Linh hoạt sử dụng phương pháp bắn pháo binh

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Đại đội 26, Tiểu đoàn 2 (Đoàn Pháo binh 75 Nam Bộ) nhận nhiệm vụ dùng hỏa lực bắn kiềm chế sân bay Biên Hòa nhằm hạn chế khả năng hoạt động, tiến tới làm tê liệt hoàn toàn sân bay địch, góp phần bảo đảm cho các đơn vị chủ lực của ta cơ động triển khai trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong điều kiện khó khăn, thời gian gấp, Đại đội 26 đã tập trung lực lượng, thực hiện tốt công tác chuẩn bị để bước vào chiến đấu thắng lợi.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm sân bay Biên Hòa. Ảnh tư liệu.

Tuy mọi mặt công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, nhưng đại đội chưa thể khai hỏa vì thông tin liên lạc giữa đài quan sát và trận địa vẫn chưa thông suốt. Mặc dù chưa bắt được liên lạc với đại đội trưởng ở đài quan sát luồn sâu, song chấp hành lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, ngày 14-4-1975, chỉ huy Đại đội 26 quyết định thay đổi phương pháp bắn từ có quan sát và sửa bắn (qua bắn thử) sang bắn không quan sát thấy (bắn hiệu lực ngay), chỉ bắn một thước tầm và hướng bắn hỏa lực tập trung. Mục tiêu bắn đầu tiên, với số đạn bắn 24 viên trên 3 khẩu, theo phương pháp gấp bắn, ngay loạt đạn đầu đã trúng mục tiêu. Sân bay Biên Hòa bị tê liệt, sau 10 phút, trực thăng vũ trang của địch trong sân bay mới cất cánh cùng với máy bay trinh sát, phản lực chiến đấu từ sân bay khác đến quần lượn, ném bom, bắn rốc két xuống khu vực xung quanh trận địa pháo của ta. Pháo binh của địch ở gần sân bay cũng bắn dồn dập nhiều giờ vào những nơi nghi ngờ ta đặt trận địa pháo. Nhờ ngụy trang kín đáo bằng các trận địa giả, khéo nghi binh, sử dụng phương pháp bắn linh hoạt, Đại đội 26 vẫn giữ được bí mật, an toàn.

Sau một ngày tạm ngừng bắn, ngày 16-4, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào 3 mục tiêu khác trong sân bay kéo dài suốt ngày, với 52 viên đạn làm cho sân bay của địch bị tê liệt trong nhiều giờ. Bị đánh phá mạnh, địch phản ứng quyết liệt. Chúng cho máy bay nhiều lần ném bom vào trận địa pháo của ta và các khu vực xung quanh. Để bảo vệ trận địa pháo, Bộ chỉ huy chiến dịch điều thêm các khẩu đội pháo phòng không và đại đội bộ binh tăng cường bảo vệ, điều một đại đội ĐKZ của Đoàn Pháo binh 75 về tham gia chế áp pháo binh địch, hỗ trợ cho Đại đội 26 hoàn thành nhiệm vụ “khóa chặt sân bay Biên Hòa”. Các ngày tiếp theo, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào các mục tiêu khác trong sân bay, làm cho sân bay Biên Hòa hoàn toàn bị tê liệt, gây thiệt hại nặng nề cho địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Xuân Vũ

qdnd.vn

Advertisements

Hiệp đồng chặt chẽ, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Sau hiệp định Pa-ri được ký kết ngày 27-1-1973, so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi căn bản, có lợi cho ta bất lợi cho địch. Nắm thời cơ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong 2 năm 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, nhanh chóng làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho ta, tích cực làm mọi công tác chuẩn bị, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt toàn bộ quân địch, từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Nếu thời cơ đến sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, đầu năm 1975, ta mở ba chiến dịch lớn là Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1975 đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự: Tạo ưu thế lực lượng, bảo đảm đánh địch trên thế mạnh; vận dụng sáng tạo cách đánh chiến dịch; phát huy sức mạnh các binh chủng, quân chủng trong tác chiến quy mô lớn và đặc biệt là kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhân dân. Sự kết hợp các đòn tiến công như vũ bão của các binh đoàn chủ lực với nổi dậy của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, kết hợp tiêu diệt địch với giành quyền làm chủ, tạo sức mạnh áp đảo, trong đó đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực đi trước có tác dụng trực tiếp tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, quyết định thắng lợi trên chiến trường, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy. Ngược lại, sự nổi dậy của quần chúng có tác dụng căng kéo, phân tán địch, giành dân, giành đất, mở ra thế trận tiến công mới, làm cho LLVT ta tăng thêm sức mạnh, có điều kiện và thời cơ tiến lên đánh to, thắng lớn. Đó là sự vận dụng, phát triển sáng tạo việc kết hợp hai hình thức đấu tranh: Đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; hai phương thức tiến hành chiến tranh: Chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích.

Xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975.

Trong chiến dịch Tây Nguyên, phối hợp với đòn tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực, nhân dân và LLVT địa phương tiến hành các hoạt động tác chiến nghi binh, triển khai làm đường cơ động, phát động quần chúng nổi dậy diệt bắt ác ôn, truy lùng bọn tề điệp, giành chính quyền ở từng khu phố. Quần chúng nhân dân nổi dậy phá “ấp chiến lược”; vận động, làm tan rã địch, cùng Ủy ban Quân quản ổn định tình hình địa phương sau khi được giải phóng.

Chiến dịch Huế – Đà Nẵng thể hiện sự phát triển cao nghệ thuật kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, tiêu diệt và làm tan rã tập đoàn lớn quân địch, vừa giải phóng khu vực, vừa giải phóng thành phố, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Trên hướng Trị Thiên-Huế, đòn tiến công của Quân đoàn 2, trực tiếp là Sư đoàn 324 đã phá một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực Đường 14 phối hợp với nhân dân địa phương nổi dậy giành chính quyền, giải tán toàn bộ chính quyền ngụy Sài Gòn. Trên hướng Đường 12, Trung đoàn 6 và Trung đoàn 271 (Quân khu Trị Thiên) tiến qua sông Hương vào Huế; Trung đoàn 3 (Sư đoàn 324) từ phía nam phối hợp cùng với xe tăng phát triển tiến công vào nội đô, nhân dân ở quận 1, 2 nội thành Huế và quận Phú Vang nổi dậy đánh chiếm, treo cờ ở quận lỵ, tổ chức đón bộ đội, tự vệ nội thành chiếm giữ một số mục tiêu trong thành phố, du kích và nhân dân địa phương dẫn đường, truy lùng địch, giúp bộ đội qua sông, diệt tề điệp, ác ôn. Trên hướng Đà Nẵng, khi các đơn vị chủ lực Quân đoàn 2 phối hợp với LLVT Quân khu 5, nhanh chóng thọc sâu bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, tiến thẳng vào thành phố, đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, thì LLVT địa phương và quần chúng cách mạng nổi dậy giải phóng Hội An và một số nơi khác. Trong thành phố, lực lượng du kích, tự vệ phối hợp tiến công khu nhà lao, bảo vệ các cơ sở sản xuất, kinh tế, văn hóa, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo đảm cho thành phố ổn định sinh hoạt bình thường ngay sau khi giải phóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh có quy mô lực lượng lớn, cường độ tiến công, trình độ tác chiến hiệp đồng cao, đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các binh đoàn chủ lực với nhân dân và LLVT địa phương, giữa các cánh quân và các binh chủng hợp thành. Trong chiến dịch này kết hợp với các đòn tiến công áp đảo của các binh đoàn chủ lực, nhân dân thành phố dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng, hỗ trợ của các đơn vị đặc công, biệt động, bộ đội địa phương thành phố, nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền ở nhiều khu vực nội, ngoại thành, các huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức. Ở nội thành, quần chúng kết hợp với LLVT tại chỗ nổi dậy chiếm trụ sở một số khóm, phường của hầu hết các quận và 6 tòa hành chính quận, đến chiều 30-4-1975 cơ bản ta đã giành quyền làm chủ, kiểm soát tất cả các quận, huyện, phường, xã. Đòn nổi dậy của quần chúng trong chiến dịch Hồ Chí Minh với quy mô rộng lớn, hình thức phong phú đa dạng, kết hợp với tiến công quân sự, nòng cốt là các binh đoàn chủ lực, đã phản ánh quy luật của khởi nghĩa và đạt tới trình độ nghệ thuật phát triển cao của chiến tranh cách mạng.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1975 kết thúc thắng lợi, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của tất cả các thành phần, lực lượng của cả nước, trong đó sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, phát triển trở thành nét đặc sắc trong nghệ thuật toàn dân đánh giặc, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bài học kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào xây dựng nền nghệ thuật quân sự hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá Đào Văn Đệ

qdnd.vn

Ngày này cách đây 36 năm, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn

Trận chiến đấu cuối cùng vì độc lập, tự do (25/04/2011)

Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh   Ảnh: T.L

Tốc độ phát triển của chiến sự làm Tổng hành dinh tại Hà Nội phải thay bản đồ mới, khi những ký hiệu xanh, đỏ thể hiện tình hình ta và địch tại các trọng điểm trở nên dày đặc, chi chít. Thời cơ giành toàn thắng đã đến gần.

