Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 1)

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cần phải phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Người nói: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”.Dưới sự tổ chức và rèn luyện trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chỉ 15 năm sau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân – phong kiến, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở đầu quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bàng hoàng và hoảng sợ trước ngọn đuốc giải phóng dân tộc trong thời đại mới đã được thắp sáng tại Việt Nam, thực dân Pháp và các thế lực phản động quốc tế phiêu lưu xâm lược Đông Dương một lần nữa. Sau nhiều cố gắng thương lượng bất thành, từ tháng 12 năm 1946, lãnh tụ Hồ Chí Minh một lần nữa lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam tiến hành trường kỳ kháng chiến và 9 năm sau kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tiếp nối Điện Biên Phủ – Việt Nam là hàng chuỗi phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở không gian Á, Phi và Mỹ La tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Sau thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thế chân, nhảy vào miền Nam, âm mưu chiếm đóng, chia cắt lâu dài đất nước nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: hoàn thiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn ngày càng được củng cố, miền Bắc hoàn thành nghĩa vụ cao cả là hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ. Quân và dân miền Nam đã lần lượt làm thất bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tiến tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Lá cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân giương cao, biến Việt Nam thành lương tâm và khí phách của cả thờì đại. Chiến thắng năm 1975 của Việt Nam là chiến thắng của thời đại Hồ Chí Minh, chiến thắng của dân tộc chống đế quốc, của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản, của văn minh chống lại bạo tàn, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về sự kiên định, trung thành với mục tiêu lý tưởng cộng sản; đồng thời, đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện Việt Nam, góp phần xứng đáng vào tăng cường sức sống cho hệ tư tưởng cộng sản trong thời đại mới. Chính vì vậy, Người không chỉ được kính trọng, ngưỡng mộ, mà còn là một tấm gương cần noi theo, một sự chỉ dẫn không thể thiếu đối với nhân dân Việt Nam và đông đảo lực lượng cách mạng, tiến bộ toàn thế giới trước kia, hiện tại và tương lai.
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa cộng sản, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong một sự nghiệp cách mạng. Lập trường cộng sản của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở của một nhận thức đúng đắn, một ý chí sắt son với quốc gia dân tộc, một trình độ giác ngộ giai cấp sâu sắc qua thực tiễn hoạt động chính trị – xã hội phong phú của bản thân Người. Bởi vậy, ngay trong hoàn cảnh hoạt động bí mật hiểm nghèo, trong chốn lao tù khắc nghiệt, hay trong những thời điểm bị chính các đồng chí cộng sản hiểu lầm, đánh giá sai…, Người vẫn luôn luôn tự tin, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cộng sản.

Điều hết sức đặc sắc ở Hồ Chí Minh là Người đã duy trì sự kiên định, trung thành bằng cách vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận cộng sản chủ nghĩa một cách kịp thời, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như với bối cảnh mới của thời đại. Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi; về vai trò, vị trí của cách mạng vô sản ở thuộc địa đối với cách mạng thế giới nói chung và cách mạng vô sản ở chính quốc nói riêng; về khả năng, tiềm năng cách mạng của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Đông Dương; về giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; về quy luật ra đời của đảng cộng sản ở Việt Nam; về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa – phong kiến; về xây dựng nền văn hóa và con người mới xã hội chủ nghĩa; về khối đại đoàn kết toàn dân tộc như động lực của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân với sức mạnh tổng hợp, chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân; về xây dựng Nhà nước, xây dựng Đảng như tổ chức của những công bộc, những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; về nền đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, hợp tác và hội nhập quốc tế… là những cống hiến vô giá đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.

