Lòng yêu nước và khát vọng hoà bình

(baodautu.vn) Cho đến bây giờ, sau hơn 35 năm im tiếng súng, tôi vẫn chưa hiểu tại sao sức chịu đựng của con người Việt Nam lại có thể bền dai phi thường đến thế.

Thành cổ Quảng Trị- nơi từng diễn ra những trận chiến ác liệt

Ba mươi năm chiến tranh ái quốc là ba mươi năm mất mát đến kinh hoàng, là ba mươi năm vượt ra ngoài khuôn khổ sức chịu đựng của con người, là ba mươi năm mà nếu không có lòng yêu nước, ý chí tự cường, lòng tự trọng của dân tộc, thì chúng ta sẽ không bao giờ bước qua được những dấu mốc lịch sử khốc liệt như vậy.

Lòng yêu nước sản sinh ra sự lãng mạn, sự lãng mạn hun đúc nên khát vọng chiến thắng. Thử hỏi, những năm cam go mù mịt ấy mà con người chỉ biết vùi đầu vào bom đạn, chết chóc mà không biết thỉnh thoảng ngước nhìn bầu trời cao xanh vời vợi của quê hương, không biết nhìn sâu vào đôi mắt trẻ thơ, em gái, không mộng mơ cồn cào có một ngày được trở về với mẹ già, với người yêu, với bản làng ngõ phố, với nồi bánh chưng lửa bập bùng linh diệu trong đêm trừ tịch…, thì người lính làm sao có thể chịu nổi áp lực nặng oằn của cuộc chiến sống còn.

Và cả điều này nữa, người lính làm sao có thể vượt qua được sự trống trải, tan hoang trong tâm hồn khi ba lần khăn gói lên đường làm cuộc tổng tiến công, nhưng hai lần ngậm ngùi trở lại. Bởi, cuộc sống dẫu có gian truân đến mấy, nhưng nếu nó liền mạch, nó cứ truội đi thì còn đỡ, thành quen, thành bản chất rồi, bỗng một ngày tưởng toàn thắng đến nơi, tưởng không còn phải trở về với rừng xanh bưng biền nữa, sống rồi, nhưng vẫn phải trở về, cảm giác đó rất dễ khiến sức chịu đựng bị đứt lìa, gẫy ngang. Nhưng rồi lạ kỳ thay, vẫn chịu được, coi như tất cả làm lại từ đầu.

Để rồi cái đêm cuối cùng, mấy thằng lính đặc công nằm bên mố cầu với nhiệm vụ chiếm lĩnh trong đêm để sáng mai đón đại quân kéo về vẫn tưởng như mơ, tưởng như trò đùa, lòng dạ chẳng mấy tin vào câu chuyện chỉ có nằm trong cổ tích ấy. Ôi, cái màn đêm cuối cùng của cuộc chiến dài dặc, bạn bè mất mát gần hết ấy mới phập phồng làm sao! Toàn thân bôi đen, bôi đỏ nằm dưới chân mấy người lính gác phía bên kia chờ giờ nổ súng, gió sông Sài gòn mang hương vị bèo lục bình thổi về rượi mát, tiếng bìm bịp kêu lành hiền trong lòng nước, con tắc kè nào khàn khàn gọi tuổi trên chạc cây, giây phút ấy sao cứ thấy đầu óc tan loãng ra, dịu nhẹ, dịu nhẹ đến nỗi chỉ muốn đội cỏ đứng dậy vỗ vào vai người lính mặc sắc phục lạ mà rằng, thôi cậu ơi, đánh nhau thế đủ rồi, đêm nay đẹp quá, tôi với cậu bỏ súng sang một bên vào quán làm một tô hủ tiếu cho ấm bụng! Nhưng rồi chiến tranh vẫn là chiến tranh, giờ G vẫn là giờ định mệnh cho cuộc đấu sinh tử, thay vì tô hủ tiếu và cái vỗ vai chân tình, người lính ướt đẫm sương đêm buộc phải đưa tay vào khoen tạc đạn…

Đêm ấy, chả biết người lính kia có sao không, giải phóng rồi, mấy lần chúng tôi trở về có ý hỏi thăm nhưng chịu, chả một ai biết. Bỗng thấy nao buồn. Thì ra, không ai dễ bỏ qua chuyện cũ hơn những thằng lính đã từng nện vào mặt nhau, nện chí tử nhưng nay thái bình rồi, gặp lại là hào phóng bắt tay, nhậu lai rai vài xị đế, chả ai muốn nhắc lại chuyện cũ, chuyện đã qua, thực chất là một chuyện buồn, chuyện để hiểu nhau và thương nhau hơn, cùng một nòi giống máu đỏ, da vàng gặp lúc loạn ly thì phải vậy thôi.

Dẫu rằng, vết thương chiến tranh để lại sao mãi mới lên được chút da non. Dễ hiểu thôi, đơn vị tôi nằm cách Sài Gòn 15 cây số, nhưng phải 10 năm trời mới hành quân đến được nơi cần đến. Như vậy, mỗi năm chỉ nhích được một cây số rưỡi, chỉ có điều mỗi cây số rưỡi ấy phải để lại hàng trăm xác đồng đội. Thực chất, đây là cuộc hành binh trên những nấm mồ để ca khúc khải hoàn tức tưởi giữa thành đô.

Chiến thắng 30/4! Niềm vinh quang được phát tụ bởi lòng yêu nước mênh mông sâu thẳm này không của riêng ai, và nỗi đau này cũng không chỉ nằm riêng một phía. Hơn 35 năm đã trôi qua, tôi đã có dịp trở về nhiều vùng chiến địa lúc này đây đã không còn một dấu tích ngoài những khu công nghiệp, những trung tâm dịch vụ sáng choang mà bỗng ngộ ra một điều: Chiến tranh có thể là trò đùa, nhưng nỗi đau là có thật. Nỗi đau hiện lên trong bạt ngàn nghĩa trang liệt sĩ, trên các ban thờ nghi ngút khói hương và trong đáy mắt mang nỗi đau vô bờ của những người mẹ, người chị, người vợ ở cả hai bên.

Tôi cũng đã đến thành cổ Quảng Trị, nằm một đêm với đồng đội không còn nữa tại nghĩa trang nghe gió thì thầm những câu chuyện ngày xưa và vẳng đâu đây câu thơ thấm đẫm hồn chiến sĩ của Lê Bá Dương: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…”. Để có câu thơ dứt ruột này, chàng thi sĩ lính chiến có hiểu không, khi nơi đáy sông đó không chỉ có linh hồn, thân xác của biết bao chiến sĩ cách mạng, mà còn có rất nhiều những thân xác, linh hồn của người lính phía bên kia, nhiều lắm…

Vâng, có thể người làm thơ không biết, nhưng lịch sử không nên quên. Lịch sử những ngày tháng đau thương và hào hùng này phải ghi lại tất cả, chân tình, sòng phẳng.

Cũng như tôi đã nhìn thấy một bà mẹ từ ngoài Bắc xa xôi vào nghĩa trang đặt vòng hoa lên mồ đứa con duy nhất, sau đó bà lặng lẽ đi vào trong thôn thắp một nén nhang cho đứa con thuộc liên đoàn biệt động Sài Gòn hồi ấy của bà mẹ cũng đang ngồi như hóa đá bên mộ con kia. Hai bà mẹ, hai nỗi niềm, hai mặc cảm giây phút ấy bỗng không còn ngăn cách.

Nhìn đáy mắt hai bà mẹ như cháy khẽ lên một điều lâu nay còn mơ hồ, nhưng nay đã thành hình, thành nét: Trái tim Lạc Hồng, lòng yêu nước mãnh liệt đã tạo nên một non sông liền cõi, một sắc trời tự do khoáng đạt hôm nay, nhưng lòng yêu nước bao giờ cũng hàm chứa sự bao dung đến tận cùng, vì thế sự hòa hợp để cùng nhau vì ấm no dân tộc, xét đến cùng cũng chính là lòng yêu nước.

Chu Lai

baodautu.vn

Advertisements

Đại thắng mùa xuân 1975 trong ký ức các cựu chiến binh

Các cựu chiến binh ôn lại những thời khắc chói lọi của chiến thắng lịch sử 30-4-1975

Trong không khí tưng bừng của cả nước kỷ niệm 36 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng tôi đã vinh dự được gặp những cựu chiến binh (CCB) từng trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Kỷ niệm của các nhân chứng lịch sử ấy đã làm sống dậy hào hùng khí thế của mùa xuân đại thắng, những chiến công oanh liệt đã được ghi danh và những chiến công còn ít người biết đến hoặc do góc khuất của chiến tranh nay mới được nghe, được kể lại.

Bảo đảm công tác chuẩn bị chiến trường

Mùa xuân năm 1975, sau những thắng lợi to lớn, dồn dập, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta quyết tâm dồn sức giải phóng miền Nam. Để bảo đảm cho thắng lợi, Bộ Tư lệnh chiến dịch đặc biệt coi trọng công tác chuẩn bị chiến trường về vật chất, thông tin liên lạc, dẫn đường, triển khai khu vực tập kết…

CCB Trịnh Quốc Nở (Quế Tân, Quế Võ), nguyên Đại đội trưởng Đại đội 100, Đoàn 770, Cục Hậu cần Miền cho biết: “Đơn vị tôi đã chiến đấu ngày, đêm không quản hy sinh, gian khổ bám cầu, bám đường bảo đảm từng chuyến hàng để phục vụ chiến dịch”. CCB Đoàn Khắc Hoàn (Phú Hoà, Lương Tài), nguyên chiến sỹ đặc công Đại đội 20, Trung đoàn Đặc công 198, Quân đoàn 3 kể lại: “Tôi đã tham gia Chiến dịch Tây Nguyên rồi nhận nhiệm vụ cùng đơn vị đánh luồn sâu, chiếm giữ và bảo vệ cầu Bông, cầu Sáng cho cánh quân Tây Bắc tiến vào. Phải luồn sâu vào lòng địch nắm chắc địa hình tác chiến, quân số, quy luật hoạt động và bố trí hỏa lực địch tại căn cứ Đồng Dù. Thâm nhập bảo đảm bí mật, bất ngờ, mưu trí, sáng tạo để đánh từ trong đánh ra, đánh nở hoa trong lòng địch”. CCB Nguyễn Văn Thịnh (Đông Thọ, Yên Phong), nguyên trinh sát Trung đoàn Đặc công 116, Sư đoàn 2 nhớ lại: “Ngày 28-4-1975, đơn vị tôi chiến đấu quyết liệt để đánh chiếm cầu Đồng Nai. Đến sáng ngày 29-4 đã chiếm thành công và giữ vững cầu cho cánh quân phía Đông tiến vào an toàn”.

“Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương xác định phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của chiến dịch là “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Công tác bảo đảm chiến trường đã làm tốt, các cánh quân chủ lực từ 5 hướng tiến nhanh vào Sài Gòn. CCB Nguyễn Quang Tâm (Phú Lâm, Tiên Du), nguyên Đại đội trưởng Đại đội 1 pháo cao xạ, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 234, Quân đoàn 3 vẫn nhớ như in bước chân thần tốc của cánh quân Tây Bắc: “Sau khi giải phóng Tây Nguyên, cánh quân được lệnh đánh rẽ địch, vượt qua các ổ đề kháng, tiến quân thần tốc vào Sài Gòn. Trên đường tiến quân, ta vấp phải không ít khó khăn bởi sự chống cự ngoan cố của địch. Nhiều đồng đội ngã xuống ngay trước ngày chiến thắng… Với thế và lực áp đảo, quân ta tiến đến đâu giải phóng đến đó. Trong trận chiến ác liệt tại Đèo Phượng Hoàng, ta tiêu diệt 1 Lữ đoàn dù của địch, đánh bại cuộc nhảy dù quy mô lớn hòng chuẩn bị cho cuộc tái chiếm Buôn Ma Thuột. Khi tập kết tại Trảng Bàng (Tây Ninh), tất cả bỏ ngụy trang, thay quân phục mới tiến quân thần tốc đánh tan căn cứ Đồng Dù (Củ Chi), vượt qua Cầu Bông, Cầu Sáng… Sáng 30-4-1975 sau khi tiêu diệt lực lượng lớn quân địch chốt chặn tại ngã tư Bảy Hiền, cánh quân tiến đánh thành công sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng Tham mưu”.

Niềm vui ngày chiến thắng

Đã 36 năm trôi qua kể từ ngày chiến thắng, những chiến sỹ của đoàn quân giải phóng năm xưa nay đã tóc bạc, da mồi. Nhưng những kỷ niệm về không khí ngày chiến thắng như vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí mỗi CCB-nhân chứng lịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975. CCB Nguyễn Gia Tưởng (Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh), nguyên Trung đội trưởng Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 bồi hồi nhớ lại kỷ niệm: “Khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, nhân dân nô nức, hồ hởi đón chào. Niềm vui chiến thắng tràn ngập phố phường. Có bà mẹ đã túm tay tôi, ngắm nhìn thật kỹ và nói: Bộ đội giải phóng khỏe mạnh, rắn rỏi thế này mà bọn Mỹ, Ngụy lại tuyên truyền là Việt cộng đánh đu không gẫy cành đu đủ…”.

Gặp những người vinh dự có mặt trong những giờ phút chói lọi nhất của lịch sử dân tộc hôm nay, chúng ta càng hiểu hơn những cống hiến to lớn của họ vượt qua gian khổ cùng cả nước làm nên chiến thắng vẻ vang giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Bài, ảnh: Bảo Anh – Thanh Tú

baobacninh.com.vn

Ký ức mùa xuân đại thắng- chuyện trong Nhà Con Rồng bây giờ mới kể

Trưa 30/4/1975, khi được tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các ngụy quyền, từ Tổng hành dinh, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho gửi gấp vào Nam một bức điện nói rõ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương…

Thủ tướng gửi tặng khay quà

Các đồng chí trong Bộ Chính trị (BCT), thường trực Quân uỷ Trung ương (TTQUTƯ) sau các cuộc hội nghị tại Nhà Con Rồng (Tổng hành dinh trong khu A thành cổ Hà Nội) nghe báo cáo về tình hình chiến trường, rất quan tâm hỏi thăm sức khoẻ và muốn biết “anh em có được bồi dưỡng gì thêm”. Sau những chiến dịch thắng lớn ở chiến trường thì các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ… bao giờ cũng có quà tặng anh em. Lần này đang đại thắng, nên tối 27/3/1975, sau khi nghe báo cáo xong, đồng chí Sáu Thọ đã tặng 2 gói kẹo và tút thuốc lá Thăng Long: “Mình có chút quà tặng sớm cho anh em vì sáng mai lên đường vào chiến trường…”. Đến tối 28/4/1975, sau khi báo cáo xong tình hình, Cục trưởng Cục tác chiến BTTM nói vui với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Thưa anh, trước khi đi vào B2 anh Sáu Thọ đã có quà tặng”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cười rất vui: “Vậy là tôi chưa có quà chứ gì?”. Trước khi tan họp, Thủ tướng ghé tai Cục trưởng Lê Hữu Đức (nay là Trung tướng): “Tôi đã ghi vào sổ tay để nhắc đồng chí Bí thư quân sự rồi!”. Ngày 30/4, ngày đại thắng, sau khi báo cáo xong tại cuộc họp của BCT-TTQUTƯ thì một cán bộ giúp việc từ buồng bên cạnh xuất hiện, trên tay có một khay quà. Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới đỡ lấy khay quà trao tận tay đồng chí Cục trưởng Cục tác chiến, lại nói nhỏ: “Xin chúc anh em Cục tác chiến luôn khoẻ, luôn tiến bộ!”. Thật cảm động!

Tổng tư lệnh “chiêu đãi” cháo gà

Tối 29/4/1975, các đồng chí Cục trưởng và Cục phó Cục tác chiến cùng đồng chí Mai Xuân Tần là cán bộ tham mưu chiến trường đang trao đổi công việc thì có điện của Đại tướng Tổng tư lệnh gọi lên trao đổi kế hoạch. Khi tới phòng làm việc của Tổng tư lệnh trong Tổng hành dinh thì đã có mặt cả Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, Phó văn phòng Bộ Quốc phòng Trần Đông. Trên bàn bày mấy bát cháo gà còn bốc khói và một đĩa thịt gà có cả lá chanh thái nhỏ… Đại tướng vui vẻ: “Nào, ta liên hoan đại thắng để có sức thức suốt đêm nay nữa…”. Bình thường, những lúc làm việc căng thẳng, thêm giờ… Tổng Tư lệnh cũng chỉ uống cốc sữa nóng hoặc ăn quả chuối. Còn lần này, cũng là lần duy nhất Tổng tư lệnh có bữa “liên hoan” chiêu đãi một số cán bộ gần gũi trong suốt 55 ngày đêm của cuộc Tổng tấn công.

Bộ trưởng Công an “liên hoan đại thắng” bằng trái cây

Các đồng chí trong BCT và TTQUTƯ họp hội nghị bàn về quân sự thường tổ chức tại phòng họp lớn trong Tổng hành dinh. Ở buồng nghỉ bên cạnh thường có một ít hoa quả, nước ngọt bày sẵn, nhưng ít ai đụng đến. Các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng khi nghỉ giải lao có đồng chí bảo vệ mang tới một cốc trắng bịt kín, đó là sữa đậu nành. Hoa quả không ai đụng đến, anh em cán bộ cơ quan cũng không ai dám đụng tới, do đó sau buổi họp đồng chí Trần Quốc Hoàn – Uỷ viên BCT – Bộ trưởng Công an thường ở lại sau và “làm nhiệm vụ” chia cho mỗi người một ít “mang về chia cho anh em trực ban nữa”. Trong ngày đại thắng 30/4/1975, số hoa quả có nhiều hơn mọi ngày nên Bộ trưởng chia cho anh em “mang về” cũng nhiều hơn, chứa đầy cả túi quần, mũ cối: “Liên hoan đại thắng nhé”. Vậy mà riêng đồng chí không bao giờ lấy một thứ hoa quả gì!

Chiến sĩ nữ cơ yếu chỉ còn biết ngây người đứng nhìn…

Cán bộ, nhân viên mã dịch Cục cơ yếu BTTM phục vụ Tổng hành dinh vinh dự làm nhiệm vụ mã dịch khi nhận – chuyển các chỉ thị, mệnh lệnh của BCT, QUTƯ. Đến cuối tháng 3 thì phòng đã tung hơn nửa số quân vào chiến trường, số ở nhà phần đông là nữ, do thiếu tá Lê Văn Ngoạn chỉ huy. Sáng 30/4/1975, chị Trọng cùng với hai anh Châu, Khôi đang tập trung mã hoá, giải mã các bức điện thì thấy xuất hiện nhiều xe Vonga nối đuôi nhau tới đậu trước nhà làm việc của QUTƯ sớm hơn thường lệ, không khí nói cười cũng nhộn nhịp khác hẳn mọi ngày. Đến khoảng 11 giờ thì nhận được bức điện số 10 từ Bộ chỉ huy cánh Đông gửi về: “10 giờ ngày 30/4 toàn bộ lữ 203, trung đoàn 9, trung đoàn 66BB, cao xạ của Quân đoàn 2 đã vào chiếm lĩnh dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu cùng nhân viên cao cấp nguỵ quyền Sài Gòn đang họp, bắt Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng (12 giờ – giờ SG)”. Vừa dịch xong, chuyển ngay điện cho các đồng chí trong QUTƯ, chị Châu vừa chạy ra tới cửa thì thấy bên hành lang nhà Quận uỷ như chật hẳn, tiếng reo: “Toàn thắng rồi!”, “Đại thắng rồi!”, “Đánh giỏi quá!” như bật ra cùng lúc và thấy mọi người cứ ôm nhau mà hôn, mà quay tròn… Chị Châu chỉ còn biết đứng ngây người ra sung sướng chứng kiến cảnh “vũ hội” mừng đại thắng của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đầu đã bạc trắng… rồi tự nhiên vỗ tay hoà theo lúc nào không biết…

Bộ Quốc phòng đốt pháo mừng đại thắng sau Bộ Ngoại giao

Trưa 30/4/1975, khi được tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các nguỵ quyền, từ Tổng hành dinh, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho gửi gấp vào Nam một bức điện nói rõ ý kiến chỉ đạo của BCT và QUTƯ: “Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí nhưng không phải với tư cách tổng thống mà chỉ với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân…”, và nhắc lại tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập rồi kết thúc bằng câu: “Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui…”.

Tại Nhà Con Rồng, lúc đó hơn chục bánh pháo đã được chuẩn bị, kết nối vào nhau treo sẵn lên cây cột. Cơ quan Bộ đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh cho đốt phào mừng đại thắng. Mấy sĩ quan văn phòng và chiến sĩ đã sẵn sàng chờ lệnh châm lửa thì Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh về gặp anh em chỉ thị: “Anh Văn bảo: Nhắc đài quan sát (bố trí trên đỉnh cột cờ ở khu bảo tàng quân đội) quan sát phía bên Bộ Ngoại giao. Khi nào thấy bên Bộ Ngoại giao nổ pháo thì Bộ Quốc phòng mới được châm lửa đốt pháo. Bộ Quốc phòng không được đốt pháo trước khi Bộ Ngoại giao nổ pháo”. Thế là, khi tiếng pháo bên Bộ Ngoại giao nổ ran, pháo bên Bộ Quốc phòng mới nổ tiếp theo. Sau này, khi có dịp hỏi nhỏ Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỉm cười: “Vì mình là Quân đội nhân dân thì không nên làm việc gì để người ta hiểu nhầm là mình tự nêu công trước…”.

Theo lời kể của các Trung tướng Cao Văn Khánh, Lê Hữu Đức

vov.vn

Đại thắng mùa Xuân 1975 – Ý nghĩa của nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong thời đại mới

Quân đội là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp quyết định sự thắng lợi trên chiến trường.

Hoàng Văn Vân
Học viên sau đại học – Học viện Chính trị

Quân đội là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp quyết định sự thắng lợi trên chiến trường. Vì vậy, việc xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân đội có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội đảm bảo cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Là người tổ chức, giáo dục và rèn luyện quân đội ta,  Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng quân đội về mọi mặt, đặc biệt là xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người thường căn dặn cán bộ, chiến sỹ ta: “Phải nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược có quyết tâm thì làm việc gì cũng được”[1] và “có quyết tâm, có sáng kiến thì khó khăn mấy cũng giải quyết được; và nhiều khi chuyển thế bại thành thế thắng”[2]. Thực hiện theo lời dạy của Bác toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ đầy hy sinh gian khổ nhưng rất đỗi vẻ vang làm nên Đại thắng mùa xuân 1975- “một sự kiện có tầm vóc quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc”. Thắng lợi vĩ đại đó đã ghi vào lịch sử dân tộc ta “một mốc son chói lọi bằng vàng”.

Ý chí quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược vốn là truyền thống quật cường, bất khuất lâu đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975.

Trên thực tế, đế quốc Mỹ là kẻ thù rất nguy hiểm, tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh gấp nhiều lần những kẻ thù mà nhân dân ta đã gặp. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Mỹ nổi lên thành cường quốc số một, làm “chúa tể” thế giới tư bản với bom nguyên tử và đồng đô la. Trên thế giới lúc bấy giờ tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ lan tràn ở nhiều nơi. Khi ta bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có nhiều người đồng tình ủng hộ, song cũng không ít người cho ta là phiêu lưu mạo hiểm, “lấy trứng chọi đá”. Đặc biệt, khi Mỹ đưa quân viễn chinh ồ ạt vào xâm lược Miền Nam và dùng không quân, hải quân đánh phá Miền Bắc, rất nhiều người có thiện chí đã tỏ ra lo ngại rằng đất nước ta sẽ bị sức mạnh của Mỹ đè bẹp. Trước một kẻ thù có ưu thế vượt trội so với ta cả về kinh tế, khoa học và công nghệ, vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật quân sự hiện đại, vấn đề lớn, bức bách nhất đặt ra trước Đảng và cả dân tộc ta là: “Ta có dám đánh Mỹ và thắng Mỹ để giải phóng nửa nước còn lại, thống nhất Tổ quốc không?”. Ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm chống Mỹ, không mơ hồ, ảo tưởng về bản chất và âm mưu xâm lược của Mỹ. Điều này được thể hiện cụ thể trong Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1 năm 1959). Nhờ có quyết tâm đó, ta đã vượt qua những khó khăn, trở ngại ở trong nước và quốc tế lúc bấy giờ để đề ra chiến lược thích hợp khởi đầu cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.

Quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ là quyết tâm của Đảng ta nhưng cũng là quyết tâm của toàn quân, toàn dân ta, của cả dân tộc Việt Nam, với ý chí sắt đá: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”[3].

Ý chí quyết tâm đó được bắt nguồn từ truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, tinh thần trách nhiệm với vận mệnh đất nước của người Việt Nam. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, dân tộc ta triệu người như một, sẵn sàng đứng lên chống giặc, đánh giặc cứu nước. Tinh thần ấy được phát huy cao độ trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, phân tích về sự so sánh lực lượng giữa ta và địch một cách toàn diện trong quá trình vận động phát triển cuả cuộc chiến. Đảng ta đã xem xét trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội, vật chất, tinh thần, số lượng, chất lượng, thế, lực và thời cơ, điều kiện khách quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật tác chiến, tình hình cả hai miền Nam, Bắc và tình hình thế giới…từ đó đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ đúng đắn. Quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngụy được xây dựng trên cơ sở khoa học đó đã trở thành phương châm chỉ đạo đúng đắn, bảo đảm cho quân đội ta càng đánh, càng mạnh và đi đến thắng lợi cuối cùng mà đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975: giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập thống nhất, đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc đang sản xuất, sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao với tính chất ác liệt và huỷ diệt ngày càng lớn trong các cuộc chiến tranh. Điều này gây ra tư tưởng, tâm lý lo lắng, hoang mang trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội ta.  Đây là những thách thức gay gắt về chính trị – tinh thần, ý chí quyết tâm của quân đội trước nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Để phát huy tinh thần của Đại thắng mùa xuân 1975 trong việc xây dựng ý chí quyết tâm của quân đội và nhân dân đảm bảo đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao cần thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị – tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam.

Đây là biện pháp cơ bản, quan trọng hàng đầu xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng cho bộ đội, nhằm giúp họ có giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Công tác giáo dục chính trị – tư tưởng hiện nay cần tiếp tục tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của quân đội và đơn vị. Đặc biệt, chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc, truyền thống quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta; xây dựng lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc. Đồng thời, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của Chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Giáo dục chính trị – tư tưởng cần đi sâu nghiên cứu và làm cho bộ đội nhận thức sâu sắc bản chất của kẻ thù, đặc điểm tính chất của cuộc chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao và ảnh hưởng của nó tới ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội ta. Làm cho bộ đội có quan điểm biện chứng trong xem xét, đánh giá tình hình, thấy được những điểm mạnh, những hạn chế của vũ khí công nghệ cao và cách đánh của ta, trên cơ sở đó củng cố quyết tâm, xây dựng niềm tin chiến thắng, xây dựng lòng tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; vào con đường Xã hội chủ nghĩa; vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, vào lực lượng, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam, làm cho bộ đội thấy được khả năng chiến đấu và chiến thắng của ta trong cuộc chiến tranh hiện đại. Trong công tác giáo dục chính trị – tư tưởng cần sử dụng tổng hợp các hình thức tổ chức, biện pháp tiến hành, làm cho nội dung trở nên sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục cao phù hợp với từng đối tượng.

Hai là, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện quân sự, diễn tập tổng hợp làm cho bộ đội có trình độ tác chiến giỏi và khả năng sử dụng thành thạo các loại vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác. Nếu bộ đội không được huấn luyện kỹ năng chiến đấu, không có trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại, không có sức khoẻ tốt… thì ý chí quyết tâm của họ không thể duy trì thường xuyên, liên tục và đạt hiệu quả cao. Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải có quyết tâm đánh, mà đã đánh phải có quyết tâm đánh thắng” và Người chỉ rõ: “Vấn đề là ở chỗ tinh thần của con người phải truyền qua súng, tức là làm sao phải có kỹ thuật giỏi”[4].

Trong công tác huấn luyện cần tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập thực hiện đúng phương châm, phương hướng huấn luyện. Đặc biệt, phải tập trung làm cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị hiện có, nhất là những vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tìm ra nhiều cách đánh hay, phù hợp, có hiệu quả. Đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu. Tạo ra nhiều tình huống khó khăn, gian khổ sát với thực tại của cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao để bộ đội có điều kiện thử thách lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm, quyết đánh và quyết thắng. Kiên quyết đấu tranh chống bệnh “thành tích”, bệnh “hình thức”, chất lượng huấn luyện không thực chất, không sát tình huống chiến đấu.

Ba là, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chính trị nói riêng trong xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội.

Đội ngũ cán bộ có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi cán bộ là “cái gốc” của mọi công việc, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Với cán bộ chính trị Người khẳng định: “Chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”[5]. Đặc biệt, trong những hoàn cảnh khó khăn, ác liệt vai trò của người cán bộ chính trị lại càng quan trọng trong xây dựng, củng cố, duy trì và phát huy ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cho bộ đội. Sự nhạy bén, sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt của người cán bộ nói chung, người cán bộ chính trị nói riêng có ảnh hưởng lớn đến tinh thần, niềm tin, quyết tâm của bộ đội; họ là “linh hồn”, là “điểm tựa tinh thần” giúp bộ đội ổn định trạng thái tâm lý. Mỗi lời nói, hành động của họ có tác dụng cổ vũ, động viên mạnh mẽ toàn đơn vị vượt lên khó khăn, thử thách, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo tìm ra cách giải quyết hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Tóm lại, việc xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng cho bộ đội bảo đảm đánh thắng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao của kẻ thù là nội dung quan trọng và cấp thiết hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu đó, cần làm tốt các giải pháp nêu trên. Đặc biệt, tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục chính trị – tư tưởng cho bộ đội. Thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục truyền thống, phát huy tinh thần chiến thắng của đại thắng mùa xuân năm 1975 trong xây dựng ý chí quyết tâm cho bộ đội có ý nghĩa sâu sắc.

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập11, Nxb CTQG, H.2001, tr.465.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H.2001, tr.334.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 108.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 466.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2001, tr.392.

quocphonganninh.edu.vn

30-4: chiến thắng mang tên Việt Nam

TT – Ngày 14-4, cách đây đúng 30 năm, Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định (sau này là chiến dịch Hồ Chí Minh), khởi đầu cho thắng lợi vẻ vang của dân tộc: thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối.

Phó bí thư thành uỷ TPHCM Lê Hoàng Quân (bìa trái) và các đại biểu tại hội thảo

Đúng 30 năm sau, tại TP.HCM, 300 tướng lĩnh, sĩ quan và các nhà khoa học đã về dự hội thảo khoa học “Đại thắng mùa xuân năm 1975 – bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” do Bộ Quốc phòng, Ban Tư tưởng – văn hóa trung ương và Thành ủy TP.HCM tổ chức.

“Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Đồng chí Nguyễn Minh Triết, ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy TP.HCM, đã trích báo cáo chính trị tại Đại hội IV của Đảng (1976) làm đề dẫn trong phần phát biểu chào mừng hội thảo.

Có 117 tham luận khoa học được tập hợp tại hội nghị này. Trên 10 tham luận được trình bày trong ngày đầu tiên. Hầu hết các tham luận đều thống nhất nhìn nhận những nét đặc sắc trong chỉ đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, thể hiện ở mấy điểm lớn được đại tướng Phạm Văn Trà, bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nêu ra: sớm nhận rõ kẻ thù, đánh giá đúng tương quan lực lượng địch – ta, có chủ trương, quyết sách phù hợp từng thời điểm lịch sử, đánh bại địch từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn; giải quyết tốt quan hệ giữa nhiệm vụ cách mạng miền Bắc và miền Nam, tạo sức mạnh to lớn để đánh bại kẻ thù; giữ vững độc lập tự chủ, đồng thời thực hiện đường lối ngoại giao mềm dẻo nhằm tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Chủ đạo là tư tưởng nhân ái

Ở một tầm cao mới, đại tướng Lê Đức Anh, nguyên chủ tịch nước, nhận định sâu sắc: thắng lợi trọn vẹn của chúng ta có nhiều nguyên nhân, “tôi cho rằng chủ đạo là tư tưởng nhân ái”. “Tư tưởng nhân nghĩa bắt nguồn từ truyền thống chí nhân chí nghĩa của dân tộc ta – “Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn; Lấy chí nhân để thay cường bạo”, và đã được kết tinh ở tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bác đã dạy chúng ta: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” chứ Bác không nói “đánh tiêu diệt”. Thể hiện tư tưởng này, sau Bác là các đồng chí lãnh đạo kế tục, và rồi tư tưởng đó đã chuyển hóa vào đa số chiến sĩ, đồng bào cả nước, thể hiện ở chỗ: trong chiến tranh khi bắt được tù binh – kể cả ác ôn, lính và sĩ quan Mỹ – ta đều thả hết. Bởi vì chúng ta không có hận thù, trả thù gì cả. Nhiều đồng bào ta ở miền Nam đi theo Bác Hồ, một số bị bắt buộc đứng trong hàng ngũ phía bên kia nhưng trong lòng họ vẫn là tinh thần dân tộc.

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã được tiến hành với tinh thần quyết chiến và toàn thắng giải phóng thành phố Sài Gòn hầu như nguyên vẹn.

Chỉ trong vòng 55 ngày đêm (một sự trùng hợp lạ kỳ với 55 ngày đêm Điện Biên Phủ), với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị, bằng ba đòn chiến lược then chốt và cuộc tiến công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, hơn một triệu quân ngụy bị diệt và tan rã, ngụy quyền sụp đổ, chế độ thực dân kiểu mới mà đế quốc Mỹ đã dày công xây dựng qua năm đời tổng thống bị đập tan.

(Trích tham luận của đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Bởi vậy tôi cho rằng “nhân ái” là cái gốc, là nhân tố chủ yếu để thắng lợi. Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại vừa qua thì thắng lợi là thắng lợi của toàn dân tộc, đã là người VN thì ai cũng được hưởng vinh quang này”.
Học giả Trần Bạch Đằng cũng nhận định: “Những gì mà chúng ta đạt được trong ngày 30-4 tại Sài Gòn cho thấy tư tưởng quân sự, tư tưởng chiến tranh của Đảng Cộng sản VN chứa tính nhân văn rất cao”. Ông kết luận tham luận: “Một chiến thắng như thế nổi bật trong các chiến thắng chống ngoại xâm của người VN, cần đo lường bằng trái tim, bằng truyền thống vì chiều kích quá lớn của nó”.

“Tấn công” và “nổi dậy”

“Nếu nói tới chiến thắng 30-4-1975 mà chỉ nói về năm cánh quân – năm hướng tiến công, tức là chỉ nói về các “quả đấm chủ lực” thì không đầy đủ” – đại tướng Lê Đức Anh đóng góp. Theo ông, phải thấy rõ đây thật sự là cuộc tổng tiến công và nổi dậy, trong đó “quả đấm chủ lực” với những binh đoàn cơ động là lực lượng nòng cốt của đấu tranh quân sự , với những đòn điểm huyệt đã đánh trúng, đánh hay, đánh hiểm ở những trận then chốt và then chốt quyết định, chọc thủng và làm vỡ tuyến phòng thủ chiến lược của địch, khiến quân địch nhanh chóng lâm vào thế bị động, lúng túng rồi vỡ trận về quân sự, hoảng loạn về tinh thần.

Nhưng để giải quyết đồng loạt, rộng khắp, kịp thời làm cho bộ máy ngụy quyền và đội ngũ ngụy quân với trang bị hiện đại, được viện trợ mạnh của đế quốc Mỹ tan rã, thì phải thấy rõ vai trò tiến công và nổi dậy của lực lượng tại chỗ, của lực lượng chính trị quần chúng, trong đó có lực lượng của những người bị bắt buộc đứng trong hàng ngũ của địch, cơ sở cách mạng trong hàng ngũ địch.

Những dẫn chứng lịch sử từ trình bày của Phó bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Văn Cương càng làm rõ hơn nhận định ấy. Ông Võ Văn Cương cho biết: trong những ngày này, để chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn, Trung ương Cục miền Nam đã điều động cán bộ nhiều nguồn về tăng cường cho Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định.

Trong nội thành và các vùng ven, Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định chỉ đạo các lực lượng lãnh đạo hàng vạn quần chúng đợi thời cơ nổi dậy. Và chính trong những ngày cuối tháng tư, lực lượng vũ trang Sài Gòn – Gia Định với sáu trung đoàn đặc công, một lữ đoàn đặc công biệt động và bốn tiểu đoàn bộ binh đã tham gia chiến dịch, đánh chiếm các sân bay, kho tàng, cầu đường… để dọn đường cho quân chủ lực đánh đòn quyết định.

Ở một phía khác, ông ghi nhận đóng góp của sức mạnh binh vận và lực lượng thứ ba. “Ngày 29-4, được sự chuẩn bị của ngành binh vận, luật sư Triệu Quốc Mạnh (đảng viên, cơ sở nội tuyến trong lòng địch) đã chớp thời cơ khi được giao chức vụ giám đốc Nha Cảnh sát đô thành, ra lệnh giải tán các phòng cảnh sát đặc biệt; lệnh cho tiểu đoàn cảnh sát dã chiến không được nổ súng khi chưa có lệnh; lệnh thả hết tù chính trị; lệnh cho cảnh sát tự do về nhà lo cho gia đình, làm tan rã 16.000 cảnh sát”.

“Sáng 30-4, các lực lượng bí mật, công khai chiến lược của ta có mặt tại dinh Độc Lập đã tiếp cận tổng thống ngụy Dương Văn Minh. Cơ sở nội tuyến bí mật của Ban binh vận Trung ương Cục miền Nam, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu trưởng ngụy, đã tác động tư lệnh biệt khu thủ đô Lâm Văn Phát ra lệnh cho các đơn vị quân đội án binh bất động và thúc đẩy tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh ra tuyên bố đầu hàng. Những hành động trên đã góp phần hạn chế đổ máu, tạo thêm thế và lực cho quân và dân ta tiến vào Sài Gòn” – ông kể.

ĐẶNG ĐẠI – HỒNG QUỲNH

Nhân chứng đặc biệt – Kỳ 3

“Ông Tùng đã thảo văn kiện đầu hàng”

Đại tá Bùi Văn Tùng

TT – Trong phần tường thuật dưới đây, nhà báo chuyên nghiệp Borries Gallasch đã trả lời một cách chắc chắn về vấn đề gây tranh cãi hàng chục năm qua: người đã thảo lời tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh.

Thảo văn kiện

Sau một vài phút, ông Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu và ông Bùi Văn Tùng rời khỏi phòng, theo sau là những người đã có mặt tại đây để sang đài phát thanh. Chúng tôi bước xuống cầu thang ra bãi cỏ, đến ngang chỗ vòi phun nước, tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu leo lên một chiếc xe jeep được bảo vệ bởi hai chiến sĩ giải phóng (đại úy Phạm Xuân Thệ đi xe này – TS). Chính ủy Bùi Văn Tùng và một người lính khác lên chiếc xe thứ hai. Tôi đang đứng ngay cạnh chiếc xe jeep nói chuyện với ông chính ủy bằng tiếng Pháp, cố gắng xin ông ta để được lên xe. Ông gật đầu đồng ý. Luật sư Đỉnh với bộ râu dài cũng leo lên chiếc xe jeep này và chúng tôi lái đi. Chỉ có hai chiếc xe này của chúng tôi chạy giữa thành phố lúc ấy – một thành phố đã từng sôi sục mà nay sự sợ hãi bỗng nhiên được làm dịu đi – qua tòa đại sứ Mỹ trống hoác, đến đài phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng và nhà báo Borries Gallasch tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 (Ảnh tư liệu gia đình của Borries Gallasch)

Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Những kỹ thuật viên đã lấy chân dung của Thiệu từ trên tường xuống và ném qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi ngồi bất động một lát. Ông Mẫu quạt mặt mình bằng một quyển sách. Tổng thống Dương Văn Minh và chính ủy xe tăng Bùi Văn Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ. Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh.

Ông Mẫu trông có vẻ hài lòng. Ông tỏ ra như thể chiến thắng này là chiến thắng của ông. Người thành lập và phát ngôn cho lực lượng thứ ba, mà mới tuần trước đã giải thích cho tôi tại sao nhóm trung lập của ông ấy sẽ là một nhân tố cần thiết cho bất cứ một tương lai chính trị nào ở Nam VN, nay tuyên bố rằng: “Không còn lực lượng thứ nhất nữa nên chúng ta không còn cần đến lực lượng thứ ba, hòa giải dân tộc diễn ra sớm hơn dự định. Bây giờ dù muốn hay không chúng ta cùng làm việc cho nhân dân ta”. “Không phân biệt chính kiến?”. “Đúng, chúng ta có khác nhau về quan điểm nhưng những điểm khác nhau đó chỉ hướng chúng ta đi đến một mục đích chung”.

Chính ủy Tùng đã rất khó viết. Ông ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào.

Trong lúc đấy mọi người dường như đang thư giãn và giảm phấn khích hơn so với một giờ trước. Đại úy Phạm Xuân Thệ, người đã bắt ông Minh trong dinh, vẫn còn lăm lăm khẩu súng trong tay. Ông ta nhắc đi nhắc lại với ông Minh về việc đầu hàng trên đài.

Thời khắc lịch sử

Đại tướng Dương Văn Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người lính bộ đội nhìn ông Minh với vẻ tò mò. Họ vây quanh ông ta trong lúc phía bên ngoài vẫn còn nghe những tiếng nổ. Những người lính giải phóng đã thể hiện sự vui mừng không kìm nén được. Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người lính: “Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú ấy?”. Đó là số mệnh của những người dân VN: người em của tổng thống là một tướng lĩnh trong quân đội miền Bắc VN và trong 20 năm anh em ruột thịt ở hai bên chiến tuyến (Tuổi Trẻ sẽ trở lại câu chuyện này trong một hồ sơ sắp tới).

Trên đường tìm kiếm tài liệu và gặp gỡ nhân chứng, vào tháng 3-2005, phóng viênTuổi Trẻ đã đến Bộ tư lệnh Quân đoàn II đóng ở Bắc Giang (cách Hà Nội 80km). Trong khi xem xét kỹ từng hiện vật ở bảo tàng quân đoàn (lúc đó còn rất ngổn ngang vì đang sắp xếp trưng bày lại), phóng viên Tuổi Trẻđã sửng sốt khi nhìn thấy bản thảo lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh. Đó là hai trang giấy pơluya màu xanh, nhăn nhúm và lấm lem bụi đường. Nhìn nét chữ thì biết ngay của đại tá Bùi Văn Tùng và cán bộ bảo tàng cũng xác nhận điều đó.

Điều đáng nói là ngay bên cạnh bản thảo viết tay của đại tá Tùng, chúng tôi lại thấy một bản thảo cùng nội dung, nhưng được một người nào đó viết. Trả lời thắc mắc này, cán bộ Bảo tàng Quân đoàn II nói rằng: Sợ bản thảo gốc bị mờ, giấy lại nhăn, khó đọc, nên bảo tàng cho người viết lại để dễ đọc. 

Một lời giải thích khó có thể chấp nhận! Do vậy cán bộ bảo tàng đã không thể trả lời được câu hỏi tiếp theo: Điều gì sẽ xảy ra khi bản thảo của đại tá Tùng bị mất, và con cháu chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy một bản thảo được ai đó viết lại?

Sau cuộc hội ý với cấp trên, sĩ quan tuyên huấn quân đoàn đã không đồng ý cho phóng viên sao chụp, ghi hình tư liệu này.                                       

BÙI THANH

Đại úy Thệ im lặng. Tất cả mọi người bỗng nhiên im lặng. Rồi một vài người lính giải phóng nói chuyện với tôi bằng tiếng… Nga. Họ trông thấy phù hiệu “Báo chí Đức” trên áo sơmi của tôi và tưởng tôi là nhà báo Đông Đức. Họ đã nói chuyện với tôi về Các Mác. Bạn tôi là Hà Huy Đỉnh đã giải thích cho họ rằng tôi là nhà báo Tây Đức. Mặt họ sầm xuống, tỏ ra nghi ngờ và e dè hơn.

Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng, nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rất rõ ràng cho tôi những việc tôi phải làm: ông Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố vào máy ghi âm của tôi, việc này được lặp đi lặp lại ba lần. Lần đầu tiên ông Minh chần chừ vì được yêu cầu phải đọc là: “Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”, nhưng ông ấy chỉ muốn nói: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh…”. Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận: không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh phải nói: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn”. Nhưng ông Minh không đọc được bản viết tay của chính ủy Tùng và nói sai nhiều lần. Tất cả mọi thứ lại phải được đọc lại từ đầu. Cuối cùng đã xong. Ông Minh kết thúc âm giọng chính xác: “…miền Nam Việt Nam”.

Tôi cũng ghi âm lời phát biểu của ông Mẫu và ông chính ủy Tùng rồi chúng tôi đi vào phòng thu thanh. Tôi ngồi ngay trước micro và bật băng của ba bài phát biểu. Ông Minh ngồi bên tay trái tôi. Chính ủy Tùng, ông Mẫu đứng đằng sau chúng tôi. Kỹ thuật viên ngồi phía bên kia của kính ngăn yêu cầu bật máy lại, lần này để máy lại gần micro hơn và không quá to. Lúc này mọi sự đều tốt đẹp. Chính ủy Bùi Văn Tùng đã nói những gì với tôi mà tôi không hiểu. Hà Huy Đỉnh dịch lại. Tôi đã được ông cảm ơn về sự giúp đỡ của tôi và cho phép tôi chở ông về lại dinh Độc Lập trên chiếc xe jeep. Chúng tôi rời khỏi tòa nhà. Tôi ngồi sau tay lái và ông chính ủy ngồi ghế bên.

Tôi không thể nổ máy chiếc xe. Lúc ấy ông chính ủy trở nên sốt ruột và chúng tôi đã đi sang một chiếc xe khác, nơi tôi lại ngồi băng ghế sau. Chúng tôi lại đi qua những con đường của VN. Lúc ấy khoảng 2g chiều, những người lính của Mặt trận Giải phóng đã đứng gác tại tất cả các ngã tư và trên những con đường đã rất đông người. Chúng tôi đã đi mà không có bảo vệ. Sài Gòn đã chắc chắn ở trong tay của chính quyền cách mạng, không gặp sự kháng cự nào.

Tại dinh Độc Lập, tôi nhảy ra khỏi xe. Trên khuôn mặt bình thản của chính ủy Bùi Văn Tùng giấu một nụ cười. Rồi ông nói với tôi bằng một câu tiếng Đức mà ông biết: “Danke” (cảm ơn).

Hai ngày sau, ông Minh được tự do trở về nhà với vườn hoa phong lan của mình.

Trong ảnh, Borries Gallasch ngồi cạnh ông Dương Văn Minh để chuẩn bị ghi âm lời tuyên bố đầu hàng. Đây là bức ảnh duy nhất ghi lại thời khắc lịch sử ở Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30-4-1975.

Tác giả bức ảnh này là nhà báo Kỳ Nhân – một nhà báo đối lập trước năm 1975, lúc đó đang cộng tác cho Hãng tin AP (Mỹ). Khi nhìn thấy bức ảnh duy nhất này, cả George Esper và Peter Arnett (phóng viên chiến trường nổi tiếng, sau này làm cho CNN) đều thảng thốt: “Tấm ảnh này sẽ đi vào lịch sử!”.

Nhà báo Kỳ Nhân đã giao phim và ảnh cho AP. Sau đó ít ngày, George Esper và Peter Arnett đã “tặng” lại cho đại diện quân giải phóng là trung úy Phùng Bá Đam (nay là đại tá). Trước khi đi học, ông Đam có bàn giao phim và ảnh lại cho bộ phận tuyên huấn  của Trung đoàn 66, Sư đoàn 304.

B.T.

BORRIES GALLASCH (Nam Hải – Tiến Long dịch)

tuoitre.vn

Nhân chứng đặc biệt – Kỳ 2

Người châu Âu duy nhất trong dinh Độc Lập

Từ trái sang: ông Nguyễn Văn Binh, ông Nguyễn Hữu Hạnh, ông Dương Văn Minh, ông Nguyễn Văn Hảo và ông Vũ Văn Mẫu đang nói chuyện với đại diện quân giải phóng trưa 30-4-1975 (ảnh do gia đình nhà báo Borries Gallasch tặng đại tá Bùi Văn Tùng)

TT – Borries Gallasch vào tháng 4-1975 là phóng viên của báo Tấm Gương (Đức), thường trú tại miền Nam VN.

Sáng 30-4-1975, mặc dù “sợ đến run cả hai đầu gối”, Borries Gallasch vẫn tìm cách “lọt” vào bên trong dinh Độc Lập, và sau đó trở thành phóng viên nước ngoài duy nhất chứng kiến thời khắc lịch sử ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Dưới đây là tường thuật của ông, với tư cách một nhà báo. Nó được viết cách đây 32 năm và được in trong cuốn Ho – Tschi – Minh Stadt. Vì cuốn sách được viết từ năm 1975, nên không thể tìm thấy trong các hiệu sách ở Đức. Nhờ nỗ lực của nhà quay phim Đặng Việt Tùng, bản sách duy nhất của Borries Gallasch đã được gửi về VN vào giữa năm 2006.

“Lọt” vào nơi chuyện quan trọng sẽ xảy ra

Đúng 7 giờ sáng, những chiếc máy bay trực thăng cuối cùng của không lực Hoa Kỳ rời khỏi Sài Gòn. Đến 12g trưa, những lá cờ của Mặt trận Giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc Lập.

Dietrich Mummendey cùng tôi đã trụ lại qua đêm tại Hội Chữ thập đỏ nằm trên đường Hồng Thập Tự. Vào khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi đi đến khách sạn Caravelle nơi tập trung hầu hết phóng viên thông tấn nước ngoài còn ở lại. Đầu tiên là người Pháp, người Nhật, một vài người Anh, Ý và cả chúng tôi. Mummendey và tôi không thể nán lại lâu hơn nên đã đi đến văn phòng của Hãng Reuters, nằm cách khách sạn khoảng 2km.

Quân giải phóng

Mặc dù sợ đến run cả hai đầu gối, nhưng sau đó tôi vẫn đi bộ đến dinh Độc Lập vào lúc 11g sáng hôm ấy. Tôi đứng một mình trước dinh mà giờ đây yên lặng như một viện bảo tàng và ngổn ngang những mũ sắt, quân phục, súng ống, thậm chí cả lựu đạn và một khẩu súng chống tăng, súng máy ngay tại bãi cỏ.

Không có một bóng người nào ở đó. Những tiếng nổ từ phía kho đạn của sân bay Tân Sơn Nhất vẫn còn vọng lại. Tôi bước qua cánh cổng sắt mở hé. Một thiếu tá bước sát ngay bên cạnh tôi, nhưng làm như có vẻ không nhìn thấy tôi. Tôi băng ngang qua bãi cỏ và nghĩ rằng có thể bị ai đó bắn bất cứ lúc nào. Ngay bên những bậc thang dẫn đến lối vào chính có những người lính đang cãi vã. Một chiếc Limousine đen, bên trong là ông Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống của một chính thể không còn nữa, nói với tôi: “Chúng tôi đang chờ phái đoàn của Mặt trận Giải phóng vào dinh, anh có thể đợi nếu anh muốn”. Những người lính của đội cận vệ tổng thống thậm chí đã không thèm chào khi một nhân vật quan trọng thứ hai của quốc gia được chở ra bằng cổng sau.

Tôi hít một hơi thật sâu rồi bước tiếp lên những bậc tam cấp đi vào cửa chính qua tiền sảnh rồi đi lên lầu một. Tại đây tôi gặp Hà Huy Đỉnh – một luật sư Sài Gòn người nhỏ bé và cũng là học trò của thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Hà Huy Đỉnh, người mà chỉ vừa mới đi lên từ tầng hầm đã có cùng ý nghĩ như tôi: đi đến một chỗ mà nếu có chuyện gì quan trọng xảy ra thì sẽ xảy ra ở đấy.

Một cảnh ngoạn mục

Trong khoảnh khắc ấy, khi chúng tôi còn đang đứng ở giữa sảnh thì cửa thang máy bật mở, bước ra là tổng thống Minh “lớn”, thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một vài người thân cận từ dưới hầm trú ẩn đi lên. Ông Minh “lớn” (Big Minh) nói: “Thật là tốt khi anh có mặt ở đây, anh sẽ chứng kiến sự chuyển đổi vận mệnh của đất nước tôi vào tay những người xứng đáng hơn tôi”.

Trong lúc những nhân viên của tổng thống Dương Văn Minh đi đi lại lại đầy lo âu, thì ông vẫn đứng im lặng giữa sảnh và phóng tia mắt nhìn qua cửa sổ phía trước của dinh về hướng nhà thờ Đức Bà. Bỗng nhiên những tiếng nổ inh tai của súng máy vang lên. Tôi nằm rạp xuống sàn tìm kiếm sự che chắn đằng sau cột ximăng. Phút cuối cùng của sự nổi dậy, một cuộc đánh chiếm dinh?!

Không có tấm kính nào bị vỡ, chúng tôi rời khỏi chỗ nấp. Minh “lớn” vẫn đứng nguyên chỗ cũ, to lớn như một bức tượng bên cạnh ông thủ tướng thấp bé. Rồi trước mắt chúng tôi xuất hiện cảnh tượng không thể tin được: ba chiếc xe tăng treo những lá cờ của Mặt trận Giải phóng tiến qua cổng sắt hướng về phía bồn hoa trước dinh. Súng bắn loạn xạ lên không trung, những phát súng của niềm vui, dàn giao hưởng của chiến thắng, giai điệu của vinh quang. Chiếc tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng, lăn xích thẳng trên bãi cỏ nhằm hướng dinh lao tới. Hai chiếc tăng còn lại vòng sang hai bên và rồi tất cả đều dừng lại trước mặt tiền của dinh. Khoảng 20-30 phát súng khác được bắn lên.

Xe tăng lữ đoàn 203 đang ào ạt tiến vào sân dinh Độc Lập trưa 30-4-1975 - Ảnh: Borries Gallasch

Tôi chạy ra ban công chụp ảnh. Tôi và Hà Huy Đỉnh thay phiên nhau. Thật là một cảnh ngoạn mục. Và rồi một người lính giải phóng với khẩu súng bên tay trái và một lá cờ bên tay phải xông lên cầu thang suýt xô ngã tôi. Hai chiến sĩ giải phóng khác chiếm lấy vị trí bên phải và bên trái của cầu thang. Đầu tiên không ai nhận thấy Minh “lớn” và những người khác đang chờ họ ở phía bên kia của phòng tiếp khách.

Một người lính đứng ngay trước mặt tôi. Anh ta hét vào tôi, hét đi hét lại điều gì đó mà tôi không hiểu. Hà Huy Đỉnh hét giải thích cho tôi là mở cửa ra ban công. Tôi mở cánh cửa kính ra vào. Anh ta lướt qua tôi, kéo cờ lên và vẫy đi vẫy lại.

Ở phía dưới nhiều chiếc xe tăng tiếp tục tiến vào và tất cả đều bắn lên không trung. Một vài nhà báo chạy vào qua bãi cỏ.

Khoảng 30 binh sĩ của chế độ Sài Gòn đứng giơ tay đầu hàng và xếp thành ba hàng trên bãi cỏ.

Là một người châu Âu duy nhất, là một nhà báo duy nhất, tôi chứng kiến đại tướng Minh “lớn” – tổng thống của VN cộng hòa, đã bị bắt bởi Phạm Xuân Thệ, chỉ huy của đoàn Đông Sơn thuộc quân đội giải phóng. Tay cầm súng ngắn đã lên đạn, một khẩu K54 của Nga, Thệ rất phấn khích la lớn yêu cầu ông Minh ra đài phát thanh.

Nhưng tướng Minh không muốn đi. Ông ta đề nghị rằng bài nói của ông phải được thu âm vào máy thu ở trong dinh. Họ tranh luận việc đó. Càng lúc càng nhiều người lính giải phóng chạy vào. Rồi họ bắt đầu tìm máy thu nhưng không có kết quả. Không có một cái máy ghi âm nào trong dinh cả.

Sự hoang mang chấm dứt khi người chỉ huy của quân giải phóng, chính ủy Bùi Văn Tùng xuất hiện. Ngay lúc đó, một nhóm đông người tập trung lại và được đưa vào phòng tiếp khách của tầng thứ nhất.

BORRIES GALLASCH (Nam Hải – Tiến Long dịch)

oOo

Trong phần tường thuật kỳ tới, nhà báo Borries Gallasch sẽ góp câu trả lời rõ ràng của mình cho vấn đề gây tranh cãi hàng chục năm qua: người đã thảo lời tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh.

Kỳ tới “Ông Tùng đã thảo văn kiện đầu hàng”

tuoitre.vn

Nhân chứng đặc biệt – Kỳ 1

Trung tá Tùng hay đại úy Thệ?

Những gì diễn ra tại dinh Độc Lập và Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30-4-1975 là một phần trong sự kiện lịch sử tại Sài Gòn cách nay 36 năm. Nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều câu hỏi xung quanh sự kiện chấp bút soạn thảo văn kiện đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh, nó đã trở thành cuộc “tranh chấp sự thật” giữa nhiều cơ quan, báo đài và giữa hai người lính: đại tá về hưu Bùi Văn Tùng và trung tướng tư lệnh Quân khu I Phạm Xuân Thệ.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc lập.

TT – Ai là người đã chấp bút soạn thảo văn kiện đầu hàng cho tướng Dương Văn Minh ngày 30-4-1975 tại Đài phát thanh Sài Gòn? Hơn 20 năm qua, cả ông Bùi Văn Tùng và ông Phạm Xuân Thệ đều trả lời: Tôi!

Bản thảo ở đâu ?

32 năm trước, vào tháng 4-1975, ông Bùi Văn Tùng mang cấp bậc trung tá, là chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 thuộc Quân đoàn 2. Còn ông Phạm Xuân Thệ lúc đó còn rất trẻ so với ông Tùng, là đại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 bộ binh, cũng thuộc Quân đoàn 2. Cả hai viên sĩ quan này đều can dự trực tiếp vào diễn biến lịch sử trong ngày lịch sử 30-4-1975 tại dinh Độc Lập và Đài phát thanh Sài Gòn. Lúc ấy, không ai trong số họ, cũng như những người lính khác, nghĩ về tiếng tăm, công trạng từ những hành động của mình. Họ chỉ làm nhiệm vụ người lính.

Nhưng 10 năm sau, sự rắc rối bắt đầu diễn ra.

Tại TP.HCM, trong nhiều dịp kỷ niệm 30-4, ông Bùi Văn Tùng thường xuất hiện như một nhân chứng lịch sử. Ông được nhiều trường học và cơ sở Đoàn mời đến nói chuyện về khoảnh khắc lịch sử ấy. Có rất nhiều chương trình truyền hình, cả trăm bài báo nói về vị đại tá về hưu người Đà Nẵng này. Ông được biết đến như một sĩ quan cao cấp nhất có mặt tại dinh Độc Lập trưa 30-4-1975. Ông khẳng định vô số lần rằng chính ông đã thảo bản tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh, và chính ông cũng đã đại diện cho quân giải phóng miền Nam chấp nhận sự đầu hàng đó tại đài phát thanh.

Trung tướng tư lệnh Quân khu I Phạm Xuân Thệ trong lần trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ tại nhà riêng ở Thái Nguyên - Ảnh: Lam Điền

Nhưng từ năm 1985, ông Phạm Xuân Thệ bắt đầu xuất hiện trên báo chí và các cuộc hội thảo, cũng với tư cách một nhân chứng lịch sử và cũng khẳng định chắc nịch rằng chính ông đã trực tiếp thảo văn bản nói trên.

Chúng ta hãy đọc một đoạn hồi ức của trung tướng Phạm Xuân Thệ trên VietnamNet cách đây vài hôm: “…Tôi đến cửa, toàn bộ nội các của họ đứng dậy chào. Vẻ mặt ai cũng bồn chồn lo lắng, có người lúng túng sợ sệt. Tổng thống Dương Văn Minh chậm rãi: “Biết quân giải phóng đã vào thành phố, nội các chúng tôi đang chờ các ông để bàn giao”. Tôi nói dứt khoát: “Các ông phải đầu hàng vô điều kiện. Yêu cầu tất cả xếp hàng đôi ra khỏi ngôi nhà này”. Tổng thống Dương Văn Minh khẩn khoản: “Chúng tôi xin được ở đây. Ra ngoài bây giờ không an toàn”. Tôi ra lệnh: “Các ông phải ra ngay đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện”. Sau đó tôi đưa ông ra đài phát thanh.

Tôi thảo bản tuyên bố: “Tôi – Dương Văn Minh – tổng thống chính quyền Sài Gòn, tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước sức mạnh của quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi kêu gọi chính quyền từ trung ương đến địa phương giải tán toàn bộ, trao lại cho quân giải phóng miền Nam Việt Nam”. Ông ta phản đối chữ “tổng thống”, đòi đổi thành “đại tướng”, tôi không chịu: “Đã nhận chức tổng thống mới một ngày hay một giờ ông cũng là tổng thống”.

Đó cũng là nội dung tướng Phạm Xuân Thệ kể lại cho các nhà báo nhiều năm qua. Rất tiếc là lời tuyên bố đầu hàng mà ông Thệ cho rằng ông viết lại không khớp với nội dung ông Dương Văn Minh tuyên bố trên đài. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là những chuyện ông Thệ khẳng định do ông làm cũng là những chuyện ông Tùng khẳng định do ông Tùng làm. Cả hai ông đều cho rằng chính mình đã chấp bút bản tuyên bố đầu hàng. Vậy bản thảo đâu?

Đại tá Bùi Văn Tùng trả lời Tuổi Trẻ: “Do không ý thức được giá trị của nó, nên tôi đã vò bản thảo và đút vào túi quần. Sau đó, tôi đã trao lại cho cán bộ chính trị quân đoàn theo yêu cầu của họ”.

Trung tướng Phạm Xuân Thệ trả lời Tuổi Trẻ: “Bản thảo đó tôi đút vào túi áo. Khi xong việc ở đài phát thanh, quay về đơn vị để tắm rửa, giặt giũ, thay quân phục, tôi quên lấy bản thảo này ra nên đã mất luôn”.

Một bản thảo duy nhất lại có thể vừa nằm trong túi quần chính ủy lữ đoàn, lại vừa nằm trong túi áo đại úy trung đoàn phó? Thật vô lý. Nhưng điều vô lý đó cứ kéo dài như thế, rồi trở thành cuộc tranh cãi gần đây.

Đại tá về hưu Bùi Văn Tùng - Ảnh: L.Đ.

Không ai chịu ai!

Trước dư luận như vậy, cơ quan chức trách thuộc Bộ Quốc phòng đã làm gì? Ngày 17-1-2006, sau ba tháng nghiên cứu, lãnh đạo Viện Lịch sử quân sự đã thông báo “kết quả nghiên cứu, khảo sát những vấn đề chưa thống nhất xung quanh sự kiện đánh vào dinh Độc Lập”. Trong cuộc họp báo tại Hà Nội, thiếu tướng Trịnh Vương Hồng không coi đây là “kết luận”, mà chỉ là “thông báo kết quả nghiên cứu”. “Thông báo” đó tóm tắt như sau:

– “Việc bắt tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các ở phòng họp dinh Độc Lập và áp giải Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh” là của một số cán bộ chiến sĩ trung đoàn 66 do đại úy Phạm Xuân Thệ chỉ huy.

– Đại úy Phạm Xuân Thệ cùng cán bộ trung đoàn 66 đã tổ chức soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh. Văn bản đang được soạn thảo thì trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng mới xuất hiện, và sau đó cùng tiếp tục thảo và hoàn chỉnh lời tuyên bố đó.

Ngay sau khi báo chí đưa tin nội dung cuộc họp báo nói trên, từ TP.HCM, đại tá Bùi Văn Tùng đã lập tức phản ứng. Ông cho rằng “kết luận” đó không khách quan, nghiêng về phía trung tướng tư lệnh Quân khu I Phạm Xuân Thệ và yêu cầu phải tiếp tục làm sáng tỏ sự thật lịch sử.

Không dừng lại đó, những người lính trên chiếc xe tăng nổi tiếng 390 cũng đã lên tiếng phản đối “thông báo” của Viện Lịch sử quân sự với những lời lẽ gay gắt.

Và cuộc “bút chiến” đã nổ ra khi tạp chí Xưa & Nay (thuộc Hội Khoa học lịch sử VN) thực hiện một chuyên đề dài 12 trang về diễn biến ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn. Trong đó, ông Dương Trung Quốc và các tác giả khác đã đưa ra nhiều tư liệu và luận cứ khác, nhằm gián tiếp chứng minh rằng “thông báo” của Viện Lịch sử quân sự là không đầy đủ, không khách quan và chính xác. Không lâu sau đó, tạp chí Lịch Sử Quân Sự (cơ quan của Viện Lịch sử quân sự) “đáp trả” cũng bằng một chuyên đề nhiều trang về sự kiện này.

Mọi chuyện không chỉ dừng lại ở hai tạp chí chuyên ngành. Tại Liên hoan truyền hình toàn quốc 2007, Đài truyền hình TP.HCM (HTV) đã tung ra bộ phim tài liệu lịch sử đáng chú ý, với tựa đề Dinh Độc Lập trưa ngày 30-4 của đạo diễn Lâm Thành Quí. Với những tư liệu và nhân chứng mới, bộ phim này đã gián tiếp phủ nhận “thông báo kết quả nghiên cứu” của Viện Lịch sử quân sự. Bộ phim được các thành viên giám khảo đánh giá rất cao (dự kiến lúc 21 giờ 25 tối nay 28-4, HTV sẽ chiếu bộ phim này trên kênh HTV 9).

Thế còn ý kiến của các nhân chứng có mặt tại Đài phát thanh Sài Gòn vào trưa 30-4 thì sao? Điều đáng nói là các nhân chứng này cũng chia làm hai, và không ai chịu ai! Như các đồng đội cũ ở trung đoàn 66 bộ binh của trung tướng Phạm Xuân Thệ là thiếu tướng Hoàng Trọng Tình, đại tá Phùng Bá Đam… vẫn cho rằng chính ông Thệ đã tổ chức soạn thảo và chấp bút bản tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh. Còn các nhân chứng khác cũng có mặt trong khoảnh khắc lịch sử đó như: nhà báo Kỳ Nhân (lúc đó làm việc cho Hãng AP, người chụp bức ảnh duy nhất tại đài phát thanh), sinh viên Nguyễn Hữu Thái, sinh viên Huỳnh Ngọc Chênh… lại khẳng định người làm việc đó là chính ủy Bùi Văn Tùng. Nhưng tất cả nhân chứng nói trên chỉ có thể dựng lại hiện trường theo trí nhớ của mình.

BÙI THANH – LAM ĐIỀN

Còn một nhân chứng chưa bao giờ gặp được. Nhân chứng đặc biệt. Đó là một người Tây Đức. Ông ta đã qua đời cách đây vài năm tại Mỹ vì bệnh ung thư. Nhưng những tư liệu ông ta để lại là rất có giá trị trong việc xác định một sự thật lịch sử.

Kỳ tới: Người châu Âu duy nhất trong dinh Độc Lập

tuoitre.vn

Hiệp định Paris về Việt Nam, một mốc son trên đường thắng lợi

ND – Ba mươi tám năm đã qua kể từ ngày 27-1-1973, ngày Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Như đối với bất cứ sự kiện lịch sử nào, đối với Hiệp định Paris về Việt Nam cũng vậy, độ lùi về thời gian càng xa, sự đánh giá càng trở nên toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.

Cho đến nay, vẫn còn như mới nguyên những câu hỏi từng được đặt ra, từng được giải đáp và ngày nay, tiếp tục được khẳng định một cách mạnh mẽ hơn, chắc chắn hơn. Ðó là: Con đường nào dẫn tới cuộc đàm phán Paris? Ðâu là thực chất của cuộc đàm phán? Ðâu là nội dung và ý nghĩa của Hiệp định Paris, nhất là đối với đại thắng mùa Xuân năm 1975?

Con đường nào dẫn đến cuộc đàm phán ?

Có thể nói gọn, đó là con đường đấu tranh quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường và chỉ có thắng lợi trên chiến trường mới buộc địch phải tới bàn đàm phán.

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền nam, cả về quân sự và chính trị, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã phá sản. Ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ðể hòng cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ “chiến tranh đặc biệt” chuyển thành “chiến tranh cục bộ”, thực chất là “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh.

Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền nam, mặt khác, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền bắc, đưa chiến tranh xâm lược ra cả nước ta. Ba năm 1965, 1966, 1967 là thời gian Mỹ điên cuồng leo thang chiến tranh.

Ðể lừa bịp dư luận, chính quyền Johnson rêu rao “miền bắc xâm lược miền nam” và mở cuộc vận động “ngoại giao hòa bình”, đòi “miền bắc đình chỉ thâm nhập người và dụng cụ chiến tranh vào miền nam, rút quân khỏi miền nam” và “đàm phán không điều kiện với Mỹ”.

Về phía ta, ngay từ đầu, Ðảng ta đã nhận định rằng, Mỹ buộc phải “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược. Mặc dù Mỹ đưa vào miền nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền bắc, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch.

Trên thực tế, Mỹ càng leo thang chiến tranh thì càng vấp phải những đòn giáng trả mãnh liệt của ta, cuối cùng, càng thấy đất trời mù mịt. Về mặt ngoại giao, ta nêu cao chính nghĩa của cuộc chiến đấu, bóc trần bộ mặt xâm lược và tính chất nguy hiểm của các hành động leo thang chiến tranh cùng thủ đoạn đàm phán hòa bình giả hiệu của địch.

Ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền bắc. Ðiều kiện tiên quyết của ta cho đàm phán là: chỉ khi nào Mỹ chịu chấm dứt ném bom, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới nói chuyện với Mỹ.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền trung trong Tết Mậu Thân năm 1968 cùng với thắng lợi của miền bắc đánh bại chiến tranh phá hoại đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ.

Ðêm ngày 31-3-1968, phát biểu ý kiến trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Johnson thừa nhận thảm bại trong Tết Mậu Thân và thông báo, đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền bắc Việt Nam, trừ khu vực phía bắc khu phi quân sự. Ông còn cam kết “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa.

Trong tình thế đã thay đổi có lợi cho ta, bằng một đòn tiến công ngoại giao mới, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ.

Cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20

Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bắt đầu tại Paris và gần sáu tháng sau đi đến thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31-10-1968, đồng thời thỏa thuận về việc triệu tập tại Paris một hội nghị để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Ngày 25-1-1969, Hội nghị Paris về Việt Nam họp phiên đầu tiên, mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”.

Hội nghị Paris về Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20, cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: Giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, giữa hòa bình với chiến tranh.

Ðó là cuộc đối thoại giữa hai thế lực đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị, chính nghĩa.

Ðó còn là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Paris đã diễn ra một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau.

Cả ta và đối phương đều đến hội nghị với những mục đích và đòi hỏi đối lập nhau. Ta đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền nam. Mỹ cũng nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Có nghĩa là Mỹ tiếp tục thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, điều Mỹ không làm được trên chiến trường.

Chính vì những đòi hỏi khác nhau đó mà đàm phán vừa mở ra mấy tháng đã dẫm chân tại chỗ. Ðể khai thông, ngày 8-5-1969, đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam đưa ra giải pháp toàn bộ 10 điểm về việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Ðáp lại, ngày 14-5-1969, Tổng thống Mỹ R.Nixon, qua diễn văn đọc trên truyền hình Mỹ, đã đưa ra tám điểm của giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Giải pháp của hai bên vẫn đối chọi nhau như nước với lửa.

Ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam được thành lập. Ngày 8-6, Tổng thống Nixonn công bố chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, chủ trương tìm một con đường khác chứ không phải thông qua đàm phán để rút được quân Mỹ ra khỏi chiến tranh mà vẫn giữ được chính quyền và quân đội Sài Gòn. Thực chất của “Việt Nam hóa chiến tranh” là dùng người Việt đánh người Việt” “thay đổi mầu da của xác chết”. Ðể thực hiện, Mỹ triển khai một kế hoạch toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế, trong đó quan trọng nhất là chuyển giao vũ khí hiện đại cho quân đội Sài Gòn, củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ngăn chặn mọi âm mưu đảo chính.

Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào nhằm ngăn chặn tiếp tế của miền bắc vào miền nam, cô lập lực lượng cách mạng miền nam từ bên ngoài. Về ngoại giao, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới trong khuôn khổ “học thuyết Nixon”, tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô – Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo điều kiện có lợi cho Mỹ.

Thực tiễn cho thấy, những gì Mỹ không làm được thời kỳ “Mỹ hóa” cao độ cuộc chiến tranh thì không làm được trong thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh”. Những năm 1969 – 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa hai bên trên chiến trường cũng như tại bàn đàm phán. Ðàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận được thất bại của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhất là sau thắng lợi của ta ở Ðường 9 – Nam Lào và trong Chiến dịch Ðông- Xuân 1971-1972, giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn.

Từ cuối năm 1971 đến những tháng cuối năm 1972, cả ta và Mỹ đều đưa ra những đề nghị mới, thông qua đàm phán công khai và đàm phán riêng, cuối cùng đi đến thỏa thuận về một văn bản hiệp định.

Hội nghị Paris về Việt Nam, nếu kể từ cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ (tháng 5-1968) cho đến khi ký được hiệp định đã kéo dài trong 4 năm chín tháng, qua 202 phiên họp công khai và 24 phiên họp riêng.

Mặc dù ngoan cố đến phút cuối cùng, ngày 27-1-1973, Mỹ đã buộc phải ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Hiệp định Paris được sự công nhận và bảo đảm của một hội nghị quốc tế về Việt Nam, thông qua Ðịnh ước quốc tế, ký ngày 2-3-1973 cũng tại Paris.

Hiệp định Paris với Ðại thắng mùa xuân năm 1975

Nội dung cơ bản của Hiệp định Paris và các nghị định thư kèm theo là:

– Mỹ và các nước khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

– Chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Mỹ chống lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Rút hết quân Mỹ và đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền nam Việt Nam. Không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền nam Việt Nam, để nhân dân miền nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình.

– Hai bên trao trả hết tù binh và những người bị bắt trong chiến tranh.

– Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một bên của “hai bên miền Nam Việt Nam”; công nhận trên thực tế miền nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội và hai vùng kiểm soát.

– Mỹ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam.

Hiệp định Paris đáp ứng những yêu cầu cơ bản, có tính nguyên tắc mà Việt Nam đã nêu lên trong đàm phán.

Việc ký kết hiệp định là thắng lợi tổng hợp của cuộc chiến tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao; là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại.

Với việc ký hiệp định, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, tạo ra so sánh lực lượng mới, thuận lợi cho việc thực hiện tiếp mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành giải phóng miền nam. Ðiều chủ yếu nhất trong các điều khoản về quân sự là Mỹ phải rút quân nhưng Việt Nam vẫn giữ nguyên lực lượng chính trị và vũ trang ở miền nam Việt Nam.

Sau gần 20 năm xâm lược và sa lầy ở Việt Nam, ngày 29-3-1973, quân đội viễn chinh Mỹ đã phải lặng lẽ cuốn cờ về nước, không trống, không kèn. Ðây là lần đầu tiên từ hơn một trăm năm, sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài đã chấm dứt trên đất nước ta.

Nếu như việc ký kết Hiệp định Paris là thắng lợi lớn của nhân dân ta thì đó lại là thất bại lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chính vì vậy, ta kiên quyết đấu tranh để hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh, trước hết là Mỹ phải thực hiện các điều khoản về ngừng bắn, rút hết quân và chấm dứt dính líu. Ta cũng đấu tranh để chính quyền Sài Gòn ngồi lại bàn đàm phán với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tại La Xen-lanh-clu để giải quyết các vấn đề chính trị ở miền nam.

Còn Mỹ và chính quyền Sài Gòn tuy buộc phải ký kết hiệp định nhưng vẫn tìm mọi cách phá hoại việc thi hành. Mỹ rút hết quân nhưng vẫn tiếp tay cho chính quyền Sài Gòn tiếp tục các hành động chiến tranh, mưu toan xóa bỏ thực tế ở miền nam Việt Nam đã được hiệp định thừa nhận, đẩy lùi các lực lượng cách mạng, giành giật lại những gì chúng đã mất. Chính vì vậy, cuộc đấu tranh của nhân dân ta để thi hành Hiệp định Paris, thực chất là cuộc đấu tranh để tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền nam, đã tiếp diễn quyết liệt và kéo dài hơn hai năm nữa mới kết thúc được.

Tháng 6-1973, năm tháng sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tại Hội nghị lần thứ 21 BCH T.Ư Ðảng, Ðảng ta đã nhận định tình hình miền nam có thể phát triển theo hai khả năng: một là, ta từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam. Hai là, xung đột quân sự ngày càng tăng cường và mở rộng, ta phải tiếp tục chiến tranh cách mạng, một thời gian nữa để đánh bại Mỹ – ngụy, giành thắng lợi hoàn toàn.

Hội nghị chỉ rõ: Dù tình hình phát triển theo khả năng nào cũng đều phụ thuộc vào thực lực và sự đối phó của ta và điều quyết định trước hết là cách mạng miền nam chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực, dựa vào sức mạnh chính trị và sức mạnh vũ trang của nhân dân, tận dụng và phát huy những nhân tố mới, thuận lợi mới do Hiệp định Paris đưa lại.

Thực tế tình hình miền nam đã diễn ra theo khả năng thứ hai.

