Vừa đi vừa đánh, thần tốc chiến dịch Hồ Chí Minh

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Chiếc Mi.4 lượn một vòng hẹp xác định vị trí rồi hạ cánh. Thiếu tướng Giáp Văn Cương đến sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 571 ở Bắc thành phố Đà Nẵng. Hoàng Trá bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột, anh đứng lên chào. Thiếu tướng Cương nói ngay:

– Tôi đến nắm tình hình lực lượng xe của sư đoàn hiện có tại đây và chuẩn bị khẩn cấp để cơ động Quân đoàn 2 vào Nam bộ.

– Tôi có thể báo cáo thực lực, thưa thiếu tướng!… Nhưng còn việc cơ động thì tôi chưa được lệnh của trung tướng Đồng Sĩ Nguyên.

– Đồng chí điện báo cáo với tư lệnh Trường Sơn được chứ?

– Có thể báo cáo ngay bằng máy 15 oát. Nhưng tôi làm sao có thể bỏ dở nhiệm vụ vận chuyển khẩn cấp 3.000 tấn vật chất bảo đảm sẵn sàng chiến đấu?

Sau mấy phút suy nghĩ, Thiếu tướng Cương khẽ phẩy tay:

– Thôi được. Đồng chí có thể cùng tôi về sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn chứ?

– Xin chậm mươi phút để tôi giao nhiệm vụ cho tham mưu.

– Được. Đồng chí làm đi.

Sau ít phút giao việc cho tham mưu trưởng, Hoàng Trá cùng tướng Cương lên máy bay ra bến Tắt. Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên cũng đã được Bộ Tổng thông báo chủ trương, nên nhanh chóng thống nhất quyết tâm sử dụng Sư đoàn 571 cơ động Quân đoàn 2 vào chiến dịch. Có điều sư đoàn đã tập trung hơn 1.000 xe tốt cơ động Quân đoàn Tiên phong đi Lộc Ninh, chỉ còn 9 tiểu đoàn xe thiếu làm nhiệm vụ vận chuyển hàng. Nay chở người, phải gia cố thùng bệ, nhiều chiếc quá rão phải vào đại tu. Cả một núi việc. Bộ chỉ huy sư đoàn cấp tốc họp cán bộ bàn cách khắc phục. Hội nghị thống nhất đưa hết vật tư kỹ thuật dự trữ để thay thế, dồn lắp, tập trung mọi khả năng vào sửa chữa, khôi phục xe chiến lợi phẩm để sử dụng. Sư đoàn phát động khí thế Tất cả cho chiến dịch lịch sử, khôi phục mỗi xe là diệt một đồn thù. Cán bộ kỹ thuật phân nhau xuống từng xưởng, từng phân đội sửa chữa. Áp dụng phương pháp luân phiên ca kíp, chạy máy suốt ngày đêm, điện sáng rực khắp bãi xe, phân xưởng, lái, thợ không một phút rảnh tay họ tranh thủ bảo dưỡng định kỳ sớm, để bảo đảm không xảy ra sự cố trên đường. Với tinh thần làm việc hết mình, ngày 6.4 đã dồn được hơn 700 xe và khôi phục gần trăm xe chiến lợi phẩm…

Với tư cách phái viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tôi đến cánh Duyên Hải đúng vào lúc Sư đoàn 571 đã tập kết đội hình từ Nam đèo Hải Vân đến sân bay Đà Nẵng. Xe chỉ huy cắm cờ lệnh, ở thành mỗi xe dán khẩu hiệu chữ đỏ tươi THẦN TỐC, TÁO BẠO. Các đơn vị bộ binh theo kế hoạch lên xe, Bộ tham mưu quân đoàn kiểm tra lần cuối. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Quân đoàn trưởng ra lệnh xuất phát. Đoàn xe rùng rùng lăn bánh, nhằm hướng phía Nam phóng đi. Được Quân khu 5 và các tỉnh vùng mới giải phóng bảo đảm an ninh trục đường 1 khá tốt. Quân đoàn 2 tiến như lốc qua Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vượt sông Đà Rằng. Cả hai cây cầu liên tiếp qua dòng sông chính và nhánh rộng gần 2.000m. Đi chừng 14km đến đèo Cả dài khoảng 10km lượn quanh dải Chư Hơ Mu cao ngất sát biển. Đại quân phải qua vùng đất nhiều chướng ngại hiểm trở, nơi phòng tuyến địch mới rút.

Dinh Thống Nhất ngày nayẢnh: An Thành Đạt

Cục Hậu cần bộ đội Trường Sơn cũng đã kịp triển khai mọi mặt đảm bảo quân cơ động. Phân viện Quân y 59 do bác sỹ Lê Văn Đính trực tiếp chỉ huy triển khai làm tuyến sau trực tiếp của cánh Duyên Hải. Nhanh chóng xử lý các ca bị thương nhẹ trả về đơn vị, tiếp nhận thương bệnh binh nặng, giảm khó khăn cho công tác đảm bảo của Quân đoàn cơ động. Nhờ việc tiếp tế vật chất, bổ sung kịp thời khẩn trương, Quân đoàn 2 tiếp tục đi ngay. Trung đoàn 812 – Quân khu 6 đang bám trụ ở Phú Long – cửa ngõ vào Phan Thiết, khi đại quân đến liền nhận nhiệm vụ tiên phong như mũi lao phóng đúng tử huyệt quân địch. Tuyến ngăn chặn của chúng bị vỡ toang. Mũi xung kích quân đoàn xốc tới quặp lấy quân giặc nghiền nát… Pháo hạm địch từ biển hối hả bắn chặn đường. Các khẩu tầm xa liền hạ càng, bắn dồn dập vào tàu địch. Một trận đối pháo dữ dội. Phi đội phản lực nhào xuống phóng bom, lập tức bị những khẩu đội cao xạ đánh trả quyết liệt. Những pháo thủ đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu với giặc lái Mỹ ở Trường Sơn, nhanh chóng loại ngay mấy tên giặc lái ngụy khỏi vòng chiến. Hai máy bay giặc tóe lửa, một chúi đầu xuống biển, chiếc còn lại cút thẳng. Phía biển, một chiến hạm bùng cháy, lật nghiêng chìm nghỉm, mấy chiếc thoát chết dông thẳng ra khơi.

Không để lỡ thời cơ, Quân đoàn trưởng phát lệnh mũi tiên phong thần tốc truy kích xuống Hàm Tân, không cho nó thoát về Bà Rịa – Vũng Tàu. Các đơn vị chỉnh đốn đội hình…Đội xe chở quân cơ động, nhân lúc ngưng chiến, tranh thủ nấu cơm. Phó tư lệnh đoàn đi kiểm tra thấy, liền quát:

– Ai chỉ huy ở đây?

– Báo cáo tôi! – Hồ Quang Hương – tiểu đoàn trưởng xe, đứng dậy.

– Sao đồng chí được cho phép nấu ăn?

– Báo cáo phó tư lệnh! Anh em đói bắt đầu run gối rồi.

Phó tư lệnh sững người. Suốt từ sáng, họ chưa có gì vào bụng. Một thực tế không thể cưỡng nổi là sức khỏe… Song một đòi hỏi cấp bách hơn lúc này… “nếu không cơ động hết sức nhanh thì quân địch sẽ chạy thoát, sẽ tập hợp lực lượng co cụm chống chọi… Bộ Tổng tham mưu ngụy và Mỹ đều muốn thế… Nó đang gắng thiết lập phòng tuyến dày đặc kiên cố quanh Sài Gòn để cố thủ đến mùa mưa. Chỉ cần đến lúc đó, thiên nhiên sẽ chặn đứng đại quân ta lại. Nước mênh mông sẽ chia cắt các cánh quân ta thành nhiều mảng, phải chôn chân trên những cù lao trong biển nước vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở các vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc… Cuộc chiến sẽ phải bắt đầu lại… Chính vào lúc không thuận lợi cho bộ binh cơ giới của ta, kẻ địch sẽ phát huy lợi thế hải quân, không quân phản kích ta khắp nơi, không chỉ ở nông thôn mà cả trong thành phố… Nhân dân ta và mọi thứ sẽ…” – Phó tư lệnh khe khẽ lắc đầu như gạt những ám ảnh, tỏ vẻ kiên quyết.

– Đồng chí có nghĩ vì dừng lại, ăn xong bữa cơm sẽ phải trả giá bằng máu hàng trăm ngàn chiến sỹ và nhân dân ta không?

Hồ Quang Hương giật chân đứng nghiêm.

– Tôi xin nhận khuyết điểm.

Phó tư lệnh dịu giọng:

– Năm phút nữa, chỉnh đốn xong tiếp tục hành quân.

Tiếng còi rúc lanh lảnh, tiểu đoàn trưởng thông báo mệnh lệnh. Các phân đội bộ binh nhảy ào lên xe, với xuống buồng lái:

– Yên chí. Bọn tớ có cách nấu ăn của lính Quang Trung hành quân thần tốc. Sẽ có cơm ngon, canh ngọt cho mà xem!

– Này anh bạn! Khi nào cánh này gõ ba tiếng trên nóc, thì một vị nhảy lên chén, một đứa trên này nhảy xuống làm phụ xế đấy.

Tiếng máy khởi động, chuyển bánh rồi tăng tốc phóng như bay trong nắng chiều vàng rực… 16h30 tiếp cận địch. Quân đoàn trưởng hạ lệnh: “Các đơn vị vừa ăn lương khô vừa dàn đội hình tiến công diệt địch. Không cho chúng tháo chạy vô Xuân Lộc, Bà Rịa”.

Đại đội tăng T54 xông lên, xích xe nghiến ken két. Những họng pháo tóe lửa đỏ rực. Tiểu đoàn ôtô Trường Sơn chở bộ binh bám sát đột phá, các cỡ súng liên thanh, B40 đều hướng nòng tưới đạn vào tuyến cố thủ của quân ngụy. Trước sức mạnh thác đổ, chúng cuống quýt bật khỏi công sự, tuông rào rẽ rừng chạy thục mạng… Bộ đội địa phương, dân quân truy lùng bắt sạch.

Ở phía trước các Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4 và Sư đoàn 6 Quân khu miền Đông đang đánh Xuân Lộc. Tin thông báo: ngày 10.4 ta sẽ cắm cờ lên nóc tỉnh đường và khu cố vấn Mỹ… Kẻ địch bị tổn thất nặng, vẫn kêu gào tử thủ… Hai hôm sau lại được thông báo nức lòng… “Chuẩn tướng Lê Minh Đảo đã chạy khỏi Xuân Lộc…, Sư đoàn 18 và hai lữ thủy binh cùng đám biệt động tan tác cả rồi…” Vậy là chặng đường tiến thẳng tới vị trí tập kết khá thuận lợi…

Lúc này nhân đà chiến thắng dồn dập, thế và lực của địch giảm sút rất nhanh, Quân khu miền Đông phát động toàn địa bàn nổi dậy. Các lực lượng kết hợp đánh địch, diệt tề ngụy, trừ gián điệp, đẩy mạnh binh vận làm rã hầu hết tổ chức bảo an dân vệ. Cục Hậu cần quân khu miền Đông nhận lệnh đón binh đoàn cơ động. Chủ nhiệm Sáu Kinh cùng cán bộ các ngành đi chuẩn bị nơi tập kết cho quân đoàn ở vùng núi Chứa Chan, địa thế rộng tương đối kín, suối Già Ui còn sẵn nước. Công binh rà mìn khắp khu rừng, lòng suối bảo đảm an toàn tuyệt đối…

Quân đoàn 2 sau khi chọc thủng phòng tuyến Phan Rang, Phan Thiết tiến nhanh xuống phía Nam. Chớm tới đất miền Đông đã thấy những anh chị đội mũ tai bèo cầm súng đứng dọc đường. Vậy là yên tâm rồi, lái xe ấn lút chân ga… Chừng non một giờ, đội xe dừng trước thanh chắn ngang đường. Một người nai nịt gọn gàng, đeo súng ngắn bước tới, chào hỏi:

– Có phải đội tiền trạm của cánh Duyên Hải không?

– Đúng! Xin cho biết trạm của đơn vị nào?

– Quân khu miền Đông đây.

– Báo cáo! Đoàn Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần đi chỉ đạo công tác hậu cần cánh Duyên Hải, đến làm việc.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện mở cửa xe bước xuống. Lương Văn Nho, Phó tham mưu trưởng Miền và các cán bộ quân khu ùa ra, tay bắt mặt mừng. Tuyền là anh em đã một lần quen biết ở hội nghị hoặc ở chiến trường.

Ăn cơm xong, anh Đinh Thiện đề nghị làm việc ngay. Mọi người ngồi quanh tấm bản đồ trải rộng. Phó tham mưu trưởng Miền thông báo chiến sự ở các hướng bao quanh Sài Gòn phát triển thuận lợi, đánh thắng giòn giã, phong trào lên mạnh rất phấn khởi… Anh cười nói: – Điều đáng mừng, đến lúc này các đồng chí trong Bộ chỉ huy vẫn sung sức. Bộ Tư lệnh chiến dịch đóng ở Lộc Ninh, sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đã xuống Căm Xe, Tây Bến Cát. Anh Văn Tiến Dũng – Tư lệnh, anh Trần Văn Trà – Phó tư lệnh ở đó.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện cũng thông báo quá trình tiến công trong hành tiến của Quân đoàn 2 và tình hình trang bị hậu cần, vũ khí, phương tiện của quân đoàn, rồi nói:

– Do thời gian vận động thay đổi trong hoàn cảnh chiến đấu, nên quân đoàn bị thiếu gạo và nhiên liệu. Đề nghị quân khu cho mượn, Tổng cục sẽ thanh toán sau.

– Trách nhiệm hậu cần tại chỗ mà – Cục trưởng Phạm Kinh vui vẻ hỏi – Xin cho biết số lượng yêu cầu từng loại.

Trưởng phòng kế hoạch lật sổ:

– Xin bổ sung 15 ngày gạo.

– Tôi có thể cấp ngay 300 tấn tại đây. Nếu thiếu xin nhận ở Mây Tần hoặc Cẩm Mỹ – Sáu Kinh trỏ bản đồ – Nó nằm trên đường đại quân đi qua. Còn thực phẩm bổ sung, anh Sáu Thịnh đã có sẵn 700 tấn.

– Xin cám ơn. Đơn vị đã chuẩn bị đủ.

– Còn xăng dầu thiếu bao nhiêu? – Sáu Kinh thật lòng: khoản này thì chúng tôi không sẵn ở đây.

– Quân đoàn cần được bổ sung 200.000 lít xăng – Cục phó vận tải Nguyễn Chúc lật sổ: … và 10.000 lít dầu máy, 15.000 lít ma-zút.

Sáu Kinh bảo trợ lý:

– Đồng chí làm giấy tờ đề nghị Sở Cao su Bình Sơn giải quyết ngay, quân khu chịu trách nhiệm thanh toán – Sáu Kinh ngước nhìn tham mưu trưởng Tổng cục –  Xin đừng ngại, cơ sở này rất tin cẩn. Chúng tôi đã chuẩn bị từ lâu, được phép tỉnh ủy cho vận động.

Hôm sau Quân đoàn 2 tới gọn, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị tập kết ở khu Chứa Chan để chỉnh đốn lực lượng, bồi dưỡng sức cho bộ đội. Tiếp nhận bổ sung vật chất hậu cần, củng cố kỹ thuật phương tiện.

Ngày 24.4 được Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh xác định cụ thể thời gian tấn công, thời điểm phải đoạt được các mục tiêu chủ yếu, tướng Lê Trọng Tấn chỉ đạo điều chỉnh lực lượng thực hiện lệnh tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh.

Quân đoàn 2 chia hai mũi tấn công. Mũi chặn địch tháo chạy ra biển do Sư đoàn 3 tiến xuống chiếm thị xã Bà Rịa và chi khu Đức Thạnh vây cắt Đất Đỏ, Xuyên Mộc. Bước tiếp theo đánh chiếm Vũng Tàu. Mũi hiệp đồng tiến công vào thành phố gồm các Sư đoàn 304, 325, Lữ đoàn tăng 203 đánh cụm cứ điểm Nước Trong, thành Tuy Hạ. Đập tan tuyến phòng thủ hướng đông nam của địch. Lập trận địa pháo nòng dài ở Nhơn Trạch bắn khống chế các mục tiêu quy định trong thành phố, đặc biệt kiềm chế sân bay Tân Sơn Nhất, sông Lòng Tàu và cảng Sài Gòn.

Mờ sáng 25.4, Quân đoàn xuất phát. Được hậu cần Quân khu miền Đông chuẩn bị chu đáo tuyến giao thông chiến dịch. Dựa vào đường be mở trục cắt ấp Rừng Lá, dẫn đường Sư đoàn 3 qua lối cầu Cỏ May tiến xuống thành phố biển rất nhanh gọn. Công binh mở đường tắt cho cánh quân thứ hai thọc tới lộ 320 liên huyện, lộ 15 tiếp cận mục tiêu Nước Trong, thành Tuy Hạ… Kịp thời gian quy định mở màn tổng tiến công Sài Gòn.

Quân đoàn 2 bước vào chiến dịch trong hoàn cảnh được bảo đảm đầy đủ, bộ đội dân quân giăng giăng trên đường càng nức lòng chiến đấu. Quân đoàn cứ theo phương án đã định, 17h ngày 26.4 mở màn thần tốc tiến công đập tan sức kháng cự của kẻ địch tại Bà Rịa, Vũng Tàu, Long Thành, cụm cứ điểm Nước Trong… Kẻ địch ngoan cố chống trả dữ dội nhưng đều bị nghiền nát cùng lúc với đòn đánh bẹp thành Tuy Hạ.

Những trận đánh trên hướng này, vấp kẻ địch như con thú giãy chết, tung hết sức mạnh cuồng nộ… Ta bị thương vong gần 300 chiến binh. Nhờ các đội cứu thương nhân dân hỗ trợ, kịp thời cấp cứu thương binh chuyển tới các đội phẫu, sau đó cáng tiếp về bệnh viện quân dân Xuân Lộc. Bác sỹ Việt – nguyên đội trưởng điều trị K23 hậu cần miền Đông rất tận tụy, anh chị em y tế không quản ngày đêm cứu chữa, nên hạn chế được tỷ lệ thương binh nặng bị chết. Việc chăm nuôi thương binh được các hội quần chúng địa phương lo liệu rất chu đáo. Mọi hậu quả của trận đánh lớn dài ngày không thành gánh nặng cho quân đoàn chủ lực trong quá trình tiến công vào hang ổ cuối cùng của giặc.

Bộ tổng tham mưu ngụy thấy rõ sức nặng áp đảo đã vào tận gan ruột Sài Gòn. Nó liều lĩnh tàn bạo cho lệnh phá sập hàng loạt cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc, Sài Gòn, Tân Cảng, Bình Triệu, Chữ Y… nhưng độc thủ này cũng không trót lọt. Trung đoàn 10 đặc công nước phối hợp đặc công nội đô và đặc công Miền phái xuống, tỏa đi đánh bắt, diệt hết những đứa sắp gây tội ác, rồi chốt giữ. Bộ đội đặc công thoắt trở thành người canh gác sự sống của con đường tiến vào kết thúc vận mệnh đám quỷ dữ Sài Gòn.

Chỉ sau 4 ngày, đạo quân binh chủng hợp thành đã bóc hết lớp vỏ ngoại vi, ung dung sẵn sàng chờ lệnh đột nhập đô thành, chiếm gọn mục tiêu chủ yếu Dinh Độc lập.

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1,1 triệu tên địch, làm tan rã toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự gồm hơn 1 triệu tên; tiêu diệt và làm tan rã 4 quân đoàn ngụy gồm 13 sư đoàn bộ binh, lính nhảy dù, lính thủy đánh bộ, 6 sư đoàn không quân, 22 trung đoàn hải quân, toàn bộ lực lượng pháo binh, thiết giáp, thu toàn bộ vũ khí, thiết bị và phương tiện chiến tranh của địch. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Theo Trường Sơn – Có một thời như thế
Đại tá NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
Ghi chép chiến dịch 4.1975

daibieunhandan.vn

Advertisements

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch phản kích thất bại

Binh lính ngụy bị bắt và giao nộp vũ khí

Ngày 13-3, hai trung đoàn 66 và 28 (Sư đoàn 10) từ Đức Lập hành quân đến Đông-Bắc thị xã Buôn Ma Thuột hỗ trợ các đơn vị bạn đánh địch phản kích. Trong ngày này, lực lượng ta đã đánh quân phản kích chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong khi đó, ở phía Bắc Tây Nguyên và trên chiến trường Trị-Thiên, Khu 5, bộ đội ta đẩy mạnh tác chiến phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, tạo thế chia cắt buộc Quân đoàn 2 ngụy phải phân tán lực lượng đối phó.

Sư đoàn 968 bộ binh đánh chiếm hai chốt địch ở Tây-Nam Pleiku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, pháo kích sân bay Cù Hanh, Kon Tum. Bộ đội địa phương Gia Lai và Kon Tum hoạt động mạnh ở Đông-Nam thị xã Pleiku. Sư đoàn 3 và trung đoàn 95 A chốt giữ các vị trí đã chiếm được Đường số 19, phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang và hướng Vườn Xoài.

Trung đoàn 25 bộ binh diệt một bộ phận quân địch từ Khánh Dương lên và tiếp tục chia cắt đường 21. Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 14 đặc công đánh chiếm một số ấp vùng ven, áp sát sân bay Nhơn Cơ (Quảng Đức).

Ở Trị-Thiên, lực lượng vũ trang gia tăng hoạt động tại vùng giáp ranh uy hiếp thành phố Huế từ phía Tây và Tây Bắc. Ở khu 5, Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 đã diệt chi khu quân sự Tiên Phước, chia cắt đường số 1, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ.

Thắng lợi lớn của ta ở Buôn Ma Thuột và hoạt động phối hợp ở các chiến trường khác đã làm địch lúng túng.

Q.A tổng hợp

sggp.org.vn

Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng

Tại mặt trận Tây Nguyên, sau nhiều ngày truy kích địch và giải phóng các tỉnh, ngày 24-3 được đánh dấu là ngày toàn thắng của chiến dịch Tây Nguyên. Khởi đầu chính thức từ ngày 4-3, bằng ba trận chiến then chốt (tấn công Buôn Ma Thuột; đánh địch phản kích; tiêu diệt địch tháo chạy trên đường số 7) lực lượng ta đã đánh tan Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, các lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung bộ.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Tại Quảng Nam, sau hơn một ngày tấn công, ta đã giải phóng thị xã Tam Kỳ vào lúc 10 giờ 30 ngày 24-3-1975. Tại Quảng Ngãi, 7 giờ sáng quân ta tiến đánh thị xã. Sau một ngày chiến đấu, địch bỏ chạy cùng với một đoàn xe trên 200 chiếc chạy theo đường số 1 về hướng Chu Lai.

Trước đó, lực lượng ta đã tiến công các vị trí phòng thủ của liên đoàn 11 biệt động quân, cắt đường số 1, đoạn từ Sơn Tịnh đi Bình Sơn, chặn đường rút về Chu Lai của địch. Địch lọt vào trận địa phục kích của ta đã thiệt hại nặng nề: 550 tên bị diệt, 3.500 tên bị bắt sống, 206 xe quân sự bị phá hủy.

Nhờ đó, ta đã uy hiếp thế phòng thủ của địch tại phía Nam Đà Nẵng. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lại phải kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng”. Nếu không giữ được Đà Nẵng thì phải cầm cự 1-2 tháng để bố trí lại thế phòng thủ chiến lược và di tản một triệu dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao ép buộc ta ngừng tấn công.

Vào ngày này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và khẳng định thời cơ chiến lược lớn đã đến. Bộ Chính trị quyết định: Hành động nhanh chóng, táo bạo bất ngờ đánh địch, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

N.T.H.H tổng hợp

sggp.org.vn

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới

(Chinhphu.vn) – Kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam quang vinh đã tiếp nối và làm rạng rỡ thêm truyền thống của ông, cha ta: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn; lấy chí nhân thay cường bạo”.

Chiếc xe tăng 843 oanh liệt đã húc đổ cánh cửa Dinh Độc lập ngày 30/4/1975

Chiến thắng ngày 30/4/1975 là biểu tượng tuyệt đẹp của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, của tinh thần chiến đấu bền bỉ, kiên cường vì chân lý: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”! Kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam quang vinh đã tiếp nối và làm rạng rỡ thêm truyền thống của ông, cha ta: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn; lấy chí nhân thay cường bạo”.

Các thế hệ người Việt Nam yêu nước có quyền tự hào chính đáng đã ghi vào sử sách những chiến công thần kỳ trong cuộc chiến đấu đánh bại những tên thực dân, đế quốc sừng sỏ, hung hãn nhất trong thế kỷ 20. Song, điều lắng sâu trong tâm thức mỗi người là ý thức “xây nền thái bình muôn thuở”; là sự nhất quán “giữ mối bang giao hòa hiếu” như trong lời hịch “Ðại cáo bình Ngô”.

35 năm đã qua, chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử hàng ngàn năm giữ nước và dựng nước của dân tộc ta, nhưng thật sự là cột mốc lịch sử cực kỳ quan trọng trên bước đường xây dựng và phát triển đất nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Với phương châm “gác lại quá khứ, xóa bỏ hận thù, hướng tới tương lai”, đất nước ta ngày càng tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài cũng như của bạn bè quốc tế.

Từ năm 1990, Việt Nam mới có quan hệ ngoại giao với hơn 100 nước; có quan hệ thương mại với 110 nước và vùng lãnh thổ, đến nay đã có quan hệ với 180 nước và quan hệ thương mại với 220 quốc gia và vùng lãnh thổ. Vào cuối những năm của thập kỷ 80, thế kỷ 20, Việt Nam thiếu lương thực trầm trọng, nhưng từ năm 2001 lại đây, đã trở thành cường quốc thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Từ tỷ lệ hộ nghèo là 57% trong năm 1990, nay hạ xuống còn hơn 20% theo tiêu chí quốc tế, trở thành quốc gia hoàn thành sớm các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa đói, giảm nghèo…

Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo

Dẫu biết rằng, đây đó còn nhiều điều bức xúc; vấn nạn tham nhũng, quan liêu vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, song không phải vì vậy mà bức tranh kinh tế – xã hội của đất nước ta chỉ hoàn toàn là mầu ảm đạm như giọng lưỡi xuyên tạc, kích động của những người cố tình quay lưng lại sự nghiệp chính nghĩa của toàn dân tộc.

Ðông đảo các tầng lớp nhân dân ta đang sôi nổi hưởng ứng “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; theo đó xuất hiện ngày càng nhiều thêm các phong trào thi đua yêu nước rộng lớn ở nhiều ngành, nhiều đơn vị, địa phương…, tạo ra động lực tinh thần to lớn, vượt qua nhiều khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, của thiên tai, bão lũ và dịch bệnh, đạt tốc độ tăng trưởng 5,32% trong năm 2009. Ðó là những biểu hiện sinh động của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời kỳ tiếp tục đổi mới và hội nhập quốc tế.

Bài học của Ðại thắng mùa Xuân năm 1975 đã và đang cổ vũ chúng ta tiếp tục tận dụng và tạo dựng thời cơ, bồi đắp ý chí vượt qua sóng cả, đưa nước ta “nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu” – như điều mong ước nấu nung của Bác Hồ kính yêu.

Hồng Vinh

* Bài đã đăng trên báo Nhân Dân

Giải phóng hoàn toàn tỉnh Ninh Thuận

Sau những thất bại nặng nề từ đầu tháng 3/1975, tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu đã đưa lữ đoàn lính nhảy dù số 2, liên đoàn quân biệt động số 31 và thu thập số tàn quân của các đơn vị đã bị đánh tan tác ở vùng quân khu 1, huy động lực lượng không quân và hải quân tổ chức tuyến phòng ngự đặt dưới sự chỉ huy của bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 nguỵ ở tỉnh Ninh Thuận và thị xã Phan Rang, hòng cố thủ và ngăn chặn bước tiến mạnh mẽ của quân giải phóng.

Phối hợp chặt chẽ với quân và dân trên toàn miền Nam, thừa thắng, ngày 16/4, các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Ninh Thuận đã từ nhiều hướng đánh thẳng vào hướng phòng ngự của địch ở khu vực thị xã Phan Rang, sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3, bộ tư lệnh sư đoàn không quân số 6, các bộ tư lệnh quân biệt động, lữ đoàn lính nhảy dù ngụy số 2 và những đơn vị vừa tập họp lại, trận địa pháo và các cụm xe tăng, xe bọc thép của địch.

Đồng bào thị xã Phan Rang đã nổi dậy phối hợp cùng quân giải phóng nhanh chóng đập tan bộ máy kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ.

Đúng 7 giờ sáng ngày 16/4/1975, thị xã Phan Rang đã hoàn toàn giải phóng.

Tiếp đó quân giải phóng đã nhanh chóng tiến công địch ở sân bay Thành Sơn (cách thị xã Phan Rang 12 km về phía Tây Bắc), tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân địch ở đây.

Đến 10 giờ sáng ngày 16/4/1975, quân giải phóng đã làm chủ sân bay Thành Sơn. Toàn bộ tỉnh Ninh Thuận đã được hoàn toàn giải phóng. Hơn 30 vạn đồng bào tỉnh Ninh Thuận và thị xã Phan Thiết đã giành quyền làm chủ. Hàng ngàn binh lính sĩ quan, cảnh sát, nhân viên nguỵ quyền nghe theo lời kêu gọi của cách mạng đã mang vũ khí trở về với nhân dân.

(Theo Cổng thông tin điện tử Ninh Thuận)

Giải phóng thị xã Phan Thiết và toàn tỉnh Bình Thuận

Những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng năm 1975, trước khí thế cách mạng hừng hực tiến công, tinh thần quần chúng sôi động hẳn lên. Tin chiến thắng từ khắp nơi dội về cổ vũ quân dân ta.

Chớp thời cơ thuận lợi với tinh thần chủ động, ngày 4/4/1975, Tỉnh ủy Bình Thuận hạ quyết tâm: Giải phóng Ma Lâm (chi khu quận lị Thiện Giáo), và các ấp dọc đường 8, quốc lộ 1A, áp sát Phan Thiết; sau đó sẽ phối hợp với đại quân giải phóng Phan Thiết và toàn tỉnh.

Đêm mùng 7 rạng ngày 8/4/1975, các lực lượng của ta đánh vào chi khu Thiện Giáo. Mặc dù địch chống trả quyết liệt nhưng đến khoảng 20 giờ cùng ngày quân ta đã làm chủ vào giải phóng hoàn toàn quận lị này. Sau khi Ban chỉ huy quân giải phóng Bình Thuận được thành lập (ngày 9/4), quân ta chia làm 2 cánh tiến đánh giải phóng đường 8 và đoạn quốc lộ 1A (phía Bắc Phan Thiết).

Ngày 14/4/1975, phối hợp với đại quân, quân dân các huyện phía Bắc chủ động tiến công và nổi dậy, giải phóng Tuy Phong, Hòa Đa, Phan Lý, Hải Ninh. Bọn địch ở đồn Cây Táo rút chạy trước ngày 17/4 và bọn địch ở Tà Zôn (Thuận Phong) cũng phải tháo chạy.

Khoảng 20 giờ ngày 18/4, Lữ đoàn 203 của Quân đoàn 2 và lực lượng tại chỗ đã vượt qua cầu Phú Long tiến vào Phan Thiết. Suốt ngày 18/4, Bộ chỉ huy Quân giải phóng Bình Thuận cho pháo 105, ĐKB, H12 pháo kích mạnh mẽ vào tiểu khu Bình Thuận, Căng Ê-xê-pic, Lầu Ông Hoàng gây sát thương cho địch, tạo ra nhiều đám cháy nổ lớn, khiến cho địch phải hoang mang rối loạn; góp phần tích cực cho đại quân tiến vào Phan Thiết. Đến 2 giờ ngày 19/4, quân ta làm chủ hoàn toàn tỉnh lỵ Phan Thiết. 9 giờ sáng hôm ấy, Ủy ban Quân quản tỉnh Bình Thuận vào tiếp quản Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận được giải phóng (trừ đảo Phú Quý).

Cùng thời gian trên, quân dân tỉnh Bình Tuy cũng nhất loạt chủ động tấn công địch. Trên đường tiến quân vào Sài Gòn, để hỗ trợ cho địa phương, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã để lại một bộ phận giúp lực lượng Quân khu 6 và tỉnh Bình Tuy tiến công giải phóng La Gi.

Không thể chống cự nổi sức tấn công của bộ đội Bình Tuy, bọn địch ở Láng Gòn bỏ chạy từ 20/4. Khoảng 20 giờ ngày 22/4, đại quân ta tiến thẳng vào tiểu khu Bình Tuy và làm chủ ngay trong đêm đó. Sáng 23/4, tỉnh Bình Tuy hoàn toàn được giải phóng.

Trong lúc quân chủ lực tiêu diệt những nơi đầu não, then chốt của địch, thì bộ đội địa phương, đội công tác, dân quân du kích và cơ sở đoàn thể tại chỗ khẩn trương phát động nhân dân nổi dậy kêu gọi tề ngụy đầu hàng. Đến 27/4, với sự hỗ trợ của hải quân và đặc công của Bộ, đảo Phú Quý cũng được giải phóng.

Trải qua nhiều ngày đêm chiến đấu anh dũng, liên tục tiến công và nổi dậy, quân và dân 2 tỉnh Bình Thuận, Bình Tuy đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang giải phóng quê hương. Góp phần cùng quân dân cả nước làm nên mùa Xuân đại thắng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc cuộc trường chinh hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược. Bình Thuận xứng đáng và tự hào với 12 chữ vàng mà Trung ương Cục miền Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phong tặng: “ Tự lực, tự cường, chiến đấu oanh liệt, thắng lợi vẻ vang”.

(Theo Bình Thuận Online)

Họp bàn Tổng tấn công

Ngày 22/4/1975, tại Hà Nội, Bộ Chính trị triệu tập họp khẩn cấp để hội ý về sự phát triển của tình hình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam và đề ra chủ trương, phương châm lãnh đạo trong những ngày sắp tới. Ngay sau khi cuộc họp kết thúc, 15 giờ 30 phút, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn điện gửi các đồng chí Văn Tiến Dũng, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng và Lê Trọng Tấn, nêu rõ những nhận định và phân tích đánh giá của Bộ Chính trị, rằng “Tiếp theo những thất bại dồn dập, gần đây địch lại mất Phan Rang và buộc phải rút khỏi Xuân Lộc.

Chúng không những đã phát hiện lực lượng lớn của ta ở cánh ven biển hướng đông, mà còn phát hiện lực lượng lớn của ta ở hướng lộ 4 và tây – nam Sài Gòn, phần nào phát hiện lực lượng lớn của ta ở hướng bắc. Trước nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt, chúng đã vội vã điều chỉnh bố trí lực lượng. Thế bố trí mới không thể hiện rõ ý đồ cố thủ Sài Gòn, mà để lộ ý định giữ cho được hành lang đường số 4 từ Sài Gòn đến Cần Thơ… Ðể làm chậm cuộc tiến công của ta vào Sài Gòn, Mỹ – ngụy đã lập chính phủ mới, đưa ra với ta đề nghị ngừng bắn, đi đến một giải pháp chính trị, hòng cứu vãn tình thế thất bại hoàn toàn của chúng”(1). Ðiều đó cho thấy, kẻ địch của chúng ta đang hết sức hoang mang, rối loạn, lâm vào bước đường cùng, tìm mọi cơ hội có thể để nhằm cứu vãn sự sụp đổ hoàn toàn biết chắc là không tránh khỏi đang đến gần.

Từ những phân tích, đánh giá khoa học đó, Bộ Chính trị khẳng định “Thời cơ để mở cuộc tổng tiến công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi”(2). Do đó, quân và dân ta trên chiến trường miền nam cần phải nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, nỗ lực cao độ “tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công”. Bởi vì, “hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu để chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị”(3). Bộ Chính trị chỉ thị: “Ra mệnh lệnh ngay cho các hướng hành động kịp thời, đồng thời chỉ thị cho Khu ủy Sài Gòn – Gia Ðịnh sẵn sàng phát động quần chúng nổi dậy kết hợp với các cuộc tiến công của quân đội. Sự hợp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động”(4).

Cùng ngày, Quân ủy Trung ương điện cho đồng chí Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, nêu rõ: Ðịch trì hoãn để tìm cách đề nghị ngừng bắn, kéo dài sang mùa mưa… Sài Gòn không giữ nổi thì chúng rút về đồng bằng sông Cửu Long, lấy Cần Thơ làm trung tâm… Do đó, lệnh cho cánh quân hướng tây nam và đường số 4 sẵn sàng ngăn chặn, tiêu diệt địch trong tình huống chúng rút từ Sài Gòn về Cần Thơ.

Chấp hành sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, các cánh quân tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh của ta gấp rút làm công tác chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Tại sở chỉ huy cánh đông, sau khi nhận nhiệm vụ tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh do phái viên của Bộ Tư lệnh chiến dịch truyền đạt, ngay trong đêm 22/4, Ðảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã triệu tập họp khẩn cấp để kịp thời nghiên cứu, quán triệt nhiệm vụ được giao và xây dựng kế hoạch tác chiến của Quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Cũng trong ngày 22/4, Kế hoạch tiến công Sài Gòn-Gia Ðịnh được Ðảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức thông qua và phê duyệt lần cuối cùng với tư tưởng chỉ đạo bảo đảm chắc thắng; chú trọng những trận đánh quan trọng vòng ngoài; không cho địch co cụm về Sài Gòn; tổ chức các mũi thọc sâu đủ mạnh đánh thẳng vào các mục tiêu đầu não, nhanh chóng kết thúc chiến tranh… Các đồng chí Hoàng Cầm và Hoàng Thế Thiện, Tư lệnh và Chính ủy Quân đoàn 4, tới Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh báo cáo tình hình và thông qua quyết tâm với các đồng chí Phó Tư lệnh chiến dịch Lê Trọng Tấn và Phó Chính ủy chiến dịch Lê Quang Hòa.

Với quyết tâm giành thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tập trung binh lực lớn lên tới 270 nghìn quân (trong đó 250 nghìn bộ đội chủ lực, 20 nghìn bộ đội địa phương) và 180 nghìn lực lượng bảo đảm hậu cần chiến dịch).

Như vậy, trên cơ sở nắm bắt tình hình chiến sự kịp thời, Bộ Chính trị đã sáng suốt đề ra quyết tâm chiến lược chỉ đạo quân và dân ta tranh thủ thời gian quý báu từng giờ, tích cực chuẩn bị lực lượng áp đảo, chính thức mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường miền Nam.

——————————————-

(1), (2), (3), (4): Ðảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Ðảng toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004, tr 166-167.

(Theo Nhân dân)

Bắt đầu “Chiến dịch Hồ Chí Minh”

Ngày 1/4/1975 chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”. Ngày 14/4/1975 Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của bộ chỉ huy chiến dịch đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, phương án chiến dịch được thông qua lần cuối. Ta huy động vào chiến dịch này một lực lượng lớn hơn bất cứ chiến dịch nào trước đây, bao gồm cả lực lượng vũ trang và chính trị.

Bộ Chính trị điện cho Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh: “Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi… Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc thắng nhất để giành thắng lợi hoàn toàn”. 17 giờ ngày 26/4/1975 cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, các mục tiêu tấn công ngập chìm trong bão lửa. Mỹ vội vàng mở chiến dịch “người liều mạng” để di tản. Các tướng tá quân đội Sài Gòn từ các sư đoàn bị đánh tơi tả, kẻ bị bắt, kẻ đầu hàng, kẻ tự sát, kẻ cởi quân phục lẩn trốn vào đám tàn quân. Tổng thống ngụy muốn xin “bàn giao chính quyền”, các đại diện Mỹ, Pháp tìm kế hoãn binh… Nhưng tất cả đã không thể ngăn cản được sức tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng trong “trận đánh cuối cùng” để kết thúc chiến tranh 30 năm.

Năm Quân đoàn chủ lực hùng mạnh phối hợp nhịp nhàng cùng lực lượng 3 thứ quân tại chỗ và sức mạnh nổi dậy của quần chúng trên tất cả các hướng chiến dịch đều hừng hực khí thế xung trận, quyết chiến quyết thắng.

Ở hướng Đông, Quân đoàn 4 đánh chiếm Chi khu quân sự Trảng Bom. Quân đoàn 2 đánh chiếm Chi khu quân sự Long Thành, Trường sĩ quan thiết giáp ngụy ở căn cứ Nước Trong…, phát triển theo hướng Biên Hòa, Nhơn Trạch. Đặc công, biệt động Miền thọc sâu đánh chiếm và giữ các cầu trên sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, bảo đảm cho đại quân tiến vào Sài Gòn. Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đánh chiếm phía Nam Bà Rịa, phát triển theo hướng thành phố Vũng Tàu. Bộ đội địa phương, dân quân du kích Bà Rịa đánh chiếm các đồn bót, quận lỵ, chi khu giải phóng phần lớn tỉnh. Pháo binh tầm xa của ta ở Hiếu Liêm đánh tê liệt sân bay Biên Hòa, buộc địch phải di tản máy bay về Tân Sơn Nhất.

Ở hướng Tây Nam, lực lượng của Quân khu 8 cắt đường số 4 (nay là quốc lộ 1B), hai trung đoàn chủ lực của Quân khu tiến nhanh vào phía Nam quận 8 Sài Gòn. Đoàn 232 (tương đương Quân đoàn), sử dụng một sư đoàn mở đầu cầu trên sông Vàm Cỏ Đông ở An Ninh, Lộc Giang cho sư đoàn 9 binh khí kỹ thuật vượt sông hướng vào nội đô.

Ở hướng Bắc, Quân đoàn 1 thọc sâu tiến công quân địch đứng chân phía Bắc Thủ Dầu Một. Ở hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 tiến công cắt đứt đường số 1 và 22, chặn các trung đoàn của sư đoàn 25 ngụy từ Tây Ninh về căn cứ Đồng Dù. Trung đoàn Gia Định đánh chiếm làm chủ con đường vành đai Sài Gòn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre, mở cửa phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất, chuẩn bị cho các binh đoàn chủ lực tiến công.

Tính từ chiều 26/4 đến ngày 28/4 ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài và siết chặt vòng vây chung quanh Sài Gòn.

(Theo KTĐT)