Hệ thống lý luận do Mác, Ăngghen và Lênin xây dựng cách đây hàng thế kỷ vẫn có ý nghĩa thời đại sâu sắc một phần rất lớn là nhờ được nhiều lãnh tụ cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh của Việt Nam, bổ sung, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn sinh động của quốc gia và thế giới đương thời. Đối với những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn có giá trị soi sáng con đường cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trước kia và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới vừa qua cũng như những đóng góp của đổi mới đối với quá trình phục hồi, phát triển của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trên ý nghĩa hiện thực của nó, cũng chính là thành công và đóng góp của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là một chiến sĩ trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, có đóng góp to lớn cho tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân tất cả các nước, giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa vô sản và các dân tộc bị áp bức và giữa các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới với nhau. Chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh có nội dung phong phú: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột; đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”; đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội; đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Từ năm 1912 đến năm l917, Người đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ, sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa. Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ I, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân như đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa. Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các diễn đàn này, Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là một nhân cách cộng sản mẫu mực, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; sống cuộc đời giản dị, khiêm tốn, ham học hỏi, nói đi đôi với làm; thực hành nghiêm túc các nguyên tắc sinh hoạt của Đảng; gắn bó máu thịt với nhân dân, thường xuyên nhấn mạnh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Trọn đời, Người chỉ có một mục đích duy nhất là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người “…chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t4, tr.161).

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, trong đó chứa đựng tinh hoa của đạo đức nhân loại, đạo đức dân tộc và đạo đức cộng sản mà Mác, Ăngghen, Lênin đã đặt nền móng. Nội dung hàng đầu của đạo đức Hồ Chí Minh là trung với nước, hiếu với dân, là tình yêu thương con người. Chữ “trung”, chữ “hiếu” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên tầm cao cộng sản, đó là trung thành với lợi ích quốc gia, với độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả, nghiệp lớn. Chính vì vậy, đạo đức Hồ Chí Minh là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người chỉ rõ: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t5, tr.252). Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dốc trọn tâm can, nhiệt huyết cho dân, cho nước, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không tơ hào lợi lộc, vinh hoa phú quý là nội dung rất quan trọng trong đạo đức Hồ Chí Minh, được vị lãnh tụ đề cập ngay từ đầu trong tác phẩm Đường cách mạng và nhấn mạnh trong Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa.

Trong mọi hoàn cảnh, dù ở thủ đô hay trong rừng núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giản dị, thanh cao. Hình ảnh vị lãnh tụ với cháo bẹ, rau măng, lán rạ… trong núi rừng kháng chiến; hay đôi dép cao su, bộ ka ki khiêm tốn, ngôi nhà sàn bé nhỏ, đơn sơ… trên cương vị nguyên thủ quốc gia, mà khi đi vào cõi vĩnh hằng không để lại một chút tài sản riêng tư, đã tạc dấu ấn của một nhân cách cộng sản đích thực vào tinh thần thời đại ngày nay.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh còn tỏa sáng một cách mẫu mực từ việc làm, cách ứng xử và cuộc sống hàng ngày của Người. Khi kêu gọi toàn dân xây dựng hũ gạo kháng chiến, vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cũng mỗi bữa bớt lại một nắm gạo và 10 ngày nhịn ăn một bữa. Khi kêu gọi toàn dân rèn luyện thân thể, Người cũng “tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Để thực hiện nghiêm túc chủ trương tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn mang theo cơm nắm, muối vừng trong mỗi chuyến công tác,v.v… Suốt đời, Người thực hiện nói ít, làm nhiều, nói đi đôi với làm, cán bộ làm gương cho quần chúng noi theo, xây đi đôi với chống, lấy xây làm chính và thực hành tu dưỡng đạo đức thường xuyên như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh cũng tỏa sáng một cách độc đáo từ quan niệm Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Ngay sau khi thành lập nước, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, kiên trì đấu tranh phòng chống các căn bệnh, nguy cơ quan liêu, xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng nhân dân, đặc quyền đặc lợi, chủ nghĩa cá nhân… Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội chưa hẳn là đời sống vật chất cao, mà trước hết ở các giá trị nhân văn, đạo đức của nó, được thể hiện trong từng cán bộ cách mạng và đảng viên. Người nhấn mạnh: “Phong trào cộng sản quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh loài người chẳng những là do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành sức mạnh vô địch” (Hồ Chí Minh: Lênin và Cách mạng tháng Mười. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.160).
Thế giới ngày nay có biết bao đổi thay sâu rộng, khó lường. Sự nghiệp của những người cộng sản đã phải nếm trải không ít đổ vỡ, mất mát nhưng loài người không bao giờ quên, không bao giờ phủ nhận những đóng góp lịch sử vĩ đại của cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong suốt thế kỷ XX. Loài người cũng mãi mãi tự hào về những chiến sĩ lỗi lạc, những lãnh tụ kiệt xuất đã từng xuất hiện và trưởng thành từ phong trào cộng sản, phong trào cách mạng sôi động ấy, trong đó có Hồ Chí Minh (Việt Nam).