Lúc này lực lượng địch đã bị căng ra rất mỏng, lực lượng dự bị còn rất ít. Trong nội đô chỉ còn dựa vào lực lượng cảnh sát và phòng vệ dân sự. Chính quyền Sài Gòn cũng có những động thái muốn hoãn binh, lập chính phủ mới đi đến giải pháp chính trị, cố tránh một cuộc tiến công lớn vào Sài Gòn nhằm cứu vãn chế độ, rồi tìm cơ hội phản công lại…

Tại Tổng hành dinh, đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe báo cáo, đề đạt các phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn. Các nhận định được thống nhất: Hướng Đông và Tây-Tây Bắc là nơi địch có lực lượng mạnh. Ở hướng Tây và Tây-Nam địch bố trí phòng thủ yếu hơn. Địch đang dồn lực lượng ra đối phó với ta vòng ngoài nên nội đô rất yếu. Nếu đánh thiệt hại nặng vòng ngoài thì bên trong có thể có tình hình đột biến. Thế mạnh chiến lược của ta là trong ngoài cùng đánh, quần chúng bên trong nổi dậy. Phương án định ra là: chọn hướng Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu. Hướng Đông là hướng quan trọng. Hướng Đông Nam là hướng thọc sâu. Cần thực hiện đánh bao vây chia cắt, đột kích thật mạnh từ bên ngoài với tác chiến, phá hoại, nổi dậy từ bên trong, không cho địch co cụm vào nội đô, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế chủ yếu. Năm mục tiêu quan trọng được xác định là dinh Tổng thống ngụy quyền, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất.

Tổng hành dinh đã cử ngay cán bộ vào trao đổi trực tiếp với Bộ chỉ huy mặt trận. Thực hiện kế hoạch đã thống nhất, trên chiến trường, quân ta nhanh chóng cơ động lực lượng chủ lực, binh khí kỹ thuật tiếp cận chiến trường, tạo uy thế tuyệt đối về lực lượng so với địch. Đẩy mạnh đánh chia cắt bao vây quân địch. Các đơn vị quân khu 8, 9, các đơn vị đặc công, biệt động vùng tăng cường đánh địch áp sát thành phố Cần Thơ và ngăn chặn các con đường huyết mạch xuống đồng bằng sông Cửu Long… Phát huy sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công giải phóng một số khu vực quan trọng, mở thông từ Đông Nam Bộ sang Tây Nam Bộ, đánh thông hành lang Tây Ninh – Kiến Tường, làm chủ một phần sông Vàm Cỏ Tây tạo thế thuận lợi cho lực lượng phía Nam tiến công vào Sài Gòn.

Thế trận tại chỗ đã bày xong. Các lực lượng quen thuộc chiến trường sẽ đảm nhiệm các hướng có địa hình phức tạp, dành những hướng gần nhất phía Bắc và phía Đông cho các lực lượng từ xa đến. Ở hướng Bắc, ta bố trí quân đoàn 1. Hướng Tây, quân đoàn 3. Hướng Nam, trung đoàn 88 và 24 được tăng cường trung đoàn 271B. Sư đoàn 5, sư đoàn 8 áp sát Mỹ Tho. Hướng Đông, quân đoàn 4 sau khi giải phóng Xuân Lộc áp sát Trảng Bom, quân đoàn 2, sư đoàn 3 và lữ đoàn 52 (Quân khu 5) tiến sát Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong. Sáu trung đoàn đặc công và hàng chục đội biệt động đã sẵn sàng từ vùng ven đến nội thành.

Tại Tổng hành dinh, trên tấm bản đồ Chiến dịch Hồ Chí Minh, các mũi tên lớn màu đỏ vây chặt hang ổ cuối cùng của địch.

Giờ G đã điểm, cả chiến trường như nổ tung. Các phương tiện thông tin trong và ngoài nước hoạt động sôi sục. Tin chiến thắng tràn ngập báo đài… Tối 27-4, hướng Tây Bắc sư đoàn 316 chặn địch ở Phú Mỹ và Đông Trảng Bàng. Hướng Tây Nam ta áp sát đường số 10, chặn địch trên đường số 4 chia cắt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long, mở đầu cầu vượt sông Vàm Cỏ Đông, chiếm lĩnh vùng ven. Hướng Đông ta tiến công căn cứ Nước Trong, chi khu quân sự Long Thành và thị xã Bà Rịa. 17 giờ ngày 28-4 phi đội Quyết Thắng đã tiến công sân bay Tân Sơn Nhất bằng máy bay thu được của địch.