Cuối năm 1973 đầu năm 1974, phối hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao, ta kiên quyết phản công và tiến công, đập tan những âm mưu và hành động lấn chiếm của địch, tạo được thế mạnh mới trên nhiều mặt; giành quyền chủ động trên khắp các chiến trường, củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ bắc vào nam, xây dựng và tăng cường các binh đoàn chủ lực cơ động ở rừng núi; cải thiện tình hình nông thôn ở đồng bằng. Ta cũng phát động được phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi trong các thành thị dưới khẩu hiệu “hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc”, đồng thời tiếp tục tranh thủ thêm được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Tháng 10-1974, Bộ Chính trị T.Ư Ðảng ta họp bàn nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước trong hai năm 1975-1976. Kết thúc đợt một của hội nghị, Bộ Chính trị nhận định: “Ðây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta giải phóng miền nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ…”. Bộ Chính trị quyết định: “Ngay từ giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975-1976”.

Tình hình phát triển hết sức nhanh chóng. Ba tháng sau, ngày 7-1-1975, kết thúc đợt hai của hội nghị, Bộ Chính trị nêu quyết tâm : Tranh thủ thời cơ lớn, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975.

Ðiều thần kỳ đã xảy ra sớm hơn dự định. Ngày 30-4-1975, với một cuộc tiến công và nổi dậy chưa từng có, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã đánh đổ toàn bộ quân đội và chính quyền Sài Gòn và chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã toàn thắng!

HÀ ĐĂNG

nhandan.com.vn

Đại thắng mùa xuân 1975 – Ðại thắng của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

ND – Trong những ngày này, nhân dân cả nước ta với niềm vui vô hạn đang hân hoan kỷ niệm trọng thể lần thứ 36 chiến thắng vĩ đại của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền nam, kết thúc vẻ vang một trong những cuộc chiến tranh yêu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Trong niềm vui của ngày đại thắng, nhân dân ta tưởng nhớ với lòng biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Cha già dân tộc, nhà yêu nước vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của nhân dân ta, người kết tinh những tinh hoa của dân tộc.

Thực hiện chân lý “Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, nhân dân cả nước đã đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi hy sinh, đã thực hiện trọn vẹn lời căn dặn của Người trước lúc đi xa: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Ðế quốc Mỹ nhất định sẽ cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Ðồng bào Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà…”(1).

Nhân dịp này, nhân dân ta bày tỏ niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam quang vinh – Ðảng mà từ ngày đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của tổ tiên là đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, đã luôn luôn coi sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng, phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất là nhiệm vụ chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của mình.

Với kinh nghiệm lãnh đạo dày dạn, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, xem Mặt trận dân tộc thống nhất là ngọn cờ tập hợp, nơi thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Ðảng đã đề ra đường lối đúng đắn và lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách và đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Có thể khẳng định: Sự phát triển của dân tộc và đất nước ta trong 80 năm qua gắn liền với sự trưởng thành và lớn mạnh của Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng, một dân tộc mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng, đã từng đương đầu và chiến thắng mọi thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phát huy cao độ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dân tộc đó tập hợp đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất, đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, vùng lên làm Cách mạng tháng Tám thắng lợi, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, liên tiếp đánh bại mọi chiến lược thâm độc của đế quốc Mỹ xâm lược, tiến lên giành thắng lợi trọn vẹn bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta mùa Xuân 1975 lịch sử.

Trong niềm vui lớn kỷ niệm 35 năm Ngày đại thắng 30-4-1975, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với đồng bào miền nam “đi trước, về sau” trong cuộc chiến đấu trường kỳ để giải phóng dân tộc. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” cùng phương châm “một tấc không đi, một ly không rời”, đội quân tóc dài và các địa đạo xuất hiện ở hầu khắp miền nam đã trở thành hình ảnh tiêu biểu của cuộc chiến tranh nhân dân có một không hai trên thế giới này. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, tập hợp chung quanh ngọn cờ đại nghĩa của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam cùng với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam, nhân dân miền nam đứng ở tuyến đầu chống Mỹ đã đấu tranh kiên cường, bất khuất, tô thắm thêm truyền thống “Thành đồng Tổ quốc”.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với đồng bào và chiến sĩ miền bắc đã thực hiện trọn vẹn Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền nam ruột thịt”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

Lịch sử và dân tộc ta đời đời ghi nhớ công lao to lớn của đồng bào miền bắc anh hùng, hậu phương lớn của miền nam ruột thịt, căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. Tập hợp đoàn kết dưới ngọn cờ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân miền bắc đã không nề gian khổ, không sợ hy sinh, ra sức lao động, sản xuất và chiến đấu, cần kiệm xây dựng miền bắc xã hội chủ nghĩa với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã đưa hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm, hàng chục vạn con em mình ra tiền tuyến cùng đồng bào và chiến sĩ miền nam đánh bại mọi “mưu ma, chước quỷ” của kẻ địch, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền bắc, tiêu biểu là trận đại thắng cuộc tập kích chiến lược B52 trên bầu trời Thủ đô Hà Nội tháng 12-1972, làm nên một “Ðiện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ ngoan cố phải ký Hiệp định Pa-ri và cút khỏi đất nước thân yêu của chúng ta.

Nhân dân ta tự hào về các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng, một đội quân cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm, thông minh và mưu trí. Với cách đánh táo bạo, bất ngờ, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” và “thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa”, trong 55 ngày đêm đã cùng nhân dân miền nam “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, ghi tiếp những trang sử vàng chói lọi trong lịch sử quân sự chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Kỷ niệm 35 năm đại thắng mùa Xuân, chúng ta kính cẩn nghiêng mình với lòng biết ơn vô hạn trước các liệt sĩ đã dũng cảm hy sinh vì độc lập dân tộc, biết ơn các thương binh, bệnh binh, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các bậc lão thành, các tù chính trị yêu nước, thanh niên xung phong và toàn thể đồng bào ta đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước để có được cuộc sống tươi đẹp hôm nay cho chúng ta và cho các thế hệ mai sau.

Nhân dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu-chia anh em, những người bạn chí cốt đã cùng chung chiến hào chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em trước đây đã dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ hết sức to lớn và quý báu.

Chúng ta chân thành cảm ơn các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế và cả loài người tiến bộ trong đó có nhân dân Mỹ vì hòa bình, công lý đã đồng tình, cổ vũ và ủng hộ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta.

Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chính thể khác nhau. Ở nam vĩ tuyến 17, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, lập nên chế độ độc tài phát-xít gia đình trị Ngô Ðình Diệm, thực hiện chế độ thực dân mới, phản bội lại những nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cải thiện đời sống. Chúng thực hiện chính sách khủng bố những người yêu nước, chia rẽ dân tộc, tôn giáo.

Cuối năm 1954, chỉ vài tháng sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chúng tiến hành đàn áp các giáo phái thân Pháp, tổ chức các chiến dịch tố cộng, hành quân khủng bố, cướp lại ruộng đất của nông dân, phân biệt đối xử đối với tư sản, trí thức, công chức đã từng hợp tác với Pháp, phân biệt đối xử với bà con người Hoa. Chúng chủ trương xóa bỏ ý nghĩa thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và thành quả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Ý đồ đê hèn và thâm độc đó đã xúc phạm thô bạo lòng tự trọng và tự tôn dân tộc của mọi người Việt Nam yêu nước.

Không chịu nổi cảnh đau thương, tang tóc do chế độ độc tài, phát-xít gia đình trị Ngô Ðình Diệm gây ra, nhân dân miền nam vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng, lại được tôi luyện qua mấy chục năm đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Ðảng, đã vùng lên đấu tranh để bảo vệ sinh mệnh và tài sản của mình, xóa nỗi nhục mất nước và cảnh nước nhà bị chia cắt. Nhiều phong trào đấu tranh chính trị công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp cuốn hút hàng triệu người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp đòi dân sinh, dân chủ, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi thống nhất đất nước. Từ đấu tranh chính trị, ở một số nơi đã thành lập những đội vũ trang, tự vệ, diệt ác, trừ gian. Ðã xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của một cao trào cách mạng: Phong trào đồng khởi đồng loạt nổ ra ở nông thôn thuộc hầu hết các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, mà tiêu biểu là Bến Tre, Mỹ Tho, Long An, Kiến Tường, v.v. Nhiều nơi, nhân dân đứng ra tự xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở và cấp huyện. Sự phát triển nhảy vọt của tình hình cách mạng miền nam tạo điều kiện để những tổ chức cách mạng có thể hoạt động công khai, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu mới là phải sớm có một hình thức tổ chức công khai để tập hợp các lực lượng yêu nước toàn miền nam dưới ngọn cờ chung, ngọn cờ đại đoàn kết bằng một chương trình hành động cụ thể.

Ðáp ứng yêu cầu của lịch sử và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam và tiếp đó ngày 20-4-1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra đời, đã vận dụng sáng tạo kinh nghiệm hoạt động của các hình thức tổ chức Mặt trận trước đây đoàn kết mọi tổ chức, mọi cá nhân, mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, địa vị xã hội, quá khứ, dân tộc, tôn giáo, thành thị, nông thôn, rừng núi, người có tín ngưỡng và không tín ngưỡng, nhà tư sản và người lao động, người yêu nước ở hải ngoại, sĩ quan và quân nhân chính quyền Diệm, kể cả cấp cao miễn là tán thành mục tiêu: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cải thiện đời sống.

Mục tiêu trên là sự cụ thể hóa tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mẫu số chung để quy tụ mọi con dân đất Việt yêu nước, thương nòi trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược và bọn tay sai bán nước. Với sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc kết hợp với sức mạnh đồng tình, ủng hộ của quốc tế, cuộc đấu tranh giải phóng miền nam càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn.

Với 55 ngày đêm tiến công thần tốc và nổi dậy như vũ bão, mở đầu bằng việc đánh chiếm Buôn Ma Thuột và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, quân và dân ta đã làm nên một kỳ tích là giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc. Ðây là đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Ðảng ta, là sức mạnh vô địch của nhân dân ta.

Thắng lợi vĩ đại đó là thắng lợi của mọi người Việt Nam yêu nước, thắng lợi của cả dân tộc. Thắng lợi mang tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc đó một lần nữa chứng minh hùng hồn sức mạnh tất thắng của ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất – một trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam.

35 năm đã qua kể từ ngày “Bắc Nam sum họp một nhà”, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, nhân dân ta đã lao động quên mình để hàn gắn những vết thương chiến tranh, thực hiện hòa hợp dân tộc, cùng nhau ra sức xây dựng non sông yêu quý của chúng ta “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác Hồ đã căn dặn.

Ðặc biệt qua gần 25 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Ðất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh. Ðời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường. Chính trị-xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia được tăng lên mạnh mẽ, tạo ra thế và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Kỷ niệm 35 năm Ðại thắng mùa Xuân 1975, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tin tưởng đồng bào và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài tăng cường đoàn kết, thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp và cuộc sống, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hăng hái tham gia, đẩy mạnh các phong trào, các cuộc vận động thi đua yêu nước, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”; phát huy dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Ðảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới… góp phần thiết thực vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng năm 2010, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng… lập thành tích cao nhất để chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc: 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch

Hồ Chí Minh, 65 năm thành lập nước, 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, 80 năm thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam…, chào mừng Ðại hội Ðảng bộ các cấp và Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng.

Phát huy tinh thần đại thắng mùa Xuân 1975; tự hào và tin tưởng về sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, chúng ta ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

HUỲNH ÐẢM
Ủy viên T.Ư Ðảng, Chủ tịch UBT.Ư MTTQ Việt Nam

——————————————————–

(1) Trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

nhandan.com.vn