Ở những thập niên đầu thế kỷ XXI hiện nay, nhân dân lao động toàn thế giới đang nỗ lực và sáng tạo đấu tranh vì một thế giới tốt đẹp hơn: một thế giới của hòa bình, độc lập dân tộc; một thế giới khác với thế giới tư bản chủ nghĩa, không còn áp bức, bóc lột, bất công. Tuy nội dung, hình thức đấu tranh có nhiều điểm khác trước, nhưng mục tiêu đấu tranh vẫn thống nhất với thời kỳ của các thế hệ tiền bối cách mạng. Bởi vậy, lá cờ của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và tấm gương của các chiến sĩ cộng sản lỗi lạc như Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị dẫn đường./.

Advertisements

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 2)

TP – Năm 1965, dân chúng Mỹ bắt đầu nghi ngờ về việc Hoa Kỳ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến Việt Nam. Số lượng người phản đối ngày một tăng lên.

Sự phẫn nộ của những người yêu hòa bình

Nhiều thanh niên bất mãn đã tách khỏi xã hội Mỹ và thành lập những công xã như thế này

Các cuộc phản đối được thực hiện với nhiều kiểu thể hiện: Những buổi biểu diễn nhạc chống chiến tranh, tuần hành đòi ngưng ném bom, khẩu hiện dán trên xe máy: Tình yêu chứ không phải chiến tranh, và biểu ngữ “Chiến tranh có hại cho trẻ em và những sinh vật khác”.

Thanh niên Mỹ đốt giấy triệu tập nghĩa vụ quân sự và bao vây các trung tâm tuyển quân. Các cuộc biểu tình lan vào trường học, đặc biệt là sau khi việc hoãn triệu tập nghĩa vụ quân sự đối với sinh viên bị bãi bỏ.
Năm 1968, khoảng 10.000 người Mỹ đã di cư sang Canada để tránh phục vụ cho cái mà họ gọi là cuộc chiến tranh đồi bại.

Lý do để những người yêu hòa bình phản đối cuộc chiến này được đưa ra ngày càng nhiều. Một trong những lý do chính là họ cho rằng thực chất của cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là một cuộc chiến trong đó lực lượng Việt Cộng đã cố gắng để đánh bại một chính phủ tham nhũng và vô dụng ở Sài Gòn.

Những người yêu hòa bình tố cáo Chính phủ Hoa Kỳ đã hủy hoại cả đất nước và con người Việt Nam, đã làm cho hàng ngàn người Mỹ chết, bị thương, và cái giá của cuộc xung đột này còn thể hiện ở chỗ nạn lạm phát trầm trọng.

Phái hiếu chiến lại đồng ý với Johnson rằng cuộc chiến ở Việt Nam quan trọng đối với an ninh của nước Mỹ và cần chấp nhận sự chết chóc và tốn tiền của. Thậm chí còn có người đòi chiến tranh phải leo thang thêm nữa.

Họ tin sẽ có “ánh sáng ở cuối đường hầm” và chỉ có những nỗ lực hết cỡ của quân đội mới có thể mang lại chiến thắng trọn vẹn. Họ dẫn chứng từ những báo cáo của những nhà ngoại giao Mỹ và tư lệnh ở chiến trường Việt Nam rằng đối thủ của họ đã kiệt sức và đang đứng trước bờ vực chiến bại.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Tối thứ Ba ngày 30 tháng Chạp năm 1968, là ngày đón năm mới của người Việt Nam. Những ngày kế tiếp được gọi là Tết – những ngày bắt đầu một năm mới tính theo lịch mặt trăng.

Ở khắp các đô thị miền Nam VN, đường phố đông nghẹt những người trẻ tuổi trông như vừa mới từ ngoại ô lên để đón lễ. Ngoài ra còn có rất nhiều những đám tang bất thường với kèn sáo, và dĩ nhiên là cả quan tài.

Nhưng khi vỡ lở rồi mới biết, áo quan chứa toàn vũ khí, còn những người ngỡ như nông dân lại là Việt Cộng. Tối đó, Việt Cộng đã mở một cuộc tấn công kinh hoàng khắp cả trăm đô thị ở miền Nam, trong đó có Sài Gòn và 26 tỉnh lỵ.