Sau hai ngày tiến công ta đã cơ bản thực hiện được kế hoạch, bao vây cô lập Sài Gòn, chiếm được một số mục tiêu quan trọng như Trảng Bom, Long Thành, Đức Thạnh. Sân bay Tân Sơn Nhất bị tê liệt. Lực lượng vũ trang và nhân dân vùng ven đã phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công và nổi dậy tiến công các căn cứ địch xung quanh thành phố. Hệ thống chỉ huy của quân ngụy đều rối loạn. Chính quyền thay đổi. Nhiều nhân vật lớn của Sài Gòn vội vã chạy ra nước ngoài. Các nhân viên quân sự, dân sự của Mỹ tháo chạy bằng máy bay lên thẳng… Đêm 28-4, Tổng hành dinh thức trắng đêm. Tổng bí thư Lê Duẩn điện khẩn vào chiến trường: … “tiếp tục tiến công vào Sài Gòn với khí thế hùng mạnh nhất…”.

Chiến trường vẫn tiếp diễn với các cuộc chiến đấu ngày càng ác liệt, khẩn trương hơn. Tối 29-4, hướng Tây Bắc, quân đoàn 3 đã tiến công tiêu diệt được căn cứ Đồng Dù, bắt sống tư lệnh sư đoàn Lý Tòng Bá. Nhân dân Củ chi nổi dậy chiếm quận lỵ. Hướng Bắc, quân đoàn 1 đã chiếm được thị trấn Tân Uyên, bao vậy Phú Lộc, tiến xuống Lái Thiêu. Hướng Tây Nam, đoàn 232 cũng đã chiếm thị xã Hậu Nghĩa, chi khu quân sự Đức Hòa, thị xã Tân An, thị trấn Bến Lức. Hướng Đông, cuộc tiến công của ta có khó khăn hơn khi địch chống cự dữ dội. Quân đoàn 4 bị kìm chân đang nỗ lực chọc thủng phòng tuyến cố thủ của địch.

Theo kế hoạch, 5 giờ 30 ngày 30-4 các hướng sẽ đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Do tình hình phát triển thuận lợi, cánh quân phía Đông do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy xin nổ súng trước, lúc 18 giờ 29-4, sớm hơn 12 tiếng đã được chuẩn y. Tổng bí thư Lê Duẩn đã nói với đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Đánh, đánh, đánh thôi anh ạ! Lúc này, cánh quân nào phát triển thắng lợi là tạo thắng lợi chung cho toàn chiến dịch”. Và như vậy, trên thực tế trận tiến công cuối cùng vào Sài Gòn – Gia Định là lúc 18 giờ ngày 29-4.

Ngày 30-4, trên tấm bản đồ chiến sự, các mũi tên đỏ đã phát triển rất nhanh về trung tâm thành phố. Lực lượng thọc sâu của quân đoàn 2 trên cánh quân phía Đông vượt qua sông Đồng Nai. Pháo binh của ta ở Nhơn Trạch pháo kích dữ dội sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đã tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn 4, sau một thời gian bị kìm chân đã dũng mãnh tiến công tiêu diệt được Trảng Bom, tràn lên đánh chiếm Hố Nai, tiêu diệt quân đoàn 3 ngụy, tiến thẳng vào nội đô. Sư đoàn 10, quân đoàn 3 tiến công mạnh vào ngã tư Bảy Hiền. Quân đoàn 1 đánh vào Lai Khê, Phú Lộc, Lái Thiêu thẳng vào Gò Vấp. Đoàn 232 cũng xốc tới Biệt khu thủ đô và Tổng nha Cảnh sát. Trung đoàn 1 và 2 Gia Định áp sát sân bay Tân Sơn Nhất mở tuyến vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ được cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hòa không để địch kịp phá hoại ngăn bước tiến của quân ta. Ở vùng ven đô, nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. Nhiều quận, phường, xóm đã được giải phóng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã điện gấp vào chiến trường: “Ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh: …Quân giải phóng đang tiến vào giải phóng thành phố; Quân đội ngụy quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng; Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp…”

10 giờ ngày 30-4, xe tăng của ta đã tiến vào nội đô; Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng… 11 giờ 30 đơn vị thuộc cánh quân phía Đông đã cắm cờ trên dinh Độc Lập. Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn toàn thắng lợi.

Tại Tổng hành dinh các cán bộ nghẹn ngào xúc động. Cả đất nước như trào dâng niềm vui phấn khởi. Tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường, làng quê, thôn xóm. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất, dân ta sống trong hạnh phúc, hòa bình mà Bác hằng mong đã thành sự thật.

Thắng lợi vang dội của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã làm nức lòng quân và dân cả nước và bạn bè khắp năm châu. Niềm vui hòa trong nước mắt khi nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống cho ngày hôm nay, bao cán bộ, chiến sĩ, nhân dân đã vĩnh viễn ra đi trước giờ toàn thắng.

M.Ngọc Hà (Tổng hợp)

Đại Đoàn Kết