân thủ nghiêm ngặt. Chủ biên Trần Bạch Ðằng, bằng tất cả kinh nghiệm của mình, đã “đo ni đóng giày”, phân công cụ thể công việc cho từng người tùy theo sở trường, tùy theo trải nghiệm. Và cũng con người này, tinh thần sử học trong ông gần như bất biến. Người ta phải chấp nhận cả những phần đã hoàn tất phải bỏ đi hoặc giao lại cho người khác bởi ông thẳng thắn: “Tư duy như vậy thì không thể viết, không thể sửa được!”.

Từng sự kiện đều được xác minh, từng con số đều được đối chiếu, từng nhận định đều được phản biện, tranh luận, không chỉ giữa các thành viên ban biên soạn mà còn được gửi đến từng địa phương, từng đơn vị để lấy ý kiến. Lượng bản thảo nếu chất lên sẽ được tới mấy chồng cao hơn đầu người, ấy vậy mà người trẻ nhất trong ban biên soạn nay cũng đã ngoài 70 tuổi. “Nhưng đó lại chính là lợi điểm. Là những người trong cuộc, có nhiều điều kiện tiếp cận tư liệu, lại đã có đủ độ lùi cần thiết của lịch sử để nhìn nhận, đánh giá, nên sử trong Lịch sử Nam bộ kháng chiến đa sắc, đa chiều, vừa rộng lại vừa sâu”, ông Tô Bửu Giám tự tin khẳng định.

Ðọc Lịch sử Nam bộ kháng chiến, nhận ra những câu hỏi trước các sự kiện lịch sử mà ít bộ sử nào đã đặt ra: Tại sao lại chính là miền Nam “đi trước về sau” trong kháng chiến? Tại sao người miền Nam có thể tin tưởng chính quyền cách mạng và bước vào cuộc kháng chiến chỉ sau vỏn vẹn 28 ngày ngắn ngủi (từ 25-8 đến 23-9-1945)? Cái gì đã là động lực cho sức mạnh ấy?…

Các nhà biên soạn sách đã tìm câu trả lời từ quá khứ để khẳng định vị trí của miền Nam trong lòng dân tộc, lần lại sự hình thành cá tính của người miền Nam trong quá trình di dân mở cõi, tìm lại những gốc nguồn từ nền văn minh sông Hồng và sự pha trộn, giao hòa giữa các dân tộc. Bộ sách khẳng định người miền Nam luôn mang “tư cách của lực lượng xung kích, khai phá miền đất mới, luôn mang trong tâm khảm cội nguồn Việt Nam, xả thân vì trách nhiệm với đất nước, với xã hội do được trang bị thủy chung hai tài sản lớn: tinh thần dân tộc kiên cường và đòi hỏi thiêng liêng giang sơn chung một mối”.

Tính cách ấy của người miền Nam cũng thể hiện rõ trong cách các nhà biên soạn viết sử, được khẳng định ngay ở Lời mở đầu: “Không ít sự kiện đã đi vào văn kiện chính thức với đánh giá cụ thể, song như vậy không có nghĩa là người sau phải chấp nhận như không còn gì để bàn cãi. Nếu công trình có chỗ nào không hoàn toàn thống nhất với các đánh giá, kết luận trước đây thì cũng là bình thường, là cố gắng lao động của các thế hệ viết sử. Viết sử là để “ôn cố”, không chỉ đơn thuần vẽ lại quá khứ mà tự thân đã nhằm “tri tân”, nhắc cũ để tìm và hiểu cái mới”.

PHẠM VŨ – TIẾN HÙNG

__________________________

Lịch sử Nam bộ kháng chiến không chỉ cần tư liệu, cần cái nhìn thấu đáo mà còn cần cả sự dũng cảm của người viết sử”. Đó là tâm sự của những người biên soạn.

Kỳ tới: Tôn trọng sự thật

tuoitre.vn

Advertisements

Nam bộ những ngày hào hùng – Kỳ 2

Tôn trọng sự thật

TT – “Lịch sử Nam bộ kháng chiến không chỉ cần sử liệu, cần cái nhìn thấu đáo mà còn cần cả sự dũng cảm của người viết sử”, ông Tô Bửu Giám khẳng định.

Ông Nguyễn Trọng Xuất: “Chúng tôi đã tranh luận thẳng thắn trên tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử!”

Đánh giá giải pháp Genève

Giải pháp Genève chưa phản ánh đầy đủ thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường, chưa đáp ứng được các yêu cầu chính trị của giải pháp do đoàn Việt Nam đề ra, chưa phản ánh đúng thắng lợi cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Tuy vậy, hiệp định này đã chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương, đẩy được quân Pháp ra khỏi Việt Nam, phá được âm mưu kéo dài chiến tranh của Mỹ, nâng cao được vị trí Việt Nam trên trường quốc tế, giải phóng được miền Bắc, giúp miền Bắc có điều kiện hòa bình để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước sau này

Nguồn: Lịch sử Nam bộ kháng chiến

Đối diện sự kiện

Ông Nguyễn Trọng Xuất, tổng thư ký ban biên soạn, kể có những văn bản mà các ông phải tiếp cận bằng thư tay của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt. Lại có những con số phải đi tìm từ nhiều nguồn mà đến khi công bố đã làm ngỡ ngàng cả những người từng trực tiếp tham gia sự kiện. “Từ khi bắt tay vào đến lúc hoàn tất, chúng tôi thấy mình như thành một người khác, thấy mình trưởng thành hơn”.

Đó là cách mà một người già nói về lịch sử. Ông hình dung tương phản hơn: những ông già ngồi viết lịch sử đối diện với tuổi trẻ mình và tuổi trẻ của chính những nhân vật tham gia làm nên lịch sử. Ở đó, người ta dần ngộ ra thêm những điều mà trước đây cứ tưởng mình đã biết hết. Lịch sử đã tươi rói lên trong những sự kiện đầy tính khám phá và chiêm nghiệm.

Mỗi tuần ban biên soạn họp một lần tại văn phòng của chủ biên Trần Bạch Đằng. Những cuộc họp ấy sôi nổi, hào hứng và đôi khi gay gắt xoay quanh những góc nhìn, những quan điểm về một sự kiện lịch sử. “Tranh cãi dữ lắm”, ông Tô Bửu Giám nói ngắn gọn. Và đôi khi cuộc tranh cãi chỉ xoay quanh một từ ngữ, một con chữ.

Để diễn tả về sự tổn thất của lực lượng cách mạng và tính chất của phong trào miền Nam sau những đợt đàn áp đẫm máu của chính quyền Ngô Đình Diệm giai đoạn 1956-1959, dùng chữ “thoái trào” hay “đen tối”, hay “tình thế hiểm nghèo của cách mạng” các ông đã cân nhắc, đắn đo, tranh luận qua nhiều ngày.

“Chiến tranh qua đi, là những người trong cuộc đôi khi chúng tôi cứ ngỡ mình đã biết hết, hiểu hết, từng vùng miền đều đã có biên soạn, ghi chép sử riêng, cứ ngỡ đã sáng rõ hết. Nên khi được gọi đến giao việc tham gia ban biên soạn bộ sách này, đa số chúng tôi đều chưa hình dung công việc sẽ là gì, như thế nào. Rồi làm mới vỡ lẽ ra còn quá nhiều điều mình chưa biết, chưa hiểu, chưa thấu. Quá trình tìm hiểu lại các sự kiện với cái nhìn toàn cục của hôm nay khiến tôi thấy mình lớn hẳn lên”, ông Xuất trầm giọng kể.

Và một trong những câu chuyện mà ông tâm đắc, khiến ông thấy mình “lớn lên” nhiều nhất là cuộc tranh luận xoay quanh Hiệp định Genève. Có ý kiến cho rằng cứ “đánh rốc tới” thì không cần phải ký hiệp định Genève, không cần phải chuyển quân… Tuy nhiên, những người viết sử đã chứng minh cho luận điểm của mình bằng những con số về thực lực quân đội Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên, tình hình sản xuất, kinh tế miền Bắc năm 1954, những quan điểm đan xen của tình hình quốc tế.

Và cuối cùng, “toàn thể ban biên soạn và chỉ đạo cùng thống nhất rằng Điện Biên Phủ là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến việc ký kết Hiệp định Genève, một thắng lợi chiến lược của cách mạng Việt Nam. Quốc tế đã phải công nhận “độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” của Việt Nam. Đó mới chính là mục đích lớn mà Cụ Hồ đeo đuổi. Còn vĩ tuyến 16 hay 17, thời hạn hiệp thương để tiến tới tổng tuyển cử sáu tháng hay hai năm chỉ là những vấn đề chiến thuật. Vĩ tuyến 17 là ở trên bản đồ, còn ý thức thống nhất thì đã ở trong lòng dân” – ông Xuất bồi hồi nói vậy.

“Tôn trọng sự thật lịch sử, không tô hồng, không bôi đen”, lời khẳng định chắc nịch của ban biên soạn đã được chứng minh qua những dòng sử được viết từ chính tuổi trẻ tươi hồng và nỗi đau đằm sâu của bao người. Như lời cố thủ tướng Võ Văn Kiệt viết trong lời mở đầu: “Ngay với một kết quả thật đạt, người viết sử vẫn phải trăn trở: đi đến kết quả rất đẹp mà có thể bớt hi sinh không, bớt gian khổ không, có thể nhanh hơn không và nhất là ít tạo hệ lụy trả giá lâu dài không?”.

Sử Nam bộ và người Nam bộ

“Chúng tôi không ngần ngại công bố những sai lầm, thất bại, tổn thất để người đi sau hiểu rằng để có thống nhất, hòa bình ngày hôm nay chúng ta đã phải trả giá thế nào. Biết là để gìn giữ”, ông Xuất nói. Không chỉ soi vào những trận đánh, Lịch sử Nam bộ kháng chiến còn dành những phần lớn phân tích về các chính sách ruộng đất, kinh tế, các hoạt động văn hóa, tuyên truyền. Vẫn cái nhìn thẳng, rõ, vẫn những phân tích sâu sắc, những câu chuyện của hôm qua vẫn như sống động đến hôm nay.

Với cái nhìn phóng khoáng mà quyết liệt ấy, ban biên soạn đã mang đến một bộ sử rất khác. Ông Xuất tâm sự: ”Viết sử và được lớn lên với những trang lịch sử là niềm hạnh phúc cho mình. Nhưng, như Chủ tịch hội đồng chỉ đạo Võ Văn Kiệt đã viết trong lời nói đầu: “Hiện thực cuộc kháng chiến của nhân dân luôn cao hơn khả năng có hạn của hội đồng chỉ đạo biên soạn” nên chúng tôi thường nói với nhau: Phải chân thành lắng nghe những bổ sung phản biện của mọi người, giúp tu chỉnh bộ sử ngày càng tốt hơn…”.

Rồi vị tổng thư ký ban biên soạn ngậm ngùi: “Cả hai ông Võ Văn Kiệt và Trần Bạch Đằng đều đã không được thấy công trình hoàn thành, may mà chúng tôi đã đáp được phần nào mong đợi của hai ông”, tất cả thành viên ban biên soạn đều có chung một ý này. Ai cũng bảo “giá như… thì bộ sử hẳn sẽ còn hay hơn nữa” dù rằng ai cũng đã dốc cạn sức mình.

Với thái độ nghiêm cẩn và cháy lửa ấy, ban biên soạn đã để lại những lời kết luận sau giai đoạn Nam bộ kháng chiến như là viết cho ngày hôm nay: “Cái vốn mà Nam bộ để lại cho hành trình tiếp sau của miền Nam Việt Nam thật đồ sộ: sự sáng tạo và nhạy bén ứng xử với các tình huống, phát huy trí tuệ của cả cộng đồng, thực hiện dân chủ có hệ thống từ trong Đảng đến ngoài xã hội, tinh thần dám nghĩ dám làm, chống lại chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh viện, tận dụng phát huy khả năng của con người, tìm chỗ đồng nhất trong cộng đồng thay vì khoét sâu mặt khác biệt”.

Tinh thần ấy được chứng minh bằng những câu chuyện ngồn ngộn trong bộ sử.

PHẠM VŨ

—————————————

Trong chiến tranh, để khắc phục sai lầm, những người đảng viên cộng sản đã chủ động tìm kiếm một con đường đi đúng: Con đường từ trong nhân dân và thực tiễn. Đó là hoàn cảnh ra đời của nghị quyết 15, khắc phục sai lầm, chuyển hướng chiến lược cho cuộc kháng chiến ở miền Nam.

Kỳ tới: Chuyển hướng chiến lược

tuoitre.vn

Nam bộ những ngày hào hùng – Kỳ 3

Chuyển hướng chiến lược

TT – Tuổi Trẻ lược trích một số nội dung phân tích và đánh giá mới trong bộ sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến.

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng (họp từ 25-8-1956 đến 5-10-1956, họp làm hai đợt) vẫn khẳng định đấu tranh thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình. “Phương châm vẫn là giữ gìn và tích trữ lực lượng, đấu tranh bền bỉ và lâu dài, chống phiêu lưu mạo hiểm, đồng thời chống thủ tiêu đấu tranh”. Trong thực tế, Đảng bộ Nam bộ không nhận được chỉ đạo nào của Trung ương cho phép vũ trang tự vệ.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt (đứng) chủ trì cuộc họp thường kỳ của ban thường trực Hội đồng chỉ đạo biên soạn sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến – Ảnh tư liệu

…Năm 1957, trong điện mật gửi Xứ ủy Nam bộ, Ban Bí thư Trung ương Đảng còn phê phán nặng nề: (các nơi) còn thể hiện tư tưởng lệch lạc cần được uốn nắn; (phải) làm cho các cấp thật thông suốt và khẳng định đường lối hòa bình đấu tranh thống nhất đất nước. Không thể do chủ quan nôn nóng rồi mơ tưởng hình thức đấu tranh vũ trang là rất nguy hiểm vì sẽ tạo điều kiện cho đế quốc Mỹ xen vào gây chiến tranh trên đất nước ta…

… “Vấn đề vũ trang tuyên truyền, (Xứ ủy) cần theo dõi chỉ đạo cho đúng mức. Trước tình hình đấu tranh giành chính quyền gay gắt với địch, đề phòng các địa phương dễ bị kích thích rồi phát triển và hoạt động bừa bãi…”.

Tự cứu mình

Bản “Đề cương cách mạng miền Nam” được Bí thư Xứ ủy Nam bộ Lê Duẩn chuẩn bị trong nhiều năm, nhất là vào cuối năm 1955 ở Cà Mau và ở Bến Tre và hoàn thành năm 1956 ở Sài Gòn. Bản Đề cương cách mạng miền Nam khẳng định: Để chống lại Mỹ – Diệm nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác. Và đề ra “Phương pháp đấu tranh thích hợp”: có thể có nhiều hình thức đánh đổ một chính quyền phản động, mà sự sụp đổ của nó cũng phải trải qua nhiều giai đoạn, tùy theo tình hình cụ thể… Cũng có thể những cuộc nổi dậy của một bộ phận chính quyền với nhân dân để đánh đổ chính quyền ấy…

Đề cương cách mạng miền Nam được gửi ra Trung ương và được thông qua tại Hội nghị Xứ ủy Nam bộ họp tại Phnom Penh (Campuchia) cuối năm 1956 – đầu năm 1957. Bản đề án Vũ trang tuyên truyền cũng được đưa ra tại hội nghị nhưng không biểu quyết, Xứ ủy đã triển khai đợt học tập Đề cương cách mạng miền Nam trên toàn Nam bộ một cách nghiêm túc như một đợt chỉnh huấn, nên tư tưởng đề cương ngấm sâu vào tư tưởng cán bộ, đảng viên từ xứ ủy đến tận cơ sở, trở thành “cẩm nang” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (trước khi có nghị quyết 15).

Trong thời gian từ giữa năm 1956 đến cuối năm 1958, Xứ ủy đã hai lần chính thức đề nghị Trung ương xem xét lại đường lối chỉ đạo cách mạng miền Nam. Cụ thể như sau: Lần thứ nhất, gửi Đề cương cách mạng miền Nam ra Trung ương vào tháng 8-1956 đã “soi sáng và giải quyết nhiều vấn đề cơ bản như mục đích và đối tượng cách mạng miền Nam, tính chất của cuộc đấu tranh ấy” nhưng “chưa giải quyết thỏa đáng về hình thức và khả năng phát triển của phong trào cách mạng miền Nam”. Đề cương này không được Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương chấp thuận.

Lần thứ hai là chuyến đi vào tháng 5-1957 của hai ông Phan Văn Đáng (Hai Văn), với tư cách ủy viên thường vụ Xứ ủy và ông Phạm Văn Xô, xứ ủy viên, ra Bắc theo lệnh của Thường vụ Xứ ủy để báo cáo cụ thể tình hình và xin ý kiến về chuyển phương hướng đấu tranh.

Tháng 8-1957, hai ông đến Hà Nội và “luôn đề nghị ông Lê Duẩn triệu tập hội nghị trung ương bàn về cách mạng miền Nam và xin phép được trở về địa phương hoạt động”. Ông Lê Duẩn trả lời: “Lúc này chưa họp được vì còn nhiều ý kiến chưa thống nhất. Dự thảo nghị quyết chưa chuẩn bị xong”. Vì vậy các ông phải chờ đợi hơn một năm sau mới dự họp Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (đợt 1 tháng 1-1959) để bàn về cách mạng miền Nam.

Chỉ trong bốn năm từ 1955-1958, cả miền Nam tổn thất 9 phần 10 số cán bộ đảng viên. Ở Nam bộ khoảng 7 vạn cán bộ đảng viên bị địch giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt, bị tù đày, gần 20 vạn bị tra tấn thành thương tật, chỉ còn khoảng 5 ngàn so với 60 ngàn đảng viên trước đó. Gia Định, Biên Hòa, mỗi tỉnh chỉ còn một chi bộ. Bến Tre còn 162 đảng viên, Mỹ Tho còn 92 đảng viên. Kiến Tường còn 3 đảng viên, khu Sài Gòn – Chợ Lớn còn khoảng 200 đảng viên. Tỉnh ủy Gia Định không còn một tỉnh ủy viên nào, Khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn chỉ còn 2 khu ủy viên.

(Trích chương 2.
Tình trạng hiểm nghèo của cách mạng miền Nam)

Lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 9-1959, sau hai năm ở miền Bắc chờ xin ý kiến Trung ương về đường lối cách mạng miền Nam, hai thành viên Xứ ủy Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô đã về tới Nam bộ, báo cáo nội dung cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi về Nam như sau: “Chủ tịch đã hỏi hai thành viên Xứ ủy: “Trung ương lập ra Xứ ủy… để làm gì? Xứ ủy phải chịu trách nhiệm với ai?”.

Sau khi nghe hai vị trả lời và thổ lộ hết những nỗi uất ức của đảng bộ và nhân dân Nam bộ, Hồ Chủ tịch nói: “Nếu nói Xứ ủy chỉ chịu trách nhiệm với Trung ương thôi là chưa đủ. Trung ương ở xa, giao trách nhiệm cho Xứ ủy. Vậy thì Xứ ủy còn phải chịu trách nhiệm với nhân dân miền Nam nữa. Bất kỳ tình hình như thế nào cũng không được để địch tàn sát dân, tiêu diệt cơ sở cách mạng. Có Xứ ủy mà dân cứ bị tàn sát thì có Xứ ủy để làm gì?…”. Khi các ông ra về, Hồ Chủ tịch còn dặn: “… Mấy chú về báo với Xứ ủy là Bác phê bình Xứ ủy thiếu sáng tạo, chỉ biết phục tùng cấp trên”.

Được sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời dặn dò hai xứ ủy viên Phan Văn Đáng, Phạm Văn Xô khi các vị trở về Nam, lúc nghị quyết trung ương 15 chưa thành văn bản vì còn ý kiến khác nhau trong Ban chấp hành Trung ương, Xứ ủy Nam bộ đã nhạy bén tiếp thu tư tưởng chỉ đạo có ý nghĩa chiến lược đó, kịp thời đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với đòi hỏi của quần chúng.

Tại cuộc họp tiếp thu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư Xứ ủy Nguyễn Văn Linh nhận định: “Quần chúng đang bị địch o ép, bị dồn đến chân tường mà mình không có chủ trương, không đề ra được một hình thức đấu tranh nào khác thì không thể được. Nếu ta phát động đấu tranh vũ trang thì nhất định quần chúng đứng về phía ta thôi…”.

Sau này năm 1960, Xứ ủy đã có ý kiến phân tích, đánh giá về những sai lầm trong chỉ đạo cách mạng miền Nam thời gian 1956-1958: “Khẩu hiệu đòi thi hành Hiệp định Genève rất cần thiết đưa ra nhưng phải xem đó là một khẩu hiệu chiến thuật chứ quyết không thể xem thi hành Hiệp định Genève là một khả năng thực tế… Như vậy là lấy một chiến thuật thay cho đường lối chiến lược, lấy một sách lược cải lương thay cho đường lối cách mạng…”.

Hai mươi năm sau ngày kháng chiến kết thúc thắng lợi (tháng 4-1995), Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị nhận định: …”Trong một thời gian khá dài, từ năm 1955-1958, khi cả miền Nam tràn ngập trong nước sôi lửa bỏng, Đảng ta đã chậm tìm ra phương pháp đấu tranh chuyển thế, để địch thẳng tay khủng bố, tàn sát, gây tổn thất không kể xiết cho nhân dân miền Nam, đưa cách mạng lâm vào tình trạng rất hiểm nghèo”.

(*) Tít chính và tít nhỏ trong bài do tòa soạn đặt.

_________________________

Kỳ tới: Sài Gòn những ngày cuối

tuoitre.vn

Nam bộ những ngày hào hùng – Kỳ 4

Sài Gòn và những ngày cuối

TT – Càng về cuối cuộc chiến tranh càng có nhiều người Mỹ tiến bộ, trong đó có nhiều nhân vật cấp cao trong phái đoàn hai viện hai đảng Mỹ đến Sài Gòn đầu năm 1975, đã đóng góp vào cuộc đấu tranh chấm dứt cưu mang một chế độ mà Mỹ dựng lên và nuôi dưỡng bao nhiêu năm, góp phần vào việc kết thúc sớm cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Ni sư tịnh xá Ngọc Phương biểu tình chống chính quyền Sài Gòn năm 1973 – Ảnh từ sách

Đối với chính quyền, quân đội Sài Gòn, dù vẫn hi vọng Mỹ sẽ trở lại vào giờ phút quyết định, ít ra cũng bằng can thiệp của không quân, hải quân… nhưng tâm lý hoang mang thất bại ngày càng lan rộng.

Thiệu “bị tước vũ khí”

Sự sa sút về tinh thần của quân đội Sài Gòn phát triển song song với trình độ rối ren về chính trị – xã hội ở miền Nam, dẫn đến sự cô lập cao độ của tập đoàn quân phiệt hiếu chiến ở Sài Gòn. Trong chính giới Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu trở thành nguyên nhân những thảm bại của chế độ.

Ngày 25-1-1975, 18 đoàn thể thuộc nhiều khuynh hướng chính trị cùng ký chung một bản kiến nghị đòi Mỹ chấm dứt viện trợ cho Nguyễn Văn Thiệu, đòi Thiệu từ chức. Một tuần sau, ngày 1-2-1975, 23 tổ chức tiến bộ công bố chung một cáo trạng tố cáo “Thiệu là sản phẩm của chiến tranh, còn Thiệu là còn chiến tranh, Thiệu bán đứng Tổ quốc cho Mỹ”…

Ngày 4-2-1975, giới ký giả tổ chức mittinh mừng xuân Ất Mão tại rạp hát Khải Hoàn. Đêm trước đó, mặc dù bị cảnh sát, mật vụ đồng loạt khám xét nhà, bắt giữ một số ký giả và đóng cửa một loạt tờ báo đối lập, nhưng cuộc mittinh vẫn được tiến hành. Lễ đài mừng xuân trở thành diễn đàn tố cáo chế độ phát xít độc tài của Nguyễn Văn Thiệu, lên án việc khủng bố, bắt ký giả, sinh viên và đóng cửa các báo.

Để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy tại Sài Gòn, Thành ủy quyết định lấy ngày 15-2-1975 tiến hành một cuộc diễn tập toàn thành (với khẩu hiệu ban đầu là đòi thả 18 ký giả bị bắt), có sức thu hút những nhân vật chống Nguyễn Văn Thiệu gồm các giới hòa nhập với phong trào quần chúng cách mạng.

Sáng 15-2, khi các cuộc biểu tình nổ ra, chợ Cầu Muối tràn ngập truyền đơn, chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp bố trí cảnh sát dã chiến để đàn áp. Ở chợ Cầu Muối, cảnh sát chìm, cảnh sát nổi của quận 2 phải giật mía của những người ngồi bán ở chợ để đánh nhau với những người biểu tình.

Một dân biểu đối lập nhận xét: “Nguyễn Văn Thiệu được trang bị tận răng mà nay phải dùng mía để đánh nhau với dân chúng, coi như nó đã bị tước hết vũ khí”…

… Tiêu tan hi vọng cuối

Cuối tháng 3-1975, chi nhánh tình báo CIA ở Sài Gòn báo cáo về Washington: Tình hình chiến tranh VN đã hoàn toàn đảo ngược trong một tuần lễ. Một thảm bại quân sự là chắc chắn. Chính giới Mỹ đau lòng công nhận sự thật hiển nhiên này. Từ đây nảy sinh một cuộc tranh cãi mới về việc Mỹ có cần can thiệp trở lại không, giống như khi mất Phước Long, nhưng có tính thúc bách hơn và đòi hỏi rõ ràng, dứt khoát hơn vì là giới hạn cuối cùng.

Nhiều ý kiến cho rằng đã đến lúc thắng bại không cần bàn mà vấn đề ở chỗ “uy tín” của Hoa Kỳ với đồng minh. Ngoại trưởng Kissinger, người đã “bỏ qua sự kiện Phước Long” đến lúc này tỏ ra dứt khoát: “Hoa Kỳ không thể có một chính sách không nhất quán. Chúng ta không thể bỏ những người bạn của chúng ta ở vùng này của thế giới mà không làm cho nền an ninh của những người bạn ở vùng khác bị uy hiếp”. Kissinger cố đòi không được giảm viện trợ tài chính cho Việt Nam cộng hòa.

Nhưng đối thủ cứng đầu của Kissinger lại là bộ trưởng quốc phòng Schlesinger, người đã bí mật cho báo chí biết Mỹ mới vừa cấp cho Sài Gòn 700 triệu đôla, số tiền đó hoặc chưa đụng đến hoặc đã “tiêu” hết rồi.

Thời gian này, từ ngày 13-3-1975 đến ngày 6-4-1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử hẳn một phái đoàn gồm nhiều dân biểu quốc hội Sài Gòn trực tiếp qua Mỹ để vận động tăng viện trợ hầu cứu nguy cho chế độ Sài Gòn. Trong phái đoàn có chủ tịch ủy ban quốc phòng hạ viện Đinh Văn Đệ (một cơ sở tình báo miền). Đinh Văn Đệ đã tìm cách mô tả tình hình nguy ngập của chế độ Sài Gòn cho các nghị sĩ Mỹ, với dụng ý “dù có đem cả núi tiền qua tiếp viện” cũng vô phương cứu chữa. Từ bản tường trình của Đinh Văn Đệ, Quốc hội Mỹ càng xác định thái độ chống duyệt chi thêm viện trợ cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Đến lúc này ở Bộ Quốc phòng Mỹ, từ bộ trưởng Schlesinger đến thứ trưởng về an ninh quốc tế, các chuyên gia châu Á đều nghĩ theo hướng xấu, cho rằng chế độ Sài Gòn không còn cách nào lật ngược thế cờ. Nhà Trắng né tránh những bình luận, tranh cãi công khai về Đông Dương, nhưng xu hướng rời bỏ VN là khó đảo ngược, dù Chính phủ Mỹ vẫn hi vọng vào khả năng quân đội Sài Gòn có thể cầm cự một thời gian để chờ một giải pháp chính trị, tránh phải đầu hàng…

……

Tổng thống Ford vào thời điểm này đang có yêu cầu chiến lược tranh cử tổng thống theo tinh thần: chấm dứt chiến tranh và xoa dịu dư luận trước cuộc bầu cử năm 1976. Nếu kéo dài chiến tranh, trách nhiệm sẽ đổ lên đầu Ford, biến nó thành cuộc chiến tranh của Ford chứ không phải của Nixon.

Nhưng yêu cầu đó lại đứng trước mâu thuẫn: nếu bỏ rơi chế độ Sài Gòn thì làm mất lòng tin của “thế giới tự do” đối với Hoa Kỳ. Cho nên Ford yêu cầu quốc hội viện trợ 722 triệu đôla và chọn ngày 19-4 làm thời hạn cuối cho quốc hội giải quyết. Nếu được như vậy thì có thể giúp VN đẩy lùi cuộc tiến công vũ bão của đối phương, cân bằng tình hình quân sự và cho phép một cơ hội giải quyết vấn đề Nam Bắc VN bằng đàm phán chính trị; còn nếu như tình huống xấu xảy ra, ít nhất cũng cho phép rút lui trật tự 6.000 người Mỹ và đưa nhiều người VN ở nơi nguy hiểm đến chốn an toàn…

Thực chất yêu cầu của Ford nhằm vào một mục đích khác: sự thành bại của việc này không quan trọng. Nếu quốc hội bác đề nghị này thì gánh nặng trách nhiệm về thất bại ở VN cũng như uy tín của nước Mỹ trên vai chính phủ sẽ chuyển sang quốc hội.

Đánh giá về đối phương, cuộc họp giữa Nguyễn Văn Thiệu và các tư lệnh quân đoàn ngày 9 và 10-2-1975 thừa nhận sự phát triển của thế và lực Quân giải phóng, nhưng vẫn giữ những nhận định trong hội nghị tháng 10-1974, cho rằng sắp tới “nhiều khả năng cộng sản sẽ duy trì cuộc chiến với cường độ tiệm tiến, có thể phát triển mở rộng chiến dịch xuân-hè vào tháng 3-1975, cao điểm sẽ nhằm vào tháng 5, tháng 6-1975 với mục tiêu đánh phá bình định, giành dân; cường độ mạnh mẽ hơn năm 1973-1974 nhưng chưa lớn hơn những năm 1968, 1972. Nếu có hoạt động quy mô lớn của đối phương “cũng phải chờ đến cuối 1975 đầu 1976 mới có điều kiện, và lúc đó hướng chủ yếu của họ là miền Đông Nam phần và trọng điểm là vùng Tây Ninh”.

Trích sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến

__________

(*) Tít chính và tít nhỏ trong bài do tòa soạn đặt.

Kỳ tới: Phương án Dương Văn Minh

tuoitre.vn

Nam bộ những ngày hào hùng – Kỳ 5

Phương án Dương Văn Minh

TT – Kissinger, một trong những người tích cực trong việc vận động “không được bỏ rơi Sài Gòn” hoặc ít nhất cũng phải tạo “một khoảng cách nhất định” để không bị mang tiếng bỏ rơi đồng minh, đã phải “hạ giọng”: “Sự phát triển về chính trị ở miền Nam phụ thuộc vào bản thân người Việt Nam, Mỹ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ một giải pháp nào do họ thông qua”.

Quân giải phóng cắm cờ tại bộ tư lệnh Sài Gòn ở thị xã Phước Long (năm 1975) – Ảnh từ sách

Lá bài cuối

Vào những ngày cuối tháng 4-1975, thời điểm “đêm trước” chiến dịch Hồ Chí Minh, trận quyết chiến chiến lược là thần tốc, tiến công kiên quyết, dứt khoát, giải quyết triệt để chế độ do Mỹ dựng lên đã tồn tại hơn 20 năm, không được phép ngập ngừng, không còn chỗ dừng lại để gọi là thương lượng.

Nhiệm vụ của các lực lượng tại chỗ lúc này là góp sức tạo mọi điều kiện thuận lợi về chính trị, quân sự nhằm tránh, giảm thương vong trong lực lượng vũ trang cũng như trong dân thường, ngăn chặn mọi hoạt động của đối phương phá hoại vật chất, gieo rắc hoang mang trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến.

Tình thế đặt ra yêu cầu cụ thể là phải gạt bỏ “chính phủ Thiệu không có Thiệu” đang ngoan cố hô hào “tử thủ”, lập ra một chính phủ chấp nhận không chống cự, hòa giải, hòa hợp dân tộc… Định hướng này đã được Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố trước đó, đến giờ phút này trở thành mục tiêu vận động trước mắt của cách mạng và các nhóm, cá nhân yêu nước.

Các cán bộ tình báo, binh vận, trí vận của Mặt trận Dân tộc giải phóng qua bao năm tháng mai phục trong lòng “thủ đô” chế độ Sài Gòn đã tạo được sự gần gũi ở nhiều mức độ khác nhau trong giới nhân sĩ, trí thức, lực lượng thứ ba, dân biểu đối lập (với chính quyền Sài Gòn…) và cả nhiều sĩ quan Sài Gòn.

Họ khác nhau về xu hướng chính trị, nhưng có cùng một chí hướng hòa bình độc lập, đòi chấm dứt chiến tranh, Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Trong giờ phút quyết định này, một đối tượng được nhắm chọn đứng ra lập chính phủ cho chế độ Sài Gòn là tướng Dương Văn Minh.

Trong thành phần cao cấp chính quyền Sài Gòn có tổng trưởng quốc phòng Trần Văn Đôn chấp nhận “phương án Dương Văn Minh”; xu hướng này lôi kéo được tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, có sự đồng tình của phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo…

Đại sứ Pháp Mérillon nghĩ rằng Paris có thể nhân cơ hội này đóng vai trò trung gian với Hà Nội, nếu được tướng Dương Văn Minh nhận làm tổng thống; lập ra một “chính phủ ba thành phần” và Pháp có thể “chi phối” được.

Chính quyền Mỹ vẫn còn nuôi ảo tưởng sử dụng “giải pháp thương lượng” để duy trì ảnh hưởng của Mỹ. Tòa đại sứ Mỹ và CIA lúc này chỉ còn hi vọng ở “con bài” Dương Văn Minh.

Bản tuyên cáo in ronéo

Các cán bộ tình báo, điệp báo, binh vận, trí vận như kỹ sư Tô Văn Cang, thẩm phán Triệu Quốc Mạnh, nhà báo Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt), Nguyễn Văn Cước…, những người gần gũi cách mạng hoặc cơ sở của Ban Mặt trận – trí vận Thành ủy Sài Gòn – Gia Định (T4) như luật sư Trần Ngọc Liễng, chuẩn tướng Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh (cơ sở binh vận), cùng với nhiều nhân vật như giáo sư Lý Chánh Trung, nữ luật sư Ngô Bá Thành, nguyên phó chủ tịch hạ viện Sài Gòn Hồ Văn Minh (cố vấn của Dương Văn Minh) những dân biểu đối lập… đều nhất trí ủng hộ phương án Dương Văn Minh nhận làm tổng thống để chấm dứt chiến tranh.

Vào đầu tháng 4-1975, tại nhà riêng của Dương Văn Minh diễn ra cuộc họp của nhóm những người gần gũi nhiều năm, bàn việc Dương Văn Minh lên thay Nguyễn Văn Thiệu nhằm thực hiện một trong nhiều phương án (hoặc thương lượng, hoặc bàn giao, hoặc đầu hàng…), góp phần kết thúc chiến tranh, hạn chế, ngăn chặn đổ máu, tàn phá. Vốn có sẵn tâm tư và nguyện vọng trên, Dương Văn Minh chấp nhận ý kiến đề xuất của nhóm thân hữu này.

Văn phòng báo chí cạnh tướng Dương Văn Minh đã phát đi “tuyên cáo” in ronéo của đại tướng Dương Văn Minh chống “chính phủ Thiệu không có Thiệu” (bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp). Bản tuyên cáo được gửi đến nhiều hãng thông tấn, báo chí trong nước và nước ngoài, được đông đảo nhân dân Sài Gòn hưởng ứng và gây xôn xao dư luận ở ngoài nước, tạo thanh thế cho đại tướng Dương Văn Minh. Nội dung tuyên cáo yêu cầu loại trừ “chính phủ Thiệu không có Thiệu” cũng được Đài phát thanh Hà Nội, Đài phát thanh Giải phóng lên tiếng tán thành.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, từng làm việc nhiều năm với tướng Dương Văn Minh, cho biết có ba lý do để Dương Văn Minh nhận làm tổng thống: chống chính phủ chiến tranh của Nguyễn Văn Thiệu; chống chính phủ “tử thủ” của Trần Văn Hương; muốn hòa hợp, hòa giải dân tộc.

Đại tá Mỹ Dave Richard Palmer, một người đã tham gia chiến tranh Việt Nam, nhận xét về tình hình lúc đó: “Một liên minh đảng phái muốn cứu vãn tình hình và chống đỡ phần nào sự sụp đổ đã đưa tướng Dương Văn Minh – từ lâu đã rút khỏi chính trường – trở lại để cố dàn xếp một cuộc đầu hàng thông qua thương lượng”.

Trần Văn Hương định lợi dụng phiên họp “lưỡng viện” của quốc hội Sài Gòn ở trụ sở thượng viện ngày 26-4-1975 để yêu cầu quốc hội “cho ông ta quyền chỉ định một chính phủ đứng ra thương thuyết (tức không giao chức cho tổng thống Dương Văn Minh) hoặc đánh đến cùng, “dẫu Sài Gòn có biến thành biển máu…”. Nhưng mọi việc bị đảo ngược. Phái đối lập ủng hộ Dương Văn Minh tán phát 48 bản tuyên cáo chống Trần Văn Hương và cướp diễn đàn. Giới thông tấn báo chí tung ra tin: tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chạy trốn.

Phiên họp biểu quyết Trần Văn Hương phải trao quyền cho đại tướng Dương Văn Minh.

Dương Văn Minh được ta vận động từ năm 1962, ngoài binh vận, các cánh tình báo và trí vận Sài Gòn cũng có người quan hệ. Cục Địch vận – Tổng cục Chính trị đào tạo người em ruột của Dương Văn Minh là ông Dương Thanh Nhựt (Mười Ty).

Ông Nhựt được Thường vụ Trung ương Cục, trực tiếp là Bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh và Thường vụ Trung ương Cục Trần Nam Trung (bí danh Hai Hậu, Năm Nga) chỉ đạo tiếp cận Dương Văn Minh nhiều lần ở Sài Gòn và ở nước ngoài. Lúc đó Dương Văn Minh tỏ ra có cảm tình với cách mạng (tuy chưa hoàn toàn nhất trí với ta). Thời kỳ chuẩn bị đảo chính Diệm – Nhu ngày 1-11-1963, Dương Văn Minh đã nói với ông Nhựt nếu không thành công thì hoặc là tạm lánh ra nước ngoài, hoặc chạy ra vùng giải phóng.

Sau đảo chính Diệm – Nhu, khi nắm quyền quốc trưởng, Dương Văn Minh ngỏ ý muốn thương lượng theo lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc giải phóng để đi đến tuyển cử tự do, thành lập một chính phủ trung lập ở miền Nam Việt Nam. Vì vậy, Dương Văn Minh đã bị Mỹ gạt bỏ. Trước tình hình đó, Trung ương Cục nhận định Dương Văn Minh đối với Mỹ vẫn là “con bài cuối cùng” mà Mỹ sẽ phải cần đến, chỉ đạo tiếp tục giữ mối liên lạc vận động Dương Văn Minh.

Trích sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến

(*) Tít chính và tít nhỏ trong bài do tòa soạn đặt

Kỳ tới: Ván bài hòa bình

tuoitre.vn

Nam bộ những ngày hào hùng – Kỳ 6

Giải pháp hòa bình

TT – Ngày 26-4-1975, giữa lúc phe Nguyễn Cao Kỳ, phe Trần Văn Đôn mưu đồ được giữ chức tổng thống nhưng không được Pháp và Mỹ ủng hộ, thì Sài Gòn đã nằm trong vòng vây thép của đại quân giải phóng…

Đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn (người ngồi bên phải), đọc lời đầu hàng tại Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30-4-1975 – Ảnh từ sách

17 giờ ngày 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn giai đoạn 1 với mục tiêu chủ yếu là phá vỡ các mắt xích phòng thủ vòng ngoài của quân Sài Gòn, khống chế các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Trà Nóc (Cần Thơ), các trận địa pháo quan trọng, cắt đứt đường số 4 và tất cả hướng thủy bộ ra biển, vây ép Sài Gòn…

“Tôi yêu cầu Mỹ ra đi trong 24 giờ…”

Lúc bấy giờ “ủy ban cứu nguy dân tộc” do tướng Nguyễn Cao Kỳ và linh mục Trần Hữu Thanh cầm đầu đang ráo riết vận động nhưng không được Mỹ ủng hộ, làm “đảo chánh” với một “kế hoạch liều mạng” của tướng Nguyễn Cao Kỳ: “Biến Sài Gòn thành Stalingrad”, phá hủy cầu, cô lập Sài Gòn, có mất Sài Gòn vẫn còn đồng bằng sông Cửu Long…

Ngày 28-4-1975, tổng thống Trần Văn Hương từ chức “theo thủ tục”, lưỡng viện Sài Gòn bầu đại tướng Dương Văn Minh làm tổng thống Việt Nam cộng hòa.

Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng Sài Gòn, bỏ chạy sau khi tuyên bố “quân đội tiếp tục chiến đấu bảo vệ Tổ quốc”. Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn sau khi xin từ chức cũng chuồn thẳng không cần chờ các bước thủ tục. 17g ngày 28-4-1975, “tổng thống tám ngày” Trần Văn Hương thoái vị, trao quyền cho tướng Dương Văn Minh.

Dương Văn Minh đề cử Nguyễn Văn Huyền (Công giáo), nguyên chủ tịch thượng viện, làm phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu (Phật giáo) làm thủ tướng.

Tướng Dương Văn Minh thực hiện việc đầu tiên là đưa Mỹ sớm ra đi bằng cách cho phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền báo tin chính phủ mới không phản đối việc Mỹ phải ra đi trong 24 giờ.

Bài diễn văn nhậm chức của tổng thống Dương Văn Minh (kết thúc lúc 17g50 ngày 28-4-1975) chính thức công nhận trên thực tế Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bằng “đề nghị ngừng bắn ngay và họp hội nghị hòa bình trong khuôn khổ Hiệp định Paris” với tinh thần chấm dứt chiến tranh.

Tổng thống Dương Văn Minh “hứa thành lập một chính phủ dựa trên cơ sở thật rộng rãi, có nhiều nhân vật độc lập, nhất quyết hòa hợp”. Ông nói: “Việc tôi làm trước hết là thả những người bị bắt giam vì lý do chính trị”. Đồng thời Dương Văn Minh cũng nói mấy lời với quân đội: “Các chiến hữu có một nhiệm vụ mới bảo vệ phần lãnh thổ còn lại. Giữ vững tinh thần. Siết chặt hàng ngũ. Quyết hoàn thành nhiệm vụ. Khi có lệnh ngừng bắn, các chiến hữu thực hiện nghiêm chỉnh lệnh theo điều khoản Hiệp định Paris, giữ vững trật tự an ninh những vùng các chiến hữu bảo vệ”.

Theo giáo sư Lý Chánh Trung: “Dương Văn Minh tuy đã có ý định “bàn giao chính quyền cho cách mạng” nhưng để tránh đổ máu, phải cân nhắc nên dùng từ ngữ gì trong thời điểm này để không tạo cớ cho Nguyễn Cao Kỳ, Trần Hữu Thanh kích động quân đội Sài Gòn đảo chính vào giờ phút chót”.

Sau khi nhậm chức, tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh soạn thảo tối hậu thư gửi cho đại sứ Mỹ Martin. Văn thư chính thức mang số 033TT/VT, đề ngày 28-4-1975, gửi cho Martin: “Tôi trân trọng yêu cầu ông đại sứ vui lòng ra chỉ định cho các nhân viên cơ quan tùy viên quân sự DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29-4-1975, để vấn đề hòa bình Việt Nam sớm được giải quyết”. Ký tên: Đại tướng Dương Văn Minh.

Bài diễn văn nhậm chức và những hành động ban đầu của tổng thống Dương Văn Minh đã làm cả tòa đại sứ Mỹ vừa bất ngờ vừa thất vọng vì cho rằng bài diễn văn đã “làm tiêu tan hiệu lực của bộ máy nhà nước”. Cuối cùng là sự bực tức, trước hết từ đại sứ Mỹ Martin: Dương Văn Minh đã nói đúng yêu cầu của cộng sản và lại nói “thả hết tù chính trị”. Trong khi từ trước đến nay Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn tuyên bố miền Nam không có tù chính trị.

Sự thật việc Dương Văn Minh yêu cầu Mỹ ra đi không ngoài dự định của Mỹ, nhưng nó đến quá nhanh, không qua thương lượng dây dưa, lại quy định “trong 24 giờ” là ngoài ý muốn và trở thành sức ép đối với Mỹ.

Lệnh tổng thống: vô hiệu hóa bộ máy

Sau khi thành lập nội các, ngày 29-4 tổng thống Dương Văn Minh triển khai cắt cử các chức vụ quân đội, cảnh sát, triển khai việc thăm dò “thương thuyết” với tinh thần sẵn sàng “chấp nhận” làm theo những “đòi hỏi” của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để chấm dứt chiến tranh sớm nhất.

Khi Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống, tổng tham mưu trưởng Sài Gòn, tướng Cao Văn Viên, đã chạy ra nước ngoài. Tướng Đồng Văn Khuyên là tổng tham mưu trưởng. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (một cơ sở binh vận) từ Cần Thơ được điện mời về Sài Gòn gặp tổng thống Dương Văn Minh vào sáng ngày 29-4-1975 tại nhà riêng ở số 3 Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần), nhận lệnh đến Bộ Tổng tham mưu xem xét tình hình quân sự. Khi Nguyễn Hữu Hạnh chưa tới bộ tổng tham mưu đã được tin trung tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh biệt khu thủ đô, rời bỏ nhiệm sở và bỏ ra nước ngoài. Trung tướng Vĩnh Lộc được mời đến nhà riêng tổng thống Dương Văn Minh và giao giữ chức tổng tham mưu trưởng (lúc đầu Vĩnh Lộc không chịu nhận, song chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh khẩn khoản yêu cầu mới nhận) và thiếu tướng Lâm Văn Phát giữ chức tư lệnh biệt khu thủ đô.

Trung tướng Vĩnh Lộc gọi những người còn lại ở bộ tổng tham mưu đến trình diện và bổ nhiệm một cách vội vã các chức vụ trong bộ tổng tham mưu, trong đó chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh làm phụ tá tổng tham mưu trưởng. Trung tướng Nguyễn Hữu Có đến Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn (tối 29-4) không có chức vụ chính thức, nhưng gắn bó với Nguyễn Hữu Hạnh trong những giờ phút này, có tác động thúc đẩy việc quân đội Sài Gòn không chống cự.

Được trao chức chỉ huy trưởng cảnh sát Sài Gòn – Gia Định, thẩm phán Triệu Quốc Mạnh nhân danh “lệnh tổng thống” thông báo cho thuộc cấp khẩn trương triển khai ngay hai việc lớn là vô hiệu hóa hệ thống cảnh sát và tù chính trị.

Để triển khai việc thứ nhất, Triệu Quốc Mạnh cho giải tán ngay các F (tức là tổ chức cảnh sát đặc biệt chuyên đánh phá, bắt cóc cán bộ, cơ sở cách mạng, những người tham gia chống Mỹ và chính quyền tay sai), các bộ chỉ huy cảnh sát quận và các cuộc cảnh sát (tổ chức cảnh sát ở cơ sở), lệnh cho lực lượng cảnh sát: “Để đảm bảo tính mạng, gia đình anh em cảnh sát, cho phép ai muốn về để lo việc nhà cứ về…”.

Đến chiều 29-4, 16.000 cảnh sát trong thành phố đã bỏ việc. Bộ máy kềm kẹp của chính quyền Sài Gòn ở cơ sở thực tế hầu như tan rã. Lệnh thiết quân luật thực tế chỉ là để giữ trật tự. Tình hình đó tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng tại chỗ nổi dậy giành quyền làm chủ.

Về việc thả tù chính trị, mặc dù Triệu Quốc Mạnh chưa được Dương Văn Minh trực tiếp giao việc này, nhưng trước khả năng tù chính trị bị sát hại hàng loạt vào giờ phút cuối cùng do lệnh từ các phần tử cực đoan (như Lâm Chính Nghĩa, chỉ huy hành quân, đang liên tục hăm he bắn tù chính trị), chỉ huy trưởng cảnh sát Sài Gòn – Gia Định Triệu Quốc Mạnh nhân danh “lệnh tổng thống” để tạo điều kiện thương thuyết theo ý định của tổng thống, lệnh cho thả hết tù chính trị. Lệnh này được triển khai thi hành trong khi một số cai tù còn dây dưa.

Trong ngày 29-4-1975, tổng thống Dương Văn Minh cũng đã bàn đến phương án “thành phố bỏ ngỏ”.

Trích sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến

(*) Tít chính và tít nhỏ trong bài do tòa soạn đặt.

————————————

Kỳ tới: Về lại lòng dân tộc

tuoitre.vn

Nam bộ những ngày hào hùng – Kỳ cuối

Giữa lòng dân tộc

TT – Tính từ lúc đại tướng Dương Văn Minh lên nhậm chức (28-4-1975) cho đến khi đầu hàng (30-4-1975) chưa đầy hai ngày. Dù điều quyết định là áp lực của quân giải phóng lúc bấy giờ vừa mạnh vừa khẩn cấp, nhưng ở đây không thể không tính đến sự tác động của nhiều nhân tố hình thành sau một quá trình vận động lâu dài, trong đó nổi lên tinh thần dân tộc đều có ít nhiều trong mỗi con người Việt Nam.

Nội các Dương Văn Minh đầu hàng ngày 30-4-1975 – Ảnh từ sách
Ở lại

Việc đại tướng Dương Văn Minh nhận chấp chính vào thời điểm mà sự cáo chung của chế độ Sài Gòn chỉ còn tính theo ngày giờ là kết quả tác động từ nhóm Dương Văn Minh, có phía cách mạng, có tình nghĩa của người em trung tá Dương Thanh Nhựt và của chính Dương Văn Minh đã nhận thức được tình thế vừa khẩn cấp vừa là cơ hội để chấm dứt chiến tranh. Pháp và Mỹ đều tưởng đưa Dương Văn Minh ra làm tổng thống thì có thể lợi dụng theo ý đồ khác nhau của mỗi bên. Tuy nhiên, Mỹ đã nhận một kết quả trái ngược.

Vấn đề còn lại là chấm dứt như thế nào. Lúc bấy giờ, bên cạnh phương án “liều mạng” như Nguyễn Cao Kỳ, những người trong chính quyền Sài Gòn vẫn còn cơ hội “bỏ chạy” để tránh trước mọi hậu quả về cá nhân chưa biết sẽ ra sao. Trụ lại để “bàn giao”, đó là phương án mà Dương Văn Minh đã chọn để mọi việc sớm kết thúc, tránh được đổ nát và thêm đổ máu.

Từ “bàn giao” được dùng để đối phó với tình hình nội bộ chính quyền Sài Gòn, có tính đến toan tính của Pháp và Mỹ, còn thực chất của vấn đề là chấm dứt chiến tranh theo điều kiện của bên Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, có gọi là “đầu hàng” thì cũng sẵn sàng chấp nhận vì lợi ích của dân tộc thoát khỏi phụ thuộc nước ngoài, hết Pháp đến Mỹ. Thật ra “bàn giao” và “đầu hàng” đều dẫn đến một kết cục chính quyền về tay nhân dân, như tiếp theo Sài Gòn là hàng loạt các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Và Dương Văn Minh đã chấp nhận chuyển từ “bàn giao” sang “đầu hàng” trước yêu cầu của bên cách mạng với niềm tin Tổ quốc độc lập, thống nhất, hòa bình, đoàn kết, hòa hợp hòa giải.

Tuyên bố chấp nhận đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh phát trên đài phát thanh ngày 30-4-1975 là bản viết tay của trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203, được chỉnh sửa vài lần và đã được Dương Văn Minh đọc để ghi vào băng: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chánh quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chánh quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn”.

Vũ Văn Mẫu phát biểu trực tiếp theo: “Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc và trở lại sinh hoạt bình thường. Các nhân viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ theo sự hướng dẫn của chính phủ cách mạng”. Chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng: “Chúng tôi đại diện lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

Dân tộc Việt Nam thắng

Ngày 2-5-1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố quyết định trả tự do cho nội các Dương Văn Minh.

Tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, trực tiếp gặp tổng thống Dương Văn Minh, phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu vừa thông báo quyết định, vừa truyền đạt chính sách của cách mạng:

“Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định trả tự do cho các ông về với gia đình. Giờ đây miền Nam Việt Nam đã được hoàn toàn giải phóng, nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai đã toàn thắng…

Bây giờ đất nước Việt Nam đã độc lập và thống nhất, không phải là lúc nói chuyện người thắng kẻ thua. Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ…

Mỗi người Việt Nam lúc này hãy thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đem hết sức lực và trí tuệ của mình để góp phần xây dựng đất nước sau 30 năm chiến tranh tàn phá…”.

Tướng Dương Văn Minh bày tỏ lòng biết ơn đối với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và nói:

“… Tôi vô cùng cảm kích và thật sự hân hoan vì đến 60 tuổi tôi mới được trở thành công dân của nước độc lập, tự do… Tôi nhận chức tổng thống khi biết rõ ý đồ của Mỹ đã bỏ rơi miền Nam Việt Nam và họ muốn dùng tôi vào thời điểm này để làm gì.

Xin hứa với ngài và cách mạng, là công dân của nước Việt Nam độc lập, tôi sẽ góp công sức của mình vào việc xây dựng đất nước…”.

Cuộc gặp kết thúc, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Trần Văn Trà một lần nữa nhắc lại: Nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập và thống nhất, mỗi người Việt Nam lúc này phải cùng nhau hợp lực xây dựng đất nước…

Gần 28 năm sau chiến tranh, Trung ương Đảng đã tiến một bước tiếp cận để đánh giá hiện tượng Dương Văn Minh:

“…Tuyên bố của Dương Văn Minh và nhật lệnh của Nguyễn Hữu Hạnh cũng đã có tác dụng nhất định làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân ngụy vào những giờ chót của chiến tranh, tạo thuận lợi để đại quân ta tiến vào Sài Gòn. Thúc đẩy Dương Văn Minh ngừng bắn thức thời, đó là một thành công của công tác binh địch vận đã chọn đúng đối tượng để tác động vào đúng thời điểm. Đó là một đóng góp quan trọng của mũi binh địch vận trong thời điểm kết thúc chiến tranh”.

Việc tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ra tuyên bố chiều 29-4-1975 chấp nhận các điều kiện do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt ra trong tuyên bố ngày 26-4-1975 để chấm dứt chiến tranh, trên thực tế là “chấp nhận đầu hàng không điều kiện”, được những người cùng chí hướng trong lực lượng thứ ba hết lòng ủng hộ và hợp lòng dân. Hành động đó đã góp phần vô hiệu hóa lực lượng quân Sài Gòn, tránh được đổ nát, gây thêm tang tóc vào giờ phút quyết định. Đó là thành quả của quá trình vận động từ nhiều phía, trước hết và chủ yếu do sức mạnh của chính nghĩa cách mạng, truyền thống đoàn kết yêu nước trong “con Lạc cháu Hồng” ở những mức độ khác nhau đã thức thời trỗi dậy.

…Như lời thượng tướng Trần Văn Trà tuyên bố vào ngày 2-5-1975 tại dinh Độc Lập: “Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ”.

(*) Trích sách Lịch sử Nam bộ kháng chiến, tít chính và tít nhỏ trong bài do tòa soạn đặt.

————————————

* Tin bài liên quan:

Kỳ 1Đa sắc đa chiều
Kỳ 2Tôn trọng sự thật
Kỳ 3Chuyển hướng chiến lược
Kỳ 4Sài Gòn và những ngày cuối
Kỳ 5Phương án Dương Văn Minh
Kỳ 6Giải pháp hòa bình

tuoitre.vn

Phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhìn từ Đại thắng mùa Xuân 1975

Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những vấn đề mới trong điều kiện tác chiến đang có sự vận động, phát triển không ngừng. Những bài học về nghệ thuật tác chiến trong Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn còn nguyên giá trị.

Tuy nhiên, sự vận dụng kinh nghiệm lịch sử ngoài sự kế thừa có chọn lọc, cần có sự sáng tạo mới, gắn với điều kiện mới… Từ sự suy nghĩ như vậy, bài viết đề cập một số nội dung về phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở nhìn từ Đại thắng mùa Xuân 1975.

Tác chiến chiến lược là vấn đề rất rộng lớn, hệ trọng, có tác động trực tiếp đến thành, bại của cuộc chiến tranh. Phương thức tác chiến chiến lược là một trong những nội dung cơ bản, quyết định đến thắng lợi của tác chiến chiến lược. Phương thức tác chiến chiến lược phù hợp với điều kiện tác chiến của mỗi cuộc chiến tranh. Sau năm 1975, chúng ta đã nghiên cứu phương thức tác chiến chiến lược phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong hoà bình, thống nhất.. Tuy nhiên, để hoàn chỉnh lý luận phương thức tác chiến, cần được đầu tư nghiên cứu đầy đủ hơn.

Phương thức tác chiến chiến lược là toàn bộ cách thức và phương pháp tiến hành đấu tranh vũ trang, sử dụng các lực lượng vũ trang tiến hành các hoạt động tác chiến trên quy mô toàn cục của chiến tranh theo quyết tâm chiến lược, nhằm đánh bại các biện pháp tác chiến chiến lược của địch, thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình chiến tranh.

Nói rõ hơn, phương thức tác chiến chiến lược là toàn bộ cách thức, phương pháp, biện pháp và thủ đoạn tác chiến như: phòng thủ, phòng ngự, phản công, tiến công, chống tập kích chiến lược, chống bao vây, phong toả và chia cắt chiến lược… Toàn bộ các hình thức và phương pháp sử dụng các thứ quân, lực lượng tại chỗ và các binh đoàn cơ động, các quân binh chủng, các binh đoàn chiến dịch và tập đoàn chiến lược… tiến hành các hoạt động tác chiến, nhằm thực hiện mục đích của chiến tranh hoặc mục đích của giai đoạn chiến lược trong chiến tranh.

Phương thức tác chiến chiến lược là căn cứ để nghiên cứu, giải quyết nhiều vấn đề của chiến lược quân sự như: tổ chức các lực lượng chiến lược, xây dựng thế trận chiến lược, hậu phương chiến lược, cơ sở vật chất kỹ thuật và hậu cần chiến lược… nhằm chuẩn bị đất nước chủ động và tạo ra những điều kiện để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tác chiến chiến lược trong chiến tranh.

Phạm vi của phương thức tác chiến chiến lược là giải quyết những hoạt động đấu tranh vũ trang, trong mối kết hợp với các hoạt động đấu tranh khác, nhằm chỉ đạo những hoạt động tác chiến chiến lược. Đây là phương thức tác chiến chiến lược trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN, chống chiến tranh xâm lược của CNĐQ và các thế lực thù địch.

Xác định phương thức tác chiến chiến lược cần phải nhận thức, mỗi cuộc chiến tranh có thể được tiến hành theo những phương thức riêng của nó; vì vậy, nghiên cứu phương thức tác chiến chiến lược là nghiên cứu phương thức trong một cuộc chiến tranh cụ thể. Khi xác định phương thức tác chiến chiến lược cần xem xét kỹ lưỡng và nghiêm túc các căn cứ sau đây:

Tính chất, đặc điểm của cuộc chiến tranh, trên cơ sở phân tích cả nguyên nhân và điều kiện phát sinh; mục đích và nhiệm vụ của cả ta và địch trong chiến tranh; quy mô sử dụng lực lượng vũ trang và tính chất các phương tiện sẽ sử dụng, tính đến sự tham gia của các lực lượng đồng minh của mỗi bên tham chiến; những điều kiện và yếu tố mới của cuộc chiến tranh… Các vấn đề đó ảnh hưởng rất lớn đến việc định ra phương thức tác chiến chiến lược.

Tình hình địch, về các mặt: tiềm lực kinh tế, khả năng huy động cho chiến tranh; số lượng, chất lượng các lực lượng vũ trang và phương tiện kỹ thuật; âm mưu, chủ trương và các biện pháp tác chiến chiến lược; tình hình chính trị trong nội bộ địch và trong khối liên minh quân sự của chúng…

Tình hình ta, trên mọi mặt, đặc biệt phải căn cứ vào tiềm lực kinh tế, quốc phòng; khả năng động viên nền kinh tế và nhân lực cho cuộc chiến tranh; số lượng và chất lượng các lực lượng vũ trang, phương tiện, binh khí kỹ thuật; truyền thống quân sự của dân tộc, tinh thần chính trị của nhân dân; yếu tố lãnh đạo, phương châm tiến hành chiến tranh, tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự.

Môi trường địa lý của chiến trường chiến tranh và chiến trường tác chiến, trên cơ sở phân tích đặc điểm địa lý quân sự, khó khăn và thuận lợi của điều kiện địa hình, thời tiết có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tác chiến chiến lược của đôi bên trong chiến tranh….

Tính toán được tất cả những nhân tố và điều kiện nói trên, mới có cơ sở khoa học để xác định các phương thức tác chiến chiến lược và vận dụng một cách chủ động, sáng tạo trong từng trường hợp cụ thể để đánh bại các phương thức tác chiến chiến lược của địch, giành thắng lợi.

Xác định phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể tập trung vào những nội dung chủ yếu:

1. Giữ vững, phát huy thế trận chiến tranh nhân dân, tạo lập thế trận vững chắc, chuyển hoá linh hoạt, bảo tồn lực lượng, phòng tránh đánh trả kịp thời, có trọng điểm đòn tiến công hoả lực, tác chiến điện tử của địch.

Khi chiến tranh nổ ra, thế trận chiến tranh nhân dân được chuyển hoá, phát triển từ thế trận quốc phòng toàn dân đã có từ thời bình, thế trận đó phải được giữ vững, phát huy để tiến hành các hoạt động tác chiến. Các hoạt động tác chiến chỉ có thể diễn ra một cách hiệu quả khi thế trận chiến tranh nhân dân được giữ vững, lực lượng được bảo toàn. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) là cuộc chiến tranh trong điều kiện hiện đại, phải đánh trả lại cuộc tiến công xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của địch, nên ngay từ đầu sẽ rất quyết liệt, phức tạp. Địch sẽ đánh ta từ nhiều hướng, bằng lực lượng và thủ đoạn rất đa dạng. Chính vì vậy, ta phải có thế trận vững chắc, chuyển hoá linh hoạt, giữ ổn định tình hình trước mọi tình huống và đánh địch kịp thời, có hiệu quả.

Trong tác chiến hiện đại, tiến công hoả lực và tác chiến điện tử được coi là một trong những biện pháp tác chiến chủ yếu của địch ở phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Do vậy, phòng tránh có hiệu quả, đánh trả kịp thời có trọng điểm đòn tiến công hoả lực, tác chiến điện tử của địch là nội dung có ý nghĩa chi phối trong toàn bộ hoạt động tác chiến.

Theo thượng tướng, giáo sư Hoàng Minh Thảo: Thế trận chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là một điển hình về thế trận có tính vững chắc và cơ động cao. Đó là một thế trận liên hoàn cả ba vùng từ bắc vào nam của lực lượng tại chỗ (lực lượng vũ trang và chính trị) kết hợp với các binh đoàn chủ lực cơ động và đội dự bị chiến lược mạnh đứng chân trên các hướng chiến lược trọng yếu, được tổ chức và chuẩn bị chu đáo. Thế trận đó cho phép vừa đánh địch trên diện rộng, vừa tập trung được vào trọng điểm, có thể mở những chiến dịch tiến công vào những khu vực quan trọng nhất, có thể hình thành thế kìm hãm chia cắt, bao vây chiến lược, chiến dịch, đồng thời có thể cơ động lực lượng kịp thời, chớp thời cơ đột biến, phát triển tiến công vào tận sào huyệt cuối cùng của địch.

2. Phát huy sức mạnh các lực lượng tại chỗ, chủ động đánh địch rộng khắp, sát thương, tiêu hao nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch.

Nội dung phương thức này thể hiện đặc trưng nhất cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện-là một trong những điểm cốt lõi về phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân. Lực lượng tại chỗ là lực lượng đánh địch kịp thời, rộng khắp-là huy động lực lượng toàn dân đánh giặc mà nòng cốt là lực lượng vũ trang ba thứ quân, trong đó chủ yếu là lực lượng vũ trang địa phương. Các thế lực hiếu chiến gây chiến tranh ngày càng chú trọng lấy vũ khí, trang bị kỹ thuật thay cho vai trò của con người, nhằm hạn chế thương vong trên chiến trường; cho nên, tiêu hao sinh lực địch là đánh vào điểm yếu cốt tử của chúng. Các lực lượng tại chỗ với cách đánh linh hoạt (chủ yếu là lối đánh du kích) cho phép bám sát, cài xen để diệt sinh lực, phương tiện địch với hiệu suất cao và có thể đánh địch thường xuyên, liên tục ở khắp nơi.

Trong Đại thắng mùa Xuân 1975, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương (lực lượng tại chỗ) có ý nghĩa chiến lược góp phần cùng lực lượng chủ lực giành thắng lợi hoàn toàn. Lực lượng vũ trang địa phương đánh địch khắp nơi, tiêu diệt làm tan rã nhiều đơn vị địch; bức hàng bức rút nhiều đồn bốt, đánh phá giao thông, đập tan bộ máy kìm kẹp ở cơ sở, trực tiếp hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở địa phương. Nhiều nơi, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương đập tan lực lượng vũ trang và chính quyền tại chỗ của địch, nhanh chóng xây dựng chính quyền cách mạng, hỗ trợ bộ đội chủ lực tác chiến.

3. Nắm chắc thời cơ, kiên quyết tiến hành các đòn tác chiến có tính quyết định, có trọng điểm của các binh đoàn chủ lực, thực hiện tiêu diện lớn, đánh bại địch trên các hướng chiến lược.

Có thể khẳng định: cuộc tiến công xâm lược của địch chỉ có thể bị đánh bại khi ta thực hiện các đòn tác chiến chiến lược có tính quyết định (chiến dịch Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp, chiến dịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ). Trong điều kiện hiện nay, sử dụng các binh đoàn chủ lực để thực hiện các đòn đánh lớn (chiến dịch-chiến lược, chiến dịch quyết chiến chiến lược) là rất khó khăn, nhưng phải tạo, nắm thời cơ và kiên quyết tiến hành. Chỉ có như vậy, mới tiêu diệt được bộ phận quan trọng lực lượng chiến lược của địch, từ đó mới đánh bại được các biện pháp tác chiến chiến lược của chúng, tạo ra sự chuyển hoá về chiến lược hoặc kết thúc chiến tranh. Tác chiến của các binh đoàn chủ lực phải được chuẩn bị kỹ, tiến hành trên các hướng chiến lược trọng điểm.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là đỉnh cao của nghệ thuật nắm thời cơ và thực hiện các đòn đánh có tính quyết định. Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng trận đột phá chiến lược vào Buôn Ma Thuột, tiêu diệt tập đoàn phòng ngự quan trọng của địch ở chiến trường miền Trung-Tây Nguyên, tạo nên sự chuyển hoá đột biến, dẫn đến sự tan rã và sụp đổ về chiến lược của địch. Chiến dịch Huế-Đà Nẵng với sự tham gia của Quân đoàn 2 (binh đoàn chủ lực mạnh) cùng với Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5 là chiến dịch của thời cơ, có ý nghĩa chiến lược, quét sạch quân địch ở vùng ven biển miền Trung; cùng với chiến dịch Tây Nguyên làm thay đổi hẳn tương quan so sánh lực lượng có lợi cho ta, làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, tạo ra thời cơ chiến lược vô cùng quan trọng để đánh đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng. Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tập trung sức mạnh của cả nước đánh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, tạo điều kiện quyết định để quân và dân các tỉnh đồng bằng Nam Bộ đồng loạt tiến công, nổi dậy giành chính quyền và kết thúc chiến tranh.

4. Tiến hành triệt để các biện pháp chia cắt, đánh phá hậu phương địch và chống chia cắt chiến lược, bao vây phong toả của địch.

Chia cắt trong nghệ thuật quân sự là để “căng địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt”. Biện pháp tác chiến này nhằm chia cắt, cô lập quân địch làm cho chúng lực lượng đông mà bị phân tán, kìm giữ; ta có điều kiện tập trung lực lượng đánh vào nơi và lúc có lợi bằng những đòn quan trọng, quyết định.

Đánh phá hậu phương địch trong tác chiến chiến lược ở điều kiện hiện nay có nhiều khó khăn, nhưng phải nỗ lực thực hiện. Hậu phương địch có thể gồm: hậu phương chiến tranh, chiến lược, chiến dịch. Căn cứ vào điều kiện thực tế và khả năng của ta, vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo của các lực lượng làm cho hậu phương của địch luôn mất ổn định.

Đặc điểm địa lý của nước ta dễ bị địch chia cắt chiến lược. Vấn đề đặt ra là, ta phải tổ chức thế trận chiến trường tác chiến, bố trí lực lượng (các tập đoàn, cụm lực lượng chiến lược, các tập đoàn chiến dịch) thế nào để hoạt động tác chiến được linh hoạt, có điều kiện tập trung được sức mạnh khi cần thiết, không để địch chia cắt phá thế chiến lược và làm phân tán lực lượng ta.

Đại thắng mùa Xuân 1975, ta đã thực hiện rất thành công đòn chia cắt trong tác chiến chiến lược khi địch tập trung mạnh hai đầu phía Bắc và Nam của chiến trường miền Nam, ta tiến hành chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi tạo nên sự chia cắt hoàn toàn về mặt chiến lược đối với quân địch. Trong chiến dịch này, ta cũng thành công trong chia cắt chiến dịch, “trói” địch ở Buôn Ma Thuột để tiêu diệt, bằng cắt đứt đường bộ giữa bắc và nam Tây Nguyên, giữa Tây Nguyên với đồng bằng ven biển miền Trung. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, với cách đánh đồng thời từ 5 hướng tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch, vừa chia cắt bên ngoài với bên trong thành phố, vừa loại bỏ hoàn toàn khả năng co cụm của địch ở Sài Gòn và chiến trường Tây Nam Bộ.

5. Kiên quyết đập tan nhanh, gọn các hoạt động bạo loạn bên trong của các lực lượng phản động. Kết hợp chặt chẽ tác chiến và các mặt đấu tranh.

Cuộc chiến tranh xâm lược của địch (nếu xảy ra) sẽ có sự phối hợp hoạt động bạo loạn bên trong của các lực lượng phản động, vì chúng rất coi trọng lực lượng phản động bên trong-lực lượng quan trọng, hỗ trợ nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Do đó, kiên quyết đập tan nhanh, gọn các hoạt động bạo loạn, tiêu diệt triệt để các lực lượng phản động bên trong là chặt đứt một hướng chiến lược của địch; tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng tác chiến chiến lược của chúng. Xử lý bạo loạn của lực lượng phản động bên trong càng nhanh, gọn bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với hoạt động đấu tranh chính trị, ngoại giao để phân hoá kẻ thù. Đây là truyền thống trong nghệ thuật đấu tranh cách mạng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự của ta. Sự kết hợp đó tạo nên sức mạnh tổng hợp cho hoạt động tác chiến chiến lược ở hướng, mục tiêu chiến lược.

Trong Đại thắng Mùa xuân 1975, kết hợp giữa tác chiến với đấu tranh chính trị được tiến hành rất thành công. Thành công đó là sự kết hợp đòn tiến công quân sự và đòn đấu tranh chính trị, nổi dậy giành chính quyền của lực lượng quần chúng nhân dân; là sự kết hợp giữa đòn quân sự và binh địch vận; là sự kết hợp giữa đòn quân sự và đấu tranh ngoại giao để làm phá sản mưu đồ của các thế lực thù địch muốn níu kéo, chia sẻ quyền lực, dựng lên một chính quyền mới tại miền Nam mới giải phóng, phục vụ cho âm mưu tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam của chúng…

Đại thắng Mùa xuân 1975, ngoài việc đưa đến thắng lợi trọn vẹn của cuộc chiến tranh giải phóng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN luôn kế thừa, phát huy và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm, truyền thống đánh giặc của cha ông, trong đó có phương thức tác chiến chiến lược trong Đại thắng mùa Xuân 1975, đưa cách mạng nước ta tiến lên theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Đại tá, PGS TS Nguyễn Thanh Sơn
Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam

quocphonganninh.edu.vn