Sau một tháng chống trả, quân đội Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ giành lại được quyền kiểm soát, làm thương vong 42.000 quân Việt Cộng. Đó là một sự kiện chứng tỏ với Johnson rằng đối phương không hề đã bị đẩy đến bờ vực đầu hàng và cuộc chiến hãy còn dài lắm.

Johnson quyết định rút lui

Trước dấu hiệu có thể bị thất bại trong cuộc chạy đua tiếp theo vào Nhà Trắng bởi những đối thủ có chính sách hòa bình ở Việt Nam được đông đảo cử tri ủng hộ, mà một trong những người đó chính là anh trai của cố Tổng thống John Kennedy – ông Robert Kennedy, người đã đề nghị việc Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam từ đầu năm 1963 với phát biểu: “Chúng ta đang giết những người vô tội…”

Là một chính trị gia tinh quái, Johnson hiểu điều gì sắp xảy ra. Ngày 31/3/1968, ông tuyên bố trên tivi: “Tôi đang từng bước hạ màn chiến tranh ở Việt Nam. Tôi đã đề nghị không lực của chúng ta không tiếp tục oanh tạc Bắc Việt Nam”.

Sau một thoáng suy nghĩ, ông nói tiếp: “Đang có sự chia rẽ trong các gia đình người Mỹ. Do đó, tôi không mong muốn, và cũng không chấp nhận Đảng của tôi bổ nhiệm tôi làm tổng thống trong nhiệm kỳ tới”.
Bốn năm trước, Johnson nhận được sự ủng hộ của đông đảo cử tri Mỹ. Nhưng lúc này, ông đã phải tuyên bố giã từ sự nghiệp chính trị của mình.

Sau đó một tháng, một cuộc đàm phán sơ bộ giữa những người đại diện của ông Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ được tổ chức ở Paris. Bất chấp điều đó, chiến sự vẫn nổ ra.

Thời đại Nixon

Cuối những năm 1960, người Mỹ ngao ngán với những cuộc bạo động, biểu tình. Cuộc chiến ở Nam á vẫn không có được câu trả lời khi nào thì chấm dứt. Việc hai chính khách bị ám sát trong cuộc tuyển cử năm 1968 càng làm cho dân chúng lo lắng và thất vọng. Vì thế cử tri Mỹ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên hứa hẹn đoàn kết đất nước lại.

Richard M.Nixon trở thành Tổng thống Hoa Kỳ tháng Giêng năm 1969. Năm 1972, ông tái đắc cử. Chính quyền Nixon thay đổi chính sách đối ngoại, tái lập mối quan hệ với Trung Quốc, và muốn chấm dứt sự liên lụy với cuộc chiến Việt Nam.

(Còn tiếp)
Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng
dịch và tổng hợp

>>Kỳ 1: Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam?

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ cuối)

TP – Nixon luôn phải nỗ lực quyết liệt để đạt được những thành tựu trong cuộc đời. Điều đó khiến ông ta có nhận định rằng thế giới chỉ là một đấu trường trong đó chỉ có chiến thắng mới là điều đáng quan tâm.

ảnh đăng trang 716 với ghi chú : "Vợ chồng Tổng thống Nixon đón nhận sự cổ vũ sau bài diễn văn ông đọc vào năm 1968 tại New York"

Nixon và kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh

Có vẻ như ông ta nhìn nhận những người không cùng quan điểm không đơn giản chỉ là người bất đồng với ông mà là kẻ thù của ông. Những người này đe dọa đến quyền lực của ông và họ cần phải bị tiêu diệt.

Nixon cư xử nếu không nói như một Hoàng đế, thì cũng giống một hoàng tử. Ông ta mua một biệt thự giá 250.000USD ở Key Biscayne– Florida, và một biệt thự khác ở San Clemente– California mà ông ta phong cho cái tên là Nhà Trắng miền Tây.

Chính phủ của ông chi hết 10,5 triệu USD trong hai nhiệm kỳ, một phần trong số đó là để trang bị vũ khí và thiết bị an ninh, còn phần lớn là để sắm sửa đồ đạc và xây dựng cảnh trí. Mười sáu phi cơ và mười sáu máy bay trực thăng luôn phải túc trực để ông sử dụng. Quản gia, người hầu, đầu bếp, thợ làm vườn, lái xe của Nixon gồm cả trăm người.

Trong một lần trả lời báo chí, Nixon cho rằng: “Tổng thống phải khác người, ông ta phải có một phong cách đặc biệt. Bởi dân chúng muốn như vậy. Họ không muốn Tổng thống cũng tham gia vào đám đông và nói : Nhìn này, trông tôi cũng giống với các anh”. Thế nên, người ta luôn thấy ông thắt cà-vạt và mặc áo choàng. Và thậm chí bạn thân của ông ta cũng không được gọi tên của ông, mà phải trân trọng gọi là Mr.Nixon hoặc ngài Tổng thống.

Với thái độ xa lánh dân chúng kiểu đó, dưới thời đại của ông rất ít có những cuộc họp báo và các thông tin quan trọng thường không đến được với dân chúng Mỹ. Một ví dụ là Nixon đã không nói về việc ông cho ném bom Campuchia mãi đến khi việc này đã xảy ra được hơn một năm.

Nhiều người lo ngại rằng Tổng thống đã bao trùm những luật lệ của riêng ông lên Chính phủ.

Tháng 6/1969, Nixon tuyên bố kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”. Có nghĩa là sẽ từ từ rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam và để miền Nam Việt Nam tự giải quyết cuộc chiến của họ. Cuối tháng 8/1969, nhóm 25.000 lính Mỹ đầu tiên trở về nhà. Thời điểm đó, ông tăng cường ném bom miền Bắc, và bí mật ném bom cả Lào và Campuchia.

Phong trào phản chiến tăng lên

Ảnh đăng trang 719 với ghi chú : “Gia đình Nixon thăm Vạn lý trường thành. Chuyến thăm Trung Quốc năm 1972 này đã đánh dấu một mốc chuyển biến quan trọng trong đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ”

Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh chỉ thành công một phần. Số lượng binh lính Mỹ trở về nhà ngày một tăng lên, nhưng chính quyền tham nhũng và kém hiệu quả của Nguyễn Văn Thiệu không thể tuyển được đủ quân để lấp vào khoảng trống đó.

Trong khi đó, các tổ chức phản chiến ở Mỹ ngày càng lớn mạnh. Ngày 15/5/1969 hàng trăm ngàn người Mỹ đeo băng đen trên tay áo đổ ra đường diễu hành.

Một cuộc xuống đường tương tự diễn ra vào ngày 15/10/1969. Rồi ngày 15/11/1969 tại Washington khoảng 40.000 người tham gia cuộc đi bộ “Phản đối sự chết chóc” , mỗi người cầm một tấm bảng có ghi tên một lính Mỹ chết ở Việt Nam.

Ông Nixon không chứng kiến các cuộc diễu hành này. Ngồi trong Nhà Trắng, ông bận xem trận bóng đá trên tivi. Ông ta cảm thấy việc rút quân khỏi Việt Nam một cách vô điều kiện là nhục nhã.

Và để có “Hòa bình trong danh dự” thì phải thông qua việc Việt Nam hóa chiến tranh. Một cuộc thăm dò dư luận Mỹ cho thấy 3/4 dân chúng Mỹ đồng tình với quan điểm này của Tổng thống.

Nhưng dần dần cách nhìn nhận của dân chúng Mỹ thay đổi. Tivi đã đưa hình ảnh về sự chết chóc và hủy hoại trực tiếp vào tận trong các gia đình người Mỹ. Báo chí đăng tải những sự kiện như lính Mỹ tàn sát cả một làng của người Việt ở Mỹ Lai.

Mùa xuân 1970, Nixon thông báo quân đội Mỹ đã xâm chiếm Campuchia để xóa sổ những địa điểm tiếp tế của Việt Cộng và Bắc Việt Nam. Dù cho binh lính đã rút khỏi đây vào tháng Sáu, nhưng phong trào phản chiến vẫn ngày càng sôi sục. Quốc hội có nghị quyết đòi việc ném bom Campuchia phải chấm dứt vào tháng Bảy.

Sinh viên đồng loạt biểu tình. Hơn 400 trường học đóng cửa. Từ ngày 9 đến 10/5/1970, khoảng 100.000 sinh viên tập trung trước Nhà Trắng. Thoạt đầu, Nixon gọi họ là những kẻ lười biếng vô công rồi nghề.

Sau đó ông ta tìm cách trò chuyện với họ trong trật tự và thân thiện. Nhưng thay vì nói về chiến tranh, ông chỉ đề cập đến bóng đá và lướt sóng. Một tờ báo viết về sự kiện này : “ Hai người Mỹ gặp nhau và ông nói gà bà nói vịt”.

Việc thương lượng hòa bình vẫn được tiến hành ở Paris. Ngày 8/10/1972, sau khi đã kiên nhẫn thảo luận, Kissinger tuyên bố một thỏa thuận ngừng bắn với Bắc Việt Nam chuẩn bị được ký kết. Hòa bình trong tầm tay. Ngày 23/10, ông ta lại nói việc ký hiệp ước bị trì hoãn vì có những điểm cần làm sáng tỏ.

Có một lý do mà Nam Việt Nam không chấp thuận. Đến tháng 11, việc làm sáng tỏ này vẫn chưa hoàn tất, Nixon ra lệnh huy động tổng lực không quân Hoa Kỳ tấn công Bắc Việt Nam. Thật không may, hầu hết doanh trại, kho hàng, nhà máy là những điểm chính của cuộc tấn công đều được đặt ở khu dân cư đông đúc. Nhà cửa, trường học, bệnh viện bị phá hủy ngoài chủ định, tổn thất trong người dân cũng rất cao.

Trước sự việc đó, nhiều đại biểu Quốc hội trước đó từng ủng hộ Nixon cũng đã lên tiếng đòi nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến. Cuối cùng thì ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ cũng ký vào bản thỏa thuận này. Mỹ rút quân nhưng vẫn chi viện cho Nam Việt Nam. Còn Bắc Việt Nam thì thả tù binh Mỹ.

Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. 46.000 binh lính Mỹ tử trận, 300.000 bị thương, tiêu tốn hết 137 tỷ USD. Một hậu quả vô hình khác là sự chia rẽ trong các gia đình Mỹ và cảm giác bứt rứt của người Mỹ.

Sự tôn trọng chính quyền liên bang cũng bị giảm sút bởi sự che đậy các hành động của họ trước dân chúng. Trong đầu người Mỹ đã xuất hiện cảm giác không muốn có bất cứ một trường hợp Việt Nam tương tự nào nữa, nhưng họ vẫn mơ hồ về việc nước Mỹ có nên tiếp tục quan tâm đến những lục địa phía Tây bán cầu nữa hay không.

Một hệ quả của cuộc chiến này là sự hạn chế quyền hạn của Tổng thống trong chiến tranh. Tháng 11/1973, Quốc hội thông qua nghị quyết Quyền hạn trong chiến tranh, nêu rõ: Tổng thống gửi quân đội ra nước ngoài phải giải trình với Quốc hội trong vòng 48 giờ. Quốc hội có thể ra quyết định rút quân trong vòng 60 ngày. Nixon phủ quyết nghị quyết này, nhưng nó vẫn được thông qua mà không cần đến sự đồng ý của ông ta…

Thay lời kết

Người bạn gửi tặng chúng tôi cuốn sách này là Nguyễn- kỹ sư cơ giới hạng nặng đang làm việc tại một thành phố nhỏ phía Nam nước Mỹ. Gần 30 năm trước anh đã từng trải những ngày tháng kinh hoàng của thân phận vượt biên trái phép.

Vài năm trở lại đây cuộc sống riêng ổn định, vợ chồng anh vẫn dành trọn những ngày cuối tuần làm việc thêm ngoài giờ để có thêm tiền gửi về hỗ trợ nhiều hoàn cảnh khó khăn trên mọi miền đất nước mà báo chí Việt Nam kêu gọi giúp đỡ, đồng thời chuẩn bị tỉ mỉ về một kế hoạch mở lớp dạy nghề cơ khí miễn phí cho trẻ nghèo sau ngày hồi hương.

Nguyễn tâm sự: Anh chỉ là một trong hàng triệu Việt kiều luôn tha thiết thương nhớ quê hương, ước mong được đóng góp thật nhiều cho đất nước.

>>Kỳ 2 —->> Kỳ trước

Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng