Đẹp thay sức sống “Như có Bác trong ngày vui Đại thắng”!

(Dân trí) -Sức sống của Như có Bác trong ngày vui Đại thắng đã vượt quá tưởng tượng của tác giả bởi ca khúc nói đúng điều mà công chúng cần cất lên; nhịp điệu bài hát là nhịp đập của triệu, triệu trái tim VN – khát khao chiến thắng vươn lên trong Hòa bình, Thống nhất!

Thời khắc lịch sử: Xe tăng của ta húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. (Ảnh tư liệu)

Hơn 30 năm đã qua, nhưng những ngày này tôi vẫn thấy rạo rực cái không khí Tháng Tư của Đất nước, của Đài Tiếng Nói Việt Nam ngày ấy! Trên tường, trên bảng của từng phòng làm việc đánh dấu liên tục đường tiến của đại quân ta đang thắt chặt Sài Gòn…

Tiếng nói của các phóng viên Cao Nham, Đào Lộc Bình trong mục “Sổ tay chiến sự” cất lên hào sảng thu hút triệu triệu trái tim. Những bản nhạc Tiến về Sài Gòn, Giải phóng miền Nam… là tiếng kèn thúc giục trên mọi nẻo đường!

Xôn xao bao kỷ niệm, tôi gọi ngay cho tác giả bài hát Như có Bác trong ngày vui Đại thắng. Không ngờ, ông rất nhiệt tình mời đến nhà chơi nói chuyện, bởi “chuyện hơn 30 năm làm sao nói qua điện thoại”.

Như có Bác trong ngày vui Đại thắng: “Trúng, trúng rồi!”

“Ngày ấy, so với phóng viên thời sự, các anh được hừng hực bám sát bước chân các đoàn quân tiến về Sài Gòn thì chúng tôi lặng lẽ, âm thầm chuẩn bị” – Nhạc sĩ Phạm Tuyên là người phụ trách Âm nhạc của Đài ngày nào nhớ lại….

Thực ra, ngay từ đầu tháng 3, Tổng biên tập Trần Lâm đã họp với các nhạc sĩ bàn việc sáng tác ca khúc phục vụ tiến quân, bởi vậy ngay khi Đà Nẵng giải phóng 29/3, tôi đã có ngay Chào Đà Nẵng giải phóng theo nhịp sắc bùa, nhưng hầu như tốc độ sáng tác không theo kịp tốc độ tấn công thần tốc của chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ông Bùi Quang Thu (trưởng ban Biên tập Đối nội) là người chịu trách nhiệm về làn sóng thời sự của Đài gặp nhạc sĩ Pham Tuyên “đặt hàng” với trăn trở: “Lần này chiến thắng thật vĩ đại, cho nên ông phải làm một cái gì đó thật hoành tráng, đừng viết lắt nhắt. Phải có cái gì cho thật xứng tầm …”

Dù tâm trí bị hút vào những tin tức thời sự, chưa thật sự muốn làm “cái bề thế” như lời người đồng nghiệp, nhưng đêm về anh vẫn cặm cụi phác thảo một “đại giao hưởng” 4 chương: 1. Miền Bắc lũy thép, 2. Miền Nam thành đồng, 3. Tiến công và nổi dậy, 4. Toàn thắng.

Chất liệu âm nhạc không thiếu. Lời ca hào sảng, phơi phới theo lối xã luận không thiếu… Thế nhưng “Cứ ngồi vào đàn thì nó cứ lý trí làm sao ấy!”.

Thế rồi, đêm 28 tháng 4, khi nghe bản tin cuối cùng trong ngày nói về phi công quân đội Sài Gòn Nguyễn Thành Trung “quay lại” ném bom sân bay Tân Sơn Nhất và dinh Độc Lập thì lòng anh rạo rực!

Anh nghĩ đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến và có lẽ chỉ ngày một ngày hai! Anh hình dung ngay: ngày mai khi Đài báo tin chiến thắng thì từ mọi ngóc ngách xóm xã, nhà nhà, người người đổ ra đường hân hoan reo mừng trong niềm vui tột độ! Trong khí thế ấy liệu có ai ngồi yên để theo dõi bản giao hưởng, hợp xướng 4 chương?

Tính thời sự báo chí của một nhạc sĩ làm việc ở Đài cùng với con tim rung lên theo nhịp đập của những bước chân chiến sĩ đang tiến đến khúc khải hoàn ca toàn thắng đã lóe sáng trong anh “Tiếng reo vui tưng bừng Việt Nam – Hồ Chí Minh” – điệp khúc ấy tự nhiên vang lên!

Anh ngồi vào đàn và viết một mạch đến sau 23h đêm thì hoàn thành! Chép lại bản nhạc sạch sẽ, ngủ một giấc ngon lành, anh cảm thấy như đã trả được một “món nợ tinh thần” trăn trở suốt mấy tháng ròng.

Thế nhưng, sáng hôm sau đem lên Hội đồng duyệt nhạc của Đài, có ý kiến cho rằng “Có lạc quan hơi sớm, lạc quan tếu không?”. Có ý kiến lại cho là đơn giản quá, ngắn quá! Tuy vậy, Hội đồng cũng thông qua và đưa vào kế hoạch dàn dựng, thu thanh để kịp phục vụ kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5.

Bất ngờ, giữa trưa 30/4, nhạc sỹ được Ban biên tập Đài triệu tập khẩn cấp. Gặp ngay chân cầu thang tòa nhà hành chính, Tổng biên tập Trần Lâm hỏi ngay “Ông đã có bài hát gì về chiến thắng chưa? Lần này là Đại Thắng ! Cờ giải phóng đã cắm lên Dinh Độc lập rồi đấy”.

Xúc động đến trào nước mắt, nhạc sĩ rụt rè: “Tôi chỉ có một bài hát ngắn thôi!”. Tổng biên tập yêu cầu nhạc sỹ hát ngay, vừa hát xong, với nhạy cảm của một nhà báo, ông vỗ tay và thốt lên:

“Trúng rồi, trúng rồi… phải cho dạy ngay bài hát này trên Đài, mời ngay mọi người đang có mặt lên Hội trường học hát và triệu tập ngay Đoàn ca nhạc lên phòng thu M để thu thanh ngay kịp phát vào Chương trình thời sự đặc biệt vào lúc 17h chiều 30/4!”.

Đó là lúc ta chính thức công bố tin hoàn toàn giải phóng miền Nam trước thế giới.

Cả nước vang lừng “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng”

Bài hát bừng bừng khí thế, rộn ràng niềm vui do Cao Việt Bách chỉ huy, Đặng Hùng và Tuyết Thanh lĩnh xướng được phát lên cũng là khi hàng triệu người không ai bảo ai đổ xuống đường phất cờ, đánh trống, vỗ tay hát theo.

Việt Nam – Hồ Chí Minh, Việt Nam – Hồ Chí Minh, ba mươi năm Dân chủ Cộng hòa , ba mươi năm kháng chiến thành công!!!

Trên làn sóng của Đài TNVN, trên các loa truyền thanh khắp xóm xã vang vang giai điệu “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng…”

Bộ đội hát, nhân dân hát… đâu đâu cũng được nghe, rồi được tập, được hát theo Đài một cách hứng khởi.

Ngày 1/5 cả Hà Nội lại tiếp tục xuống đường mừng Đại thắng, các ban nhạc sinh viên, Nhạc viện, Quân nhạc đã diễn tấu Như có Bác trong ngày vui Đại thắng làm giai điệu diễu hành …

Ngày 2/5 bài hát được báo Nhân dân đăng tải trang trọng. Thực sự xúc động lòng người cả nước khi trên làn sóng Đài Phát thanh Giải phóng phát từ Sài Gòn vang lên tiếng hát của học sinh sinh viên “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng…”

Một phần ba thế kỷ, tôi ngồi đối diện với tác giả để cùng nhìn lại. “Bây giờ đã có độ lùi cần thiết để nhìn lại tác phẩm của mình, anh thấy có điều gì khi phải nói: Giá mà …?”

Là một người điềm đạm, nho nhã, luôn có cái nhìn cái thâm trầm chuẩn mực, nhạc sĩ Phạm Tuyên nở một nụ cười kín đáo: “Ngay từ lúc 16h ngày 30/4 năm ấy khi bài hát thu thanh xong, nhiều người trong đó các vị lãnh đạo hỏi tôi anh có cần bổ sung sửa chữa gì không? Tôi đã lắc đầu bởi tôi nghe bài hát của chính mình mà cứ tưởng như nó đã có sẵn từ bao giờ rồi!

Ngay cả ông bạn đòi hỏi tôi phải làm một cái gì cho thật hoành tráng lúc này cũng bảo tôi “như thế này là đủ và tốt lắm rồi, chẳng cần gì phải dài dòng văn tự nữa!”. Hơn một phần ba thế kỷ nhìn lại, tôi không thấy có gì cần bổ sung sửa đổi mà chỉ muốn nói vì sao tôi đã làm được bài hát “biên niên sử” này”.

Nhiều người từng nhắc đến chi tiết: nhạc sỹ đã bắt đầu cầm bút sáng tác bài hát này chỉ từ khi nghe bản tin đêm phát vào lúc 21h 30 đến sau 23h – chưa đầy 2 tiếng đồng hồ…

Đúng là chỉ chưa đầy 2 tiếng đồng hồ, nhưng nó được chắt lọc từ những gì mà Phạm Tuyên đã đánh đổi để cầm súng, cầm bút, cầm đàn chiến đấu suốt 30 năm trường kỳ kháng chiến – chống Pháp, chống Mỹ, mới thốt lên được câu rất đỗi tự nhiên: Việt Nam – Hồ Chí Minh, 30 năm Dân chủ – Cộng hòa, kháng chiến đã thành công

Cả nước tưng bừng trong cờ hoa rực rỡ và giai điệu “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng”

Thành công rực rỡ vượt xa tưởng tượng

Được nhà nước tặng thưởng huân chương lao động có lẽ cũng là sự kiện đặc biệt đối với bài Như có Bác trong ngày vui Đại thắng.

Tôi xin ghi lại nguyên văn câu chữ trong tấm bằng huân chương do Chủ tch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh ký “Thưởng nhạc sĩ Phạm Tuyên – Phó Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Ủy ban Phát thanh-truyền hình Việt Nam đã có thành tích xuất sắc trong việc sáng tác bài hát Như có Bác trong ngày Đại thắng – góp phần cổ vũ kip thời cho ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.

Nhà nước ghi nhận, đánh giá công lao là một điều hết sức vui mừng, nhưng có lẽ điều quan trọng đối với một tác phẩm nghệ thuật chính là sức sống của nó trong lòng công chúng. Sau 1/3 thế kỷ có những điều đã vượt ra quá tầm nghĩ của người sáng tác.

Tôi nói với anh: Thời còn Bác, sau mỗi khi kết thúc hội nghị, meetting thì thường Bác Hồ bắt nhịp Bài ca kết đoàn nhưng từ ngày giải phóng miền Nam thì chẳng có văn bản nào chỉ đạo, nhưng từ trung ương đến tỉnh huyện, xóm xã, bất cứ cuộc hội họp nào từ to đến nhỏ đều mở đầu là Quốc ca, kết thúc là Như có Bác trong ngày vui Đại thắng.

Trẻ con ngày trước đến mẫu giáo bài hát đầu đời là “bé bé bằng bông, bé đi sơ tán”, nhưng sau giải phóng, một trong những bài hát phổ biến nhất chính là Như có Bác trong ngày vui Đại thắng.

Bài hát còn vượt ra khỏi biên giới nước nhà để lan tỏa ở khá nhiều nước như Nga, Đức, Cuba , Trung Quốc… và thật đáng vui khi ta được biết từ năm 1979, Hội Âm nhạc lao động Nhật Bản đã dịch ra tiếng Nhật và in phổ biến xuống tận 49 tỉnh thành.

Còn có một điều rất quý giá với nhạc sỹ Phạm Tuyên là năm 1976 – Kỷ niệm 1 năm giải phóng miền Nam – thống nhất Tổ quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lấy tên bài hát Như có Bác trong ngày Đại thắng để đặt tên cho một bài viết trên báo Nhân Dân, nêu bật ý nghĩa cũa chiến thắng vĩ đại ấy.

Sức sống của bài hát đã vượt quá tưởng tượng của tác giả bởi điều quan trọng nhất chính là ca khúc đã nói đúng điều mà công chúng cần cất lên; nhịp điệu của bài hát chính là nhịp đập của triệu, triệu trái tim Việt Nam – khát khao chiến thắng vươn lên trong Hòa bình, Thống nhất!

 Nguyễn Lương Phán

dantri.com.vn

Advertisements

Bức điện hỏa tốc

(Dân trí) – “Hỏa tốc – Chính phủ Sài Gòn đầu hàng” – Chiến tranh đã kết thúc. Hòa bình đã về với đất nước đã chịu quá nhiều đau khổ. Lúc này chúng ta có thể tạm ngừng mọi công việc để chúc mừng hòa bình, chúc mừng bức điện hỏa tốc đặc biệt này.

Văn phòng UPI đặt tại tầng 7 khách sạn Bán Đảo, sếp văn phòng Alăng Daosơn đứng ngoài hành lang, dáng vẻ phấn chấn, nôn nao khác thường. Anh chăm chú theo dõi hàng đàn máy bay trực thăng khổng lồ, có lẽ có tới sáu, bảy chục chiếc, ầm ầm bay tới bay đi. Chúng từ biển Đông vào Sài Gòn, bốc những người Mỹ di tản và những người cộng tác với Mỹ đang tập trung trên mái bằng của 13 tòa nhà cao tầng nằm rải rác trên đường phố Sài Gòn, đưa họ ra các tuần dương hạm đậu ngoài biển theo phương án của cuộc hành quân “cơn lốc”.

Cuộc hành quân mang mật danh “cơn lốc” bắt đầu thử nghiệm vào đêm 20/4/1975. Sáng ngày 21/4/1975, tuyến phòng thủ cuối cùng ở Xuân Lộc sụp đổ. Cửa Đông Nam Sài Gòn bỏ ngỏ. Lập tức cuộc hành quân “cơn lốc” triển khai với quy mô lớn, có 60 máy bay vận tải khổng lồ C.130 – C.141 và hàng trăm máy bay khác tham gia. Tướng Xmít nói với nhân viên dưới quyền khi tiễn đưa họ di tản: “Các bạn đã biết, thế là hết. Tôi biết thế là hết”.

(Ảnh tư liệu)

Chiều 28/4/1975, quân giải phóng dùng máy bay F5 chiếm được của Mỹ oanh tạc sân bay Tân Sơn Nhất, không khí hoảng loạn tăng lên. Tướng Xmít, Pônga phụ trách chi nhánh CIA tại Sài Gòn, Mácbốt, Luman Phó đại sứ Mỹ đề nghị đại sứ Matin cho thực hiện phương án 4. Matin khăng khăng cho rằng dùng máy bay lên thẳng (phương án 4) lúc này chưa cần thiết, chỉ làm mất vinh dự người Mỹ mà thôi. Khốn nỗi, thực tế lại phũ phàng đối với tình cảm và sự tính toán của viên đại sứ già…

Ba giờ sáng ngày 29/4/1975, pháo tầm xa của quân giải phóng bắn tới tấp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đường bay bị bóc, nhà để máy bay tan nát, cơ quan DAO trúng đạn, tướng Xmít và Mácbốt bị hơi nổ quật ngã suýt chết, hai hạ sĩ quan thủy quân lục chiến MácMahon và Giót trúng đạn chết ngay tại chỗ. Sân bay Tân Sơn Nhất bị khóa, đó là giới hạn cuối cùng, là mệnh lệnh “người Mỹ cút nhanh nếu không muốn mang số phận tù binh chiến tranh”. Viên đại sứ ngoan cố không tin, bắt tướng Xmít cùng mình ngồi xe có trang bị chắn đạn ra Tân Sơn Nhất, thị sát tại chỗ, sân bay vẫn đang còn trong thảm họa. Tiếng súng lớn, súng nhỏ ran ran khắp nơi, nhiều đám cháy không được cứu chữa thả sức tung cao ngọn lửa, nhiều đoạn đường bay bị bóc tung lên, một chiếc F5B của Sài Gòn buộc phải hạ cánh cấp tốc chềnh ềnh giữa đường bay, phi công sợ quá đã bỏ máy bay mà chạy tháo thân. Hai chiếc C.130 bay đến nhưng không có đường băng hạ cánh đành ngóc đầu bay đi. Matin ủ rũ quay về sứ quán, đành chọn giải pháp cuối cùng thực hiện phương án 4 của cuộc hành quân, một phương án có thể gọi nôm na là “chuồn cho nhanh”.

Sự kiện này khiến cả văn phòng UPI nhộn nhịp, khẩn trương hẳn lên. Các máy móc, thiết bị kỹ thuật thông tin liên tục làm việc. Các phóng viên hối hả đến, hối hả đi: các nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ cặm cụi bên máy thu, máy phát, máy têlêtíp… Im lặng – Im lặng, chỉ có tiếng vận hành của máy là nghe rõ, 5 giờ sáng ngày 30/4/1975, bộ phận đài nhận được bức điện: “Phu nhân Lêdi đã lên không trung với Cóttu”. A lạy chúa! Lêdi 09 là mật danh máy bay lên thẳng chở Matin, Cóttu là bí danh của Matin. Vậy là… Mỹ đã rời bỏ cuộc chơi, các phóng viên mang nét mặt quan trọng hối hả đến rồi với nét mặt bồn chồn khẩn trương ra đi. Họ đi lùng tin, đón tin… để ngay lập tức chuyển  về đại bản doanh của họ ở bên kia đại dương hoặc châu lục địa nào đó với những tin tức đáng giá bằng chính tính mạng của họ.

Thế là đã rõ. Mọi người trong văn phòng UPI đều cùng một ý nghĩ như vậy, họ chỉ ngồi chờ lời tuyên bố được chính thức tuyên bố trên Đài phát thanh. Một sự kiện trọng đại sắp xảy ra, Alăng Daosơn dang rộng hai cánh tay như muốn hỏi các bạn đồng nghiệp: Các bạn có hiểu tầm quan trọng của sự kiện sắp xảy ra sẽ dẫn tới điều gì trên hành tinh không? Hàng triệu, hàng tỷ người trên khắp hành tinh đang nín thở chờ nghe tin tức của sự kiện này. Một mẩu tin được ưu tiên bậc nhất. Một mẩu tin được gửi đi bằng “bức điện hỏa tốc”. Máy sẽ reo lên 10 lần dấu hiệu (K) dấu hiệu này tới máy nào khiến nhân viên trực máy ấy xốn xang, họ lập tức gạt ngay mọi làn sóng họ đang tiếp nhận hoặc gửi đi để đón nhận tần số K dẫn tới – các hãng thông tấn Mỹ, chỉ mới phát một “bức điện hỏa tốc” khi xảy ra sự kiện Tổng thống Kennơdi bị ám sát.

Hôm nay, ở Sài Gòn này, trong khoảnh khắc thiêng liêng sắp tới nào đó, chỉ họ và chính họ, những phóng viên hãng UPI gửi đi “bức điện hỏa tốc” thứ hai của nước Mỹ. Làn sóng điện của máy têlêtíp của hãng UPI tại Sài  Gòn sẽ tung lên không gian một tần số quen thuộc nhưng vô cùng hấp dẫn. Rồi chừng 40 giây sau, chuông của 7.700 máy têlêtíp khắp trên hành tinh sẽ reo lên 10 lần, những nhân viên kỹ thuật của 7.500 cơ sở hồi hộp, nín thở  tiếp nhận  các tín hiệu. Rồi hàng triệu, hàng tỷ người trên hành tinh nín thở lắng nghe, lắng nghe… Lạy Chúa!

Bất chợt, một phóng viên cất tiếng phá tan sự im lặng thiêng liêng.

– Nếu bức điện hỏa tốc chưa gửi đi hết mà một Việt cộng xộc vào tay lăm lăm khẩu súng AK thì tính sao?

Alăng Daosơn thản nhiên trả lời, hầu như anh đã dự tính mọi tình huống có thể xảy ra:

– Chúng ta sẽ đứng lên xếp thành hàng ngang, làm thành bức tường bảo vệ cậu đánh têlêtíp, và làm như Acsimét xưa kia. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta đã cân nhắc mọi lẽ nếu xảy ra rủi ro ngoài dự kiến, chúng ta sẽ chấp nhận. Nhưng, không có thì giờ bàn chuyện dông dài, các bạn cho máy luôn ở tư thế sẵn sàng làm việc.

Văn phòng trở lại im lặng, các máy ghi âm đã bấm nút đèn hiện ở máy Thu thanh do Pônvôn điều khiển nhấp nháy, chỉ có tiếng lách tách từ 3 chiếc máy têlêtíp là vẫn điều đặn tung lên không gian những bản tin mới.

Bỗng Pônvôn kêu lên:

– Tướng Minh bắt đầu nói. Tổng thống nói dài, nhưng điều cơ bản nhất đã rõ. Alăng Daosơn bước lại đứng sau người nhân viên đánh máy, bức điện hỏa tốc hiện dần thành văn bản.

Zczc. VHAo25, NX1
BBHUPI NTDNSE
Zcz NVN

Hỏa tốc
Sài Gòn –  Chính phủ Sài Gòn đầu hàng.
Zczc MNVN

Alăng Daosơn cầm bức điện giao cho nhân viên người Việt Nam điều khiển têlêtíp tốt nhất để chuyển đi. Anh nhân viên người Việt Nam sững sờ khi đọc hết bức điện, rồi khẩn trương thận trọng gõ vào máy. Bức điện hỏa tốc được đánh nhắc lại ba lần để tránh mọi sự nhầm lẫn hoặc giả mạo.

Tất cả lặng người vì giây phút trọng đại nhất của nghề nghiệp phóng viên chiến tranh vừa diễn ra.

Alăng Daosơn phá tan sự im lặng:

– Cảm ơn chúa! Chiến tranh đã kết thúc. Hòa bình đã về với đất nước đã chịu quá nhiều đau khổ. Lúc này chúng ta có thể tạm ngừng chốc lát mọi công việc, để ra quầy rượu chúc mừng hòa bình, chúc mừng sự nghiệp vẻ vang của phóng viên chiến tranh vì đã đánh bức điện hỏa tốc đến khắp châu lục để mọi người biết được bản tin đặc biệt này.

Phạm Thành Nghi (cung cấp tư liệu)

dantri.com.vn

Danh hiệu Anh hùng cho người tham gia bắt nội các Dương Văn Minh

Báo tin tức – Những thước phim, những hình ảnh về chiếc xe tăng đâm đổ cánh cổng Dinh Độc Lập vào ngày cuối cùng của tháng tư năm 1975 mãi mãi là dấu ấn không thể nào quên với những người con đất Việt. Bởi kể từ đó, có một dấu chấm hết cho thời kỳ đất nước bị chia cắt làm hai; bởi kể từ đó, đất nước Việt Nam bước sang một trang mới độc lập, thống nhất. Chính vào thời khắc ấy, cái tên Phạm Xuân Thệ – người tham gia bắt nội các Dương Văn Minh – đã đi vào lịch sử.

Và niềm vinh dự được nhân lên, khi vào những ngày tháng 4 này, Trung tướng Phạm Xuân Thệ đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Vậy là ông đã trở thành người anh hùng thứ 12 của Sư đoàn 304.

Phạm Xuân Thệ sinh ngày 24/8/1947, ở xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, ông đã lập được rất nhiều thành tích chiến đấu xuất sắc. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tháng 8/1967, người thanh niên Phạm Xuân Thệ lên đường nhập ngũ; sau đó được tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, trực tiếp vây lấn Trung đoàn 26 lính thủy đánh bộ Mỹ tại căn cứ Tà Cơn – Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị.

Trong trận chiến đấu tại động Cô Tiên (thuộc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) vào tháng 6/1970, Đại đội của Phạm Xuân Thệ (lúc đó là Đại đội phó Đại đội 11) cùng với các đơn vị khác đã tiêu diệt được khoảng 1 tiểu đoàn địch, bắt tù binh và làm chủ trận địa. Với hành động chiến đấu dũng cảm, Phạm Xuân Thệ được anh em trong đơn vị tôn vinh “Cơn lốc động Cô Tiên”.

Tháng 2/1971, Phạm Xuân Thệ được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 10 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66, tiếp tục tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị; đến tháng 8/1972 được bổ nhiệm là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66. Tháng 6/1973, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Đơn vị được lệnh hành quân vào chiến trường Khu 5, chiến đấu ở Mặt trận Quảng Đà. Đơn vị được giao nhiệm vụ đánh chiếm tiêu diệt căn cứ Thượng Đức thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà, nằm cách thành phố Đà Nẵng khoảng 40 km về phía tây. Ngày 28/7/1974, Trung đoàn 66 tiến hành đánh chiếm căn cứ Thượng Đức. Trung đoàn 66 tiến công từ đêm 28/7 đến 1/8/1974 mà vẫn chưa khống chế được căn cứ này. Đơn vị gặp nhiều khó khăn, phải dừng lại củng cố lực lượng. Ngày 3/8/1974, Trung đoàn 66 tiếp tục tiến công căn cứ này và Phạm Xuân Thệ được giao nhiệm vụ chỉ huy Tiểu đoàn 9 tiếp tục chiến đấu trên hướng thứ yếu của trung đoàn. Khi nhận nhiệm vụ, Thệ hứa với cấp trên: “Nếu không mở cửa đánh chiếm được Thượng Đức thì tôi không về”. 17 giờ ngày 6/8/1974 tiểu đoàn của ông bắt đầu nổ súng đánh chiếm căn cứ này. 30 phút sau, tiểu đoàn đã tiêu diệt được tiền đồn C, đại đội bảo an, bắt tù binh, tiêu diệt nhiều tên địch, chiếm giữ được phía tây căn cứ Thượng Đức.

Tổng thống Dương Văn Minh và nội các chính quyền ngụy Sài Gòn đầu hàng quân giải phóng ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu-TTXVN

Lúc này, ở hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 8 vẫn chưa đánh chiếm được cửa mở vào căn cứ. Do vậy, cấp trên quyết định chuyển Tiểu đoàn của Phạm Xuân Thệ từ hướng thứ yếu trở thành hướng chủ yếu, tiếp tục phát triển chiến đấu, tạo điều kiện cho các hướng khác tiến công giải phóng Thượng Đức. Sau trận thắng này, Phạm Xuân Thệ được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn 66, tiếp tục chỉ huy đơn vị chốt giữ điểm cao 1062. Năm 1975, ông chỉ huy Trung đoàn 66 tham gia đánh địch giải phóng thành phố Đà Nẵng; thị xã Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy (nay là tỉnh Bình Thuận).

Thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu của đồng chí Phạm Xuân Thệ:
– Một Huân chương Quân công hạng Nhì.
– Hai Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất.
-Một Huân chương chiến công hạng Nhất.
– Một Huân chương kháng chiến hạng Ba.
– Ba Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.
– Một Huy chương hữu nghị Cộng hòa Liên bang Nga (1980).
– Một Huy chương Quân kỳ quyết thắng. – Ba Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
– Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 Quân đoàn 2 nằm trong đội hình binh đoàn thọc sâu của quân đoàn. Ngày 29/4/1975, Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 gồm Trung đoàn 66, Lữ đoàn xe tăng 203, các lực lượng pháo binh, công binh, đặc công và các lực lượng phối hợp khác. Phạm Xuân Thệ được Ban chỉ huy trung đoàn giao chỉ huy lực lượng đi đầu của Trung đoàn 66 nằm trong đội hình thọc sâu của quân đoàn. Khi đến cầu Sài Gòn, địch chống trả quyết liệt, ông đã tổ chức chỉ huy đơn vị cùng lực lượng xe tăng đi đầu của Lữ đoàn 203 tiêu diệt 4 xe tăng và nhiều ụ súng, lô cốt ở tuyến phòng thủ sông Sài Gòn, đánh chiếm cầu Sài Gòn, nhanh chóng đưa lực lượng đi đầu thọc sâu vào nội đô Sài Gòn. Khi vào đến Dinh Độc Lập, Phạm Xuân Thệ gặp nội các chính quyền Sài Gòn. Khi đó, Dương Văn Minh nói: “Chúng tôi đã biết quân giải phóng tiến công vào nội đô, đang chờ quân giải phóng để bàn giao”. Nghe vậy, Phạm Xuân Thệ đã tuyên bố dứt khoát: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả”. Sau đó, ông cùng với lực lượng thọc sâu của quân đoàn dẫn giải Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ra đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Hành động này của Phạm Xuân Thệ thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, sự nhạy cảm sâu sắc về chính trị, trước thời khắc vô cùng quan trọng của lịch sử đất nước.

Sau này, trên nhiều cương vị như Trung đoàn trưởng, Sư đoàn trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 2, Tư lệnh Quân khu I…, ông luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

PV

www.baotintuc.vn

Chiến thắng mùa xuân 1975: Bản hùng ca không thể nào quên

(VnMedia)Sống giữa những bận rộn cuộc sống hàng ngày, nghe đâu đó một bài ca Cách mạng, mà đặc biệt là “Bài ca không quên”, tôi thấy thêm yêu mến những gì mình có, quý trọng những phút giây bình yên của cuộc sống để mà tiếp tục làm việc và biết cho đi nhiều hơn…

Chiến tranh! Nhắc đến từ đó người ta thường nói đến một quá khứ hào hùng trong lịch sử Việt Nam. Vì thế cũng có thể đơn giản hiểu tại sao cho tới bây giờ, nhiều người trên thế giới này mỗi khi nói đến “Việt Nam” lại nghĩ ngay đến “chiến tranh” – điều đó khiến bạn, một người Việt Nam thấy như thế nào: buồn hay tự hào? Tôi cũng từng được một người đặt ra cho mình câu hỏi đó…

Rất nhiều sách báo đã nói về một Việt Nam ghi dấu ấn trong lòng bè bạn thế giới là một Việt Nam anh hùng. Với mấy nghìn năm lịch sử dựng nước cũng là từng ấy thời gian dân tộc Việt Nam chống giặc giữ nước. Một lịch sử quá đậm nét sử thi từ thời các Hùng Vương cho tới khi giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Làm sao không nhắc đến chiến tranh cho được khi chính ở trong đó, người Việt Nam đã có nhiều bài học sâu sắc, trưởng thành và vững vàng cho đến ngày nay. Phải thế chăng mà người Việt sẽ còn nhắc mãi và không bao giờ quên niềm tự hào về những vết thương chiến tích còn sạm đen trên thân thể đất Việt.

Niềm tự hào ấy, lời nhắc nhở ấy đậm sâu được miêu tả rất nhiều lần trong thơ ca và những bài hát đi cùng năm tháng. Một trong số những tác phẩm đó có thể nói đến Bài ca không quên của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn. Nhạc phẩm này xuất hiện lần đầu tiên năm 1981 trong bộ phim cùng tên với sự thể hiện qua tiếng hát ca sĩ Cẩm Vân. Cũng kể từ đó, theo lời nghệ sĩ Cẩm Vân – ” Bài ca không quên không còn là của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn hay ca sĩ Cẩm Vân mà đã trở thành tác phẩm của công chúng” …

Chỉ riêng tựa đề của bài hát đã nói lên khá nhiều điều khiến ai cũng phải suy nghĩ. Đặc biệt khi nói đến nền độc lập và thái bình tự do tại Việt Nam thì không thể không tỏ lòng biết ơn đến những chiến công và sự hi sinh quên mình không chỉ của những chiến sĩ, đồng bào, những lãnh tụ sáng suốt mà còn của chính người mẹ lớn: Việt Nam – Đất nước đã sinh ra tâm hồn yêu nước thương nòi tha thiết, truyền thống dựng xây chung tay đoàn kết, tinh thần chiến đấu chiến thắng kiên trung và những tình cảm dạt dào niềm tin một ngày mai tươi sáng…

“Bài ca không quên” đặc biệt được yêu thích hơn 20 năm nay bởi chính sự giản dị trong ca từ, những giai điệu nhẹ nhàng da diết chất chứa trong đó lòng biết ơn và mong muốn đền đáp công ơn và sự hi sinh không vụ lợi. Tràn ngập trong bài hát là những hình ảnh rất đỗi bình dị như “lời mẹ ru con đêm đêm”, “những tháng ngày hành quân vất vả”, “đất rừng xứ lạ” .. nhưng cũng đẹp lạ lùng mà lại khiến người ta phải dừng lại nghĩ suy, một chút lòng thương và day dứt.

Ấy là người mẹ hậu phương trông ngóng tin con nơi chiến trường mà bạc tóc thời gian; là khi người chiến sĩ cả đêm trăng đứng gác mà vẫn ôm súng ngắm sao khuya; là bước đường hành quân đói lả nhưng điếu thuốc vẫn chia đôi, dù rừng lạnh sương giăng dồn bước hành quân trong cơn sốt rét vẫn gửi trọn niềm tin vào ngày độc lập; là chỉ một lần quen người em gái chống xuông vượt qua pháo nổ mà nên lời yêu không nói…

Ảnh minh họaCó thể nói ca sỹ Cẩm Vân là người thể hiện thành công nhất ca khúc này

Vẻ đẹp lãng mạn và sự bi tráng trong nhạc phẩm không những vẽ lên bằng hình ảnh về một quãng thời gian hào hùng của lịch sử, mà từ đó thêm nhắc nhở ý thức trách nhiệm về cuộc sống hiện tại của mỗi người, sống sao cho xứng đáng với những gian khổ và hi sinh của bao người đã giành độc lập cho Tổ quốc. Trong thời điểm hiện tại, điệp khúc cuối của bài hát vẫn như còn vang vọng mãi về những công ơn ấy:

Nhưng giờ đây có giây phút bình yên
Sao tôi quên
Có giây phút bình yên sao tôi quên sao tôi quên
Bài ca tôi đã hát
Bài ca tôi đã hát với em yêu , với đồng đội với cả lòng mình
Tôi không thể nào quên
Tôi không thể nào quên.

Bài ca không quên gắn liền với tên tuổi của ca sĩ Cẩm Vân từ thập niên 80, cho đến nay thì với chặng đường âm nhạc khá lâu bền, tác phẩm này cũng xuất hiện trong album cùng tên được phát hành thời gian qua. Với 8 ca khúc quen thuộc của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn: Bài ca không quên, Lối nhỏ vào đời, Thành phố tình yêu và nỗi nhớ, Đất nước, Khát vọng, Mùa xuân, Rừng gọi, Sao biển, tập hợp trong album “Bài ca không quên” – một album mà giọng hát không mới, hòa âm không mới, bài hát không mới nhưng đó dường như là sự thủy chung, là sự thương nhớ, là ký ức ngày xưa của chị dành cho những người yêu mến chị.

Sống giữa những bận rộn cuộc sống hàng ngày, nghe đâu đó một bài ca Cách mạng, mà đặc biệt là “Bài ca không quên”, tôi thấy thêm yêu mến những gì mình có, quý trọng những phút giây bình yên của cuộc sống để mà tiếp tục làm việc và biết cho đi nhiều hơn…

Có một lần, khi nói chuyện với một người bạn người Mỹ, người đó cũng đã hỏi tôi “Người ta nhắc đến Việt Nam thì không hay nói đến thành viên WTO hay thành viên dự bị Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, mà nhắc đến một Việt Nam đang phát triển hay thậm chí còn trong chiến tranh. Cậu thấy sao?” Và tôi đã trả lời rằng: tôi tự hào về quãng thời gian làm nên một Việt Nam lịch sử, chiến tranh đã qua đi và bây giờ tôi tưởng nhớ nó để thấy Việt Nam đã lớn lên rất nhiều, điều đó quan trọng hơn và làm thay đổi ấn tượng của mọi người về Việt Nam. Đó là “Bài ca không quên” trong trái tim tôi…

Nghe ca khúc “Bài ca không quên” do ca sỹ Cẩm Vân trình bày:

Gia Hoàng

vnmedia.vn

Chiến thắng của dân tộc Việt Nam

Tính từ lúc đại tướng Dương Văn Minh lên nhậm chức (28/4/1975) cho đến khi đầu hàng (30/4/1975) chưa đầy hai ngày. Dù điều quyết định là áp lực của quân giải phóng lúc bấy giờ vừa mạnh vừa khẩn cấp, nhưng ở đây không thể không tính đến sự tác động của nhiều nhân tố hình thành sau một quá trình vận động lâu dài, trong đó nổi lên tinh thần dân tộc đều có ít nhiều trong mỗi con người Việt Nam.

Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài Phát thanh Sài Gòn

Việc đại tướng Dương Văn Minh nhận chấp chính vào thời điểm mà sự cáo chung của chế độ Sài Gòn chỉ còn tính theo ngày giờ là kết quả tác động từ nhóm Dương Văn Minh, có phía cách mạng, có tình nghĩa của người em trung tá Dương Thanh Nhựt và của chính Dương Văn Minh đã nhận thức được tình thế vừa khẩn cấp vừa là cơ hội để chấm dứt chiến tranh. Pháp và Mỹ đều tưởng đưa Dương Văn Minh ra làm tổng thống thì có thể lợi dụng theo ý đồ khác nhau của mỗi bên. Tuy nhiên, Mỹ đã nhận một kết quả trái ngược.

Vấn đề còn lại là chấm dứt như thế nào. Lúc bấy giờ, bên cạnh phương án “liều mạng” như Nguyễn Cao Kỳ, những người trong chính quyền Sài Gòn vẫn còn cơ hội “bỏ chạy” để tránh trước mọi hậu quả về cá nhân chưa biết sẽ ra sao. Trụ lại để “bàn giao”, đó là phương án mà Dương Văn Minh đã chọn để mọi việc sớm kết thúc, tránh được đổ nát và thêm đổ máu.

Từ “bàn giao” được dùng để đối phó với tình hình nội bộ chính quyền Sài Gòn, có tính đến toan tính của Pháp và Mỹ, còn thực chất của vấn đề là chấm dứt chiến tranh theo điều kiện của bên Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, có gọi là “đầu hàng” thì cũng sẵn sàng chấp nhận vì lợi ích của dân tộc thoát khỏi phụ thuộc nước ngoài, hết Pháp đến Mỹ. Thật ra “bàn giao” và “đầu hàng” đều dẫn đến một kết cục chính quyền về tay nhân dân, như tiếp theo Sài Gòn là hàng loạt các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Và Dương Văn Minh đã chấp nhận chuyển từ “bàn giao” sang “đầu hàng” trước yêu cầu của bên cách mạng với niềm tin Tổ quốc độc lập, thống nhất, hòa bình, đoàn kết, hòa hợp hòa giải.

Ngày 2/5/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố quyết định trả tự do cho nội các Dương Văn Minh.

Tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, trực tiếp gặp tổng thống Dương Văn Minh, phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu vừa thông báo quyết định, vừa truyền đạt chính sách của cách mạng:

“Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định trả tự do cho các ông về với gia đình. Giờ đây miền Nam Việt Nam đã được hoàn toàn giải phóng, nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai đã toàn thắng…

Bây giờ đất nước Việt Nam đã độc lập và thống nhất, không phải là lúc nói chuyện người thắng kẻ thua. Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ…

Mỗi người Việt Nam lúc này hãy thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đem hết sức lực và trí tuệ của mình để góp phần xây dựng đất nước sau 30 năm chiến tranh tàn phá…”.

Tướng Dương Văn Minh bày tỏ lòng biết ơn đối với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và nói:

“… Tôi vô cùng cảm kích và thật sự hân hoan vì đến 60 tuổi tôi mới được trở thành công dân của nước độc lập, tự do… Tôi nhận chức tổng thống khi biết rõ ý đồ của Mỹ đã bỏ rơi miền Nam Việt Nam và họ muốn dùng tôi vào thời điểm này để làm gì.

Xin hứa với ngài và cách mạng, là công dân của nước Việt Nam độc lập, tôi sẽ góp công sức của mình vào việc xây dựng đất nước…”.

Cuộc gặp kết thúc, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Trần Văn Trà một lần nữa nhắc lại: Nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập và thống nhất, mỗi người Việt Nam lúc này phải cùng nhau hợp lực xây dựng đất nước…

Gần 28 năm sau chiến tranh, Trung ương Đảng đã tiến một bước tiếp cận để đánh giá hiện tượng Dương Văn Minh:

“…Tuyên bố của Dương Văn Minh và nhật lệnh của Nguyễn Hữu Hạnh cũng đã có tác dụng nhất định làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân ngụy vào những giờ chót của chiến tranh, tạo thuận lợi để đại quân ta tiến vào Sài Gòn. Thúc đẩy Dương Văn Minh ngừng bắn thức thời, đó là một thành công của công tác binh địch vận đã chọn đúng đối tượng để tác động vào đúng thời điểm. Đó là một đóng góp quan trọng của mũi binh địch vận trong thời điểm kết thúc chiến tranh”.

Việc tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ra tuyên bố chiều 29-4-1975 chấp nhận các điều kiện do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt ra trong tuyên bố ngày 26-4-1975 để chấm dứt chiến tranh, trên thực tế là “chấp nhận đầu hàng không điều kiện”, được những người cùng chí hướng trong lực lượng thứ ba hết lòng ủng hộ và hợp lòng dân. Hành động đó đã góp phần vô hiệu hóa lực lượng quân Sài Gòn, tránh được đổ nát, gây thêm tang tóc vào giờ phút quyết định. Đó là thành quả của quá trình vận động từ nhiều phía, trước hết và chủ yếu do sức mạnh của chính nghĩa cách mạng, truyền thống đoàn kết yêu nước trong “con Lạc cháu Hồng” ở những mức độ khác nhau đã thức thời trỗi dậy.

…Như lời thượng tướng Trần Văn Trà tuyên bố vào ngày 2-5-1975 tại dinh Độc Lập: “Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ”.

Trích cuốn Lịch sử Nam bộ kháng chiến. Tít bài do tòa soạn đặt.

vietnamnet.vn

Vừa đi vừa đánh, thần tốc chiến dịch Hồ Chí Minh

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Chiếc Mi.4 lượn một vòng hẹp xác định vị trí rồi hạ cánh. Thiếu tướng Giáp Văn Cương đến sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 571 ở Bắc thành phố Đà Nẵng. Hoàng Trá bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột, anh đứng lên chào. Thiếu tướng Cương nói ngay:

– Tôi đến nắm tình hình lực lượng xe của sư đoàn hiện có tại đây và chuẩn bị khẩn cấp để cơ động Quân đoàn 2 vào Nam bộ.

– Tôi có thể báo cáo thực lực, thưa thiếu tướng!… Nhưng còn việc cơ động thì tôi chưa được lệnh của trung tướng Đồng Sĩ Nguyên.

– Đồng chí điện báo cáo với tư lệnh Trường Sơn được chứ?

– Có thể báo cáo ngay bằng máy 15 oát. Nhưng tôi làm sao có thể bỏ dở nhiệm vụ vận chuyển khẩn cấp 3.000 tấn vật chất bảo đảm sẵn sàng chiến đấu?

Sau mấy phút suy nghĩ, Thiếu tướng Cương khẽ phẩy tay:

– Thôi được. Đồng chí có thể cùng tôi về sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn chứ?

– Xin chậm mươi phút để tôi giao nhiệm vụ cho tham mưu.

– Được. Đồng chí làm đi.

Sau ít phút giao việc cho tham mưu trưởng, Hoàng Trá cùng tướng Cương lên máy bay ra bến Tắt. Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên cũng đã được Bộ Tổng thông báo chủ trương, nên nhanh chóng thống nhất quyết tâm sử dụng Sư đoàn 571 cơ động Quân đoàn 2 vào chiến dịch. Có điều sư đoàn đã tập trung hơn 1.000 xe tốt cơ động Quân đoàn Tiên phong đi Lộc Ninh, chỉ còn 9 tiểu đoàn xe thiếu làm nhiệm vụ vận chuyển hàng. Nay chở người, phải gia cố thùng bệ, nhiều chiếc quá rão phải vào đại tu. Cả một núi việc. Bộ chỉ huy sư đoàn cấp tốc họp cán bộ bàn cách khắc phục. Hội nghị thống nhất đưa hết vật tư kỹ thuật dự trữ để thay thế, dồn lắp, tập trung mọi khả năng vào sửa chữa, khôi phục xe chiến lợi phẩm để sử dụng. Sư đoàn phát động khí thế Tất cả cho chiến dịch lịch sử, khôi phục mỗi xe là diệt một đồn thù. Cán bộ kỹ thuật phân nhau xuống từng xưởng, từng phân đội sửa chữa. Áp dụng phương pháp luân phiên ca kíp, chạy máy suốt ngày đêm, điện sáng rực khắp bãi xe, phân xưởng, lái, thợ không một phút rảnh tay họ tranh thủ bảo dưỡng định kỳ sớm, để bảo đảm không xảy ra sự cố trên đường. Với tinh thần làm việc hết mình, ngày 6.4 đã dồn được hơn 700 xe và khôi phục gần trăm xe chiến lợi phẩm…

Với tư cách phái viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tôi đến cánh Duyên Hải đúng vào lúc Sư đoàn 571 đã tập kết đội hình từ Nam đèo Hải Vân đến sân bay Đà Nẵng. Xe chỉ huy cắm cờ lệnh, ở thành mỗi xe dán khẩu hiệu chữ đỏ tươi THẦN TỐC, TÁO BẠO. Các đơn vị bộ binh theo kế hoạch lên xe, Bộ tham mưu quân đoàn kiểm tra lần cuối. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Quân đoàn trưởng ra lệnh xuất phát. Đoàn xe rùng rùng lăn bánh, nhằm hướng phía Nam phóng đi. Được Quân khu 5 và các tỉnh vùng mới giải phóng bảo đảm an ninh trục đường 1 khá tốt. Quân đoàn 2 tiến như lốc qua Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vượt sông Đà Rằng. Cả hai cây cầu liên tiếp qua dòng sông chính và nhánh rộng gần 2.000m. Đi chừng 14km đến đèo Cả dài khoảng 10km lượn quanh dải Chư Hơ Mu cao ngất sát biển. Đại quân phải qua vùng đất nhiều chướng ngại hiểm trở, nơi phòng tuyến địch mới rút.

Dinh Thống Nhất ngày nayẢnh: An Thành Đạt

Cục Hậu cần bộ đội Trường Sơn cũng đã kịp triển khai mọi mặt đảm bảo quân cơ động. Phân viện Quân y 59 do bác sỹ Lê Văn Đính trực tiếp chỉ huy triển khai làm tuyến sau trực tiếp của cánh Duyên Hải. Nhanh chóng xử lý các ca bị thương nhẹ trả về đơn vị, tiếp nhận thương bệnh binh nặng, giảm khó khăn cho công tác đảm bảo của Quân đoàn cơ động. Nhờ việc tiếp tế vật chất, bổ sung kịp thời khẩn trương, Quân đoàn 2 tiếp tục đi ngay. Trung đoàn 812 – Quân khu 6 đang bám trụ ở Phú Long – cửa ngõ vào Phan Thiết, khi đại quân đến liền nhận nhiệm vụ tiên phong như mũi lao phóng đúng tử huyệt quân địch. Tuyến ngăn chặn của chúng bị vỡ toang. Mũi xung kích quân đoàn xốc tới quặp lấy quân giặc nghiền nát… Pháo hạm địch từ biển hối hả bắn chặn đường. Các khẩu tầm xa liền hạ càng, bắn dồn dập vào tàu địch. Một trận đối pháo dữ dội. Phi đội phản lực nhào xuống phóng bom, lập tức bị những khẩu đội cao xạ đánh trả quyết liệt. Những pháo thủ đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu với giặc lái Mỹ ở Trường Sơn, nhanh chóng loại ngay mấy tên giặc lái ngụy khỏi vòng chiến. Hai máy bay giặc tóe lửa, một chúi đầu xuống biển, chiếc còn lại cút thẳng. Phía biển, một chiến hạm bùng cháy, lật nghiêng chìm nghỉm, mấy chiếc thoát chết dông thẳng ra khơi.

Không để lỡ thời cơ, Quân đoàn trưởng phát lệnh mũi tiên phong thần tốc truy kích xuống Hàm Tân, không cho nó thoát về Bà Rịa – Vũng Tàu. Các đơn vị chỉnh đốn đội hình…Đội xe chở quân cơ động, nhân lúc ngưng chiến, tranh thủ nấu cơm. Phó tư lệnh đoàn đi kiểm tra thấy, liền quát:

– Ai chỉ huy ở đây?

– Báo cáo tôi! – Hồ Quang Hương – tiểu đoàn trưởng xe, đứng dậy.

– Sao đồng chí được cho phép nấu ăn?

– Báo cáo phó tư lệnh! Anh em đói bắt đầu run gối rồi.

Phó tư lệnh sững người. Suốt từ sáng, họ chưa có gì vào bụng. Một thực tế không thể cưỡng nổi là sức khỏe… Song một đòi hỏi cấp bách hơn lúc này… “nếu không cơ động hết sức nhanh thì quân địch sẽ chạy thoát, sẽ tập hợp lực lượng co cụm chống chọi… Bộ Tổng tham mưu ngụy và Mỹ đều muốn thế… Nó đang gắng thiết lập phòng tuyến dày đặc kiên cố quanh Sài Gòn để cố thủ đến mùa mưa. Chỉ cần đến lúc đó, thiên nhiên sẽ chặn đứng đại quân ta lại. Nước mênh mông sẽ chia cắt các cánh quân ta thành nhiều mảng, phải chôn chân trên những cù lao trong biển nước vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở các vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc… Cuộc chiến sẽ phải bắt đầu lại… Chính vào lúc không thuận lợi cho bộ binh cơ giới của ta, kẻ địch sẽ phát huy lợi thế hải quân, không quân phản kích ta khắp nơi, không chỉ ở nông thôn mà cả trong thành phố… Nhân dân ta và mọi thứ sẽ…” – Phó tư lệnh khe khẽ lắc đầu như gạt những ám ảnh, tỏ vẻ kiên quyết.

– Đồng chí có nghĩ vì dừng lại, ăn xong bữa cơm sẽ phải trả giá bằng máu hàng trăm ngàn chiến sỹ và nhân dân ta không?

Hồ Quang Hương giật chân đứng nghiêm.

– Tôi xin nhận khuyết điểm.

Phó tư lệnh dịu giọng:

– Năm phút nữa, chỉnh đốn xong tiếp tục hành quân.

Tiếng còi rúc lanh lảnh, tiểu đoàn trưởng thông báo mệnh lệnh. Các phân đội bộ binh nhảy ào lên xe, với xuống buồng lái:

– Yên chí. Bọn tớ có cách nấu ăn của lính Quang Trung hành quân thần tốc. Sẽ có cơm ngon, canh ngọt cho mà xem!

– Này anh bạn! Khi nào cánh này gõ ba tiếng trên nóc, thì một vị nhảy lên chén, một đứa trên này nhảy xuống làm phụ xế đấy.

Tiếng máy khởi động, chuyển bánh rồi tăng tốc phóng như bay trong nắng chiều vàng rực… 16h30 tiếp cận địch. Quân đoàn trưởng hạ lệnh: “Các đơn vị vừa ăn lương khô vừa dàn đội hình tiến công diệt địch. Không cho chúng tháo chạy vô Xuân Lộc, Bà Rịa”.

Đại đội tăng T54 xông lên, xích xe nghiến ken két. Những họng pháo tóe lửa đỏ rực. Tiểu đoàn ôtô Trường Sơn chở bộ binh bám sát đột phá, các cỡ súng liên thanh, B40 đều hướng nòng tưới đạn vào tuyến cố thủ của quân ngụy. Trước sức mạnh thác đổ, chúng cuống quýt bật khỏi công sự, tuông rào rẽ rừng chạy thục mạng… Bộ đội địa phương, dân quân truy lùng bắt sạch.

Ở phía trước các Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4 và Sư đoàn 6 Quân khu miền Đông đang đánh Xuân Lộc. Tin thông báo: ngày 10.4 ta sẽ cắm cờ lên nóc tỉnh đường và khu cố vấn Mỹ… Kẻ địch bị tổn thất nặng, vẫn kêu gào tử thủ… Hai hôm sau lại được thông báo nức lòng… “Chuẩn tướng Lê Minh Đảo đã chạy khỏi Xuân Lộc…, Sư đoàn 18 và hai lữ thủy binh cùng đám biệt động tan tác cả rồi…” Vậy là chặng đường tiến thẳng tới vị trí tập kết khá thuận lợi…

Lúc này nhân đà chiến thắng dồn dập, thế và lực của địch giảm sút rất nhanh, Quân khu miền Đông phát động toàn địa bàn nổi dậy. Các lực lượng kết hợp đánh địch, diệt tề ngụy, trừ gián điệp, đẩy mạnh binh vận làm rã hầu hết tổ chức bảo an dân vệ. Cục Hậu cần quân khu miền Đông nhận lệnh đón binh đoàn cơ động. Chủ nhiệm Sáu Kinh cùng cán bộ các ngành đi chuẩn bị nơi tập kết cho quân đoàn ở vùng núi Chứa Chan, địa thế rộng tương đối kín, suối Già Ui còn sẵn nước. Công binh rà mìn khắp khu rừng, lòng suối bảo đảm an toàn tuyệt đối…

Quân đoàn 2 sau khi chọc thủng phòng tuyến Phan Rang, Phan Thiết tiến nhanh xuống phía Nam. Chớm tới đất miền Đông đã thấy những anh chị đội mũ tai bèo cầm súng đứng dọc đường. Vậy là yên tâm rồi, lái xe ấn lút chân ga… Chừng non một giờ, đội xe dừng trước thanh chắn ngang đường. Một người nai nịt gọn gàng, đeo súng ngắn bước tới, chào hỏi:

– Có phải đội tiền trạm của cánh Duyên Hải không?

– Đúng! Xin cho biết trạm của đơn vị nào?

– Quân khu miền Đông đây.

– Báo cáo! Đoàn Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần đi chỉ đạo công tác hậu cần cánh Duyên Hải, đến làm việc.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện mở cửa xe bước xuống. Lương Văn Nho, Phó tham mưu trưởng Miền và các cán bộ quân khu ùa ra, tay bắt mặt mừng. Tuyền là anh em đã một lần quen biết ở hội nghị hoặc ở chiến trường.

Ăn cơm xong, anh Đinh Thiện đề nghị làm việc ngay. Mọi người ngồi quanh tấm bản đồ trải rộng. Phó tham mưu trưởng Miền thông báo chiến sự ở các hướng bao quanh Sài Gòn phát triển thuận lợi, đánh thắng giòn giã, phong trào lên mạnh rất phấn khởi… Anh cười nói: – Điều đáng mừng, đến lúc này các đồng chí trong Bộ chỉ huy vẫn sung sức. Bộ Tư lệnh chiến dịch đóng ở Lộc Ninh, sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đã xuống Căm Xe, Tây Bến Cát. Anh Văn Tiến Dũng – Tư lệnh, anh Trần Văn Trà – Phó tư lệnh ở đó.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện cũng thông báo quá trình tiến công trong hành tiến của Quân đoàn 2 và tình hình trang bị hậu cần, vũ khí, phương tiện của quân đoàn, rồi nói:

– Do thời gian vận động thay đổi trong hoàn cảnh chiến đấu, nên quân đoàn bị thiếu gạo và nhiên liệu. Đề nghị quân khu cho mượn, Tổng cục sẽ thanh toán sau.

– Trách nhiệm hậu cần tại chỗ mà – Cục trưởng Phạm Kinh vui vẻ hỏi – Xin cho biết số lượng yêu cầu từng loại.

Trưởng phòng kế hoạch lật sổ:

– Xin bổ sung 15 ngày gạo.

– Tôi có thể cấp ngay 300 tấn tại đây. Nếu thiếu xin nhận ở Mây Tần hoặc Cẩm Mỹ – Sáu Kinh trỏ bản đồ – Nó nằm trên đường đại quân đi qua. Còn thực phẩm bổ sung, anh Sáu Thịnh đã có sẵn 700 tấn.

– Xin cám ơn. Đơn vị đã chuẩn bị đủ.

– Còn xăng dầu thiếu bao nhiêu? – Sáu Kinh thật lòng: khoản này thì chúng tôi không sẵn ở đây.

– Quân đoàn cần được bổ sung 200.000 lít xăng – Cục phó vận tải Nguyễn Chúc lật sổ: … và 10.000 lít dầu máy, 15.000 lít ma-zút.

Sáu Kinh bảo trợ lý:

– Đồng chí làm giấy tờ đề nghị Sở Cao su Bình Sơn giải quyết ngay, quân khu chịu trách nhiệm thanh toán – Sáu Kinh ngước nhìn tham mưu trưởng Tổng cục –  Xin đừng ngại, cơ sở này rất tin cẩn. Chúng tôi đã chuẩn bị từ lâu, được phép tỉnh ủy cho vận động.

Hôm sau Quân đoàn 2 tới gọn, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị tập kết ở khu Chứa Chan để chỉnh đốn lực lượng, bồi dưỡng sức cho bộ đội. Tiếp nhận bổ sung vật chất hậu cần, củng cố kỹ thuật phương tiện.

Ngày 24.4 được Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh xác định cụ thể thời gian tấn công, thời điểm phải đoạt được các mục tiêu chủ yếu, tướng Lê Trọng Tấn chỉ đạo điều chỉnh lực lượng thực hiện lệnh tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh.

Quân đoàn 2 chia hai mũi tấn công. Mũi chặn địch tháo chạy ra biển do Sư đoàn 3 tiến xuống chiếm thị xã Bà Rịa và chi khu Đức Thạnh vây cắt Đất Đỏ, Xuyên Mộc. Bước tiếp theo đánh chiếm Vũng Tàu. Mũi hiệp đồng tiến công vào thành phố gồm các Sư đoàn 304, 325, Lữ đoàn tăng 203 đánh cụm cứ điểm Nước Trong, thành Tuy Hạ. Đập tan tuyến phòng thủ hướng đông nam của địch. Lập trận địa pháo nòng dài ở Nhơn Trạch bắn khống chế các mục tiêu quy định trong thành phố, đặc biệt kiềm chế sân bay Tân Sơn Nhất, sông Lòng Tàu và cảng Sài Gòn.

Mờ sáng 25.4, Quân đoàn xuất phát. Được hậu cần Quân khu miền Đông chuẩn bị chu đáo tuyến giao thông chiến dịch. Dựa vào đường be mở trục cắt ấp Rừng Lá, dẫn đường Sư đoàn 3 qua lối cầu Cỏ May tiến xuống thành phố biển rất nhanh gọn. Công binh mở đường tắt cho cánh quân thứ hai thọc tới lộ 320 liên huyện, lộ 15 tiếp cận mục tiêu Nước Trong, thành Tuy Hạ… Kịp thời gian quy định mở màn tổng tiến công Sài Gòn.

Quân đoàn 2 bước vào chiến dịch trong hoàn cảnh được bảo đảm đầy đủ, bộ đội dân quân giăng giăng trên đường càng nức lòng chiến đấu. Quân đoàn cứ theo phương án đã định, 17h ngày 26.4 mở màn thần tốc tiến công đập tan sức kháng cự của kẻ địch tại Bà Rịa, Vũng Tàu, Long Thành, cụm cứ điểm Nước Trong… Kẻ địch ngoan cố chống trả dữ dội nhưng đều bị nghiền nát cùng lúc với đòn đánh bẹp thành Tuy Hạ.

Những trận đánh trên hướng này, vấp kẻ địch như con thú giãy chết, tung hết sức mạnh cuồng nộ… Ta bị thương vong gần 300 chiến binh. Nhờ các đội cứu thương nhân dân hỗ trợ, kịp thời cấp cứu thương binh chuyển tới các đội phẫu, sau đó cáng tiếp về bệnh viện quân dân Xuân Lộc. Bác sỹ Việt – nguyên đội trưởng điều trị K23 hậu cần miền Đông rất tận tụy, anh chị em y tế không quản ngày đêm cứu chữa, nên hạn chế được tỷ lệ thương binh nặng bị chết. Việc chăm nuôi thương binh được các hội quần chúng địa phương lo liệu rất chu đáo. Mọi hậu quả của trận đánh lớn dài ngày không thành gánh nặng cho quân đoàn chủ lực trong quá trình tiến công vào hang ổ cuối cùng của giặc.

Bộ tổng tham mưu ngụy thấy rõ sức nặng áp đảo đã vào tận gan ruột Sài Gòn. Nó liều lĩnh tàn bạo cho lệnh phá sập hàng loạt cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc, Sài Gòn, Tân Cảng, Bình Triệu, Chữ Y… nhưng độc thủ này cũng không trót lọt. Trung đoàn 10 đặc công nước phối hợp đặc công nội đô và đặc công Miền phái xuống, tỏa đi đánh bắt, diệt hết những đứa sắp gây tội ác, rồi chốt giữ. Bộ đội đặc công thoắt trở thành người canh gác sự sống của con đường tiến vào kết thúc vận mệnh đám quỷ dữ Sài Gòn.

Chỉ sau 4 ngày, đạo quân binh chủng hợp thành đã bóc hết lớp vỏ ngoại vi, ung dung sẵn sàng chờ lệnh đột nhập đô thành, chiếm gọn mục tiêu chủ yếu Dinh Độc lập.

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1,1 triệu tên địch, làm tan rã toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự gồm hơn 1 triệu tên; tiêu diệt và làm tan rã 4 quân đoàn ngụy gồm 13 sư đoàn bộ binh, lính nhảy dù, lính thủy đánh bộ, 6 sư đoàn không quân, 22 trung đoàn hải quân, toàn bộ lực lượng pháo binh, thiết giáp, thu toàn bộ vũ khí, thiết bị và phương tiện chiến tranh của địch. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Theo Trường Sơn – Có một thời như thế
Đại tá NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
Ghi chép chiến dịch 4.1975

daibieunhandan.vn

Buổi phát thanh lịch sử tại Sài Gòn trưa 30/4/1975

Do tình thế khẩn cấp, chàng sinh viên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” trong thời khắc lịch sử – tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Trong đám đông kéo đến đài phát thanh trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Ảnh: Tiến Dũng.

KTS Nguyễn Hữu Thái - nhân chứng lịch sử ngày 30/4/1975. Ảnh: Tiến Dũng.

Sinh ra trong gia đình có 10 người con, lại là cả nên Nguyễn Hữu Thái được bố mẹ đầu tư cho ăn học, với mong muốn con mình sẽ thành tài. Năm 1958, sau khi đỗ tú tài ở trường Thiên Hựu (Huế), cậu học trò Nguyễn Hữu Thái vào Sài Gòn học ngành Kiến trúc và là người trẻ nhất của khóa học này.

Từ khi trở thành sinh viên, Hữu Thái hăng hái kêu gọi bạn bè xuống đường biểu tình, đòi tự do, dân chủ và năm 1963-1964 được bầu làm Chủ tịch tổng hội sinh viên Sài Gòn. Do nhiệt tình đấu tranh nên năm 1964, chàng sinh viên 24 tuổi bị bỏ tù, và từ đó đến năm 1974, Thái luôn nằm trong “danh sách đen” của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Ba lần ra ngục vào tù đã lấy đi của Thái 4 năm tuổi trẻ, thời gian được chia đều cho nhà tù và nhà trường.

Nhờ những lần ngồi tù, được tranh luận với cán bộ “Việt cộng”, chàng sinh viên kiến trúc mới thấm thía thêm rằng, không chỉ có sinh viên, trí thức chống lại chế độ Sài Gòn mà khắp cả nước còn có cuộc đấu tranh của những người cộng sản. Và cũng từ đây, Nguyễn Hữu Thái càng quyết tâm theo cách mạng, dù từng nhận được lời đề nghị của một quan chức Mỹ rằng sẽ tạo điều kiện sang Mỹ học rồi về Việt Nam làm quan chức.

* Clip: Thời khắc cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập

“Năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử Quốc hội và Tổng thống. Người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình trung lập, chuẩn bị cho ‘Thành phần thứ ba’ như trong Hiệp định Paris. Tôi được sự ủng hộ của tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống. Nhưng do bị nghi ngờ là người của quân giải phóng nên tôi đã thất cử. Tướng Minh vào giờ chót cũng rút lui khỏi cuộc tranh cử Tổng thống”, ông kể.

Một năm sau, Nguyễn Hữu Thái lại bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trước ngày ký kết Hiệp định Paris về hòa bình Việt Nam, do bị tố cáo thuộc “Thành phần thứ ba” thân Cộng. Khi người đàn ông 34 tuổi được ra tù năm 1974, tình hình đã biến chuyển nhanh theo hướng chấm dứt chiến tranh…

Dương Văn Minh ủng hộ Nguyễn Hữu TháiDương Văn Minh và ông Nguyễn Hữu Thái.

Nhân chứng sống ngoài 70 tuổi này vẫn nhớ như in thời khắc lịch sử của 36 năm về trước. “Sáng tinh mơ ngày 30/4, từ cơ sở chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở ĐH Vạn Hạnh (gần chợ Trương Minh Giảng), tôi bàn với người thân cận của Thượng tọa Trí Quang rồi chạy vội lên chùa Ấn Quang (đường Sư Vạn Hạnh) gặp vị lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới nhóm Dương Văn Minh nhờ tác động gấp nhằm chấm dứt ngay cuộc chiến, tránh đổ máu và tàn phá Sài Gòn”, ông kể.

Khoảng 9h (thời đó giờ Sài Gòn chậm hơn Hà Nội một tiếng), khi ông Thái quay về trường thì nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, với nội dung kêu gọi các binh lính Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng, ở đâu ở đó, để ông gặp Chính phủ Cách mạng thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong trật tự, tránh đổ máu. (Nghe tại đây)

Biết tin này, một nhóm sinh viên cầm vũ khí lên xe ca đến áp sát, chuẩn bị xâm nhập vào đài phát thanh. Còn ông Thái cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳnh Văn Tòng (giảng dạy báo chí) vào dinh Độc Lập thuyết phục những người quen biết trong chính quyền Dương Văn Minh bàn giao chính quyền cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Trong khi đó, ở bên ngoài, những chiếc xe tăng đầu tiên đang tiến về dinh Độc Lập. Xe tăng 390 chạy đầu tiên, xe tăng 843 chạy đến dinh đã húc thẳng vào cổng phụ bên trái, cổng không sập. Thấy vậy, lái xe tăng 390 liền húc sập cổng chính, và Bùi Quang Thận nhảy từ trên xe 843 xuống, giật lá cờ giải phóng gắn trên cần ăng ten xe tăng rồi tiến vào thềm dinh.

Xe tăng 390 húc đổ cổng để tiến vào dinh độc lập trưa 30/4/1975.Xe tăng 390 húc đổ cổng chính để tiến vào dinh độc lập trưa 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

Do ông Thái và giáo sư Tòng đeo băng xanh đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, nên khi ông đề nghị dẫn đường thì ông Thận liền đi theo. Đến nóc, cả 3 người phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Lá cờ giải phóng được kéo lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên chào mừng vang trời.

“Thật ngẫu nhiên, vào thời điểm lịch sử ấy trên nóc dinh Độc Lập có 3 chàng trai của 3 miền đất nước: anh bộ đội Thận từ đồng bằng sông Hồng, giáo sư Tòng quê Tây Ninh và tôi gốc ở một thành phố miền Trung. Anh em xúc động không cầm được nước mắt, vừa sung sướng vừa hãnh diện”, ông Thái nhớ lại khoảnh khắc chấm dứt 117 năm thống trị của thực dân đế quốc.

Có mặt tại dinh Độc Lập, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đã nghĩ ngay đến việc phải buộc chính phủ của Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng sớm để đỡ đổ máu. Vì vậy, Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Chính ủy Bùi Văn Tùng, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Tây Đức Borries Gallasch… cùng lên xe tiến về phía đài phát thanh.

Tại đài, trong khi các sinh viên đi tìm nhân viên kỹ thuật cho đài phát sóng thì một cán bộ quân giải phóng cũng soạn vội lời đầu hàng của Dương Văn Minh. Do không có thiết bị thu âm nên nhà báo Đức đã cho mượn đài để thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của Chính ủy Bùi Tùng. Pin đài yếu nên các sinh viên lại phải chạy đôn đáo đi tìm pin thay thế.

“Việc thu băng lời tướng Minh phải thử đi thử lại mấy lần mới xong. Còn lời phát biểu của Thủ tướng Mẫu thì được nói trực tiếp. Khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, đồng hồ lúc này là 13h20 (Hà Nội là 12h20 phút)”, nhân chứng Nguyễn Hữu Thái tiếp tục câu chuyện.

Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975, tác giả thứ 2 (cầm tập giấy) kể từ phải

Tướng Dương Văn Minh (mặc áo đen, đeo kính) chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975. Nhà báo Đức ngồi cạnh ông Minh, còn ông Thái đứng thứ hai (cầm tập giấy). Ảnh do phóng viên ảnh hãng thông tấn AP thực hiện.<

Do tình thế khẩn cấp nên Nguyễn Hữu Thái đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” của buổi phát thanh trực tiếp đầu tiên trong ngày lịch sử trọng đại: “…Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – TP HCM, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay được giải phóng… Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”. (Nghe tại đây)

Tiếp đó, đến lượt Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam”. (Nghe tại đây)

Sau lời kêu gọi của Thủ tướng Vũ Văn Mẫn, Chính ủy Bùi Văn Tùng tuyên bố chấp nhận đầu hàng: “Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

Trong đám đông kéo đến đài phát thanh vào buổi trưa 30/4 có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Được mời phát biểu trực tiếp trên sóng, nhạc sĩ này run run: “Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được…”.

Hân hoan trong niềm vui giải phóng nên dù không mang theo đàn guitar, Trịnh Công Sơn vẫn cất vang lời bài ‘Nối vòng tay lớn’. Và đây cũng chính là bài hát đầu tiên được phát lên sóng của Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 30/4. (Nghe tại đây)

“Chiều 30/4/1975, phần lớn người dân Sài Gòn đều túa ra đường để được tận hưởng bầu không khí hân hoan, phấn khởi của ngày thành phố được giải phóng. Những người nghe tin tức qua Đài Phát thanh Sài Gòn cảm thấy xúc động dâng trào khi nghe Trịnh Công Sơn hát ‘Nối vòng tay lớn’ trong giờ phút lịch sử của dân tộc”, 36 năm sau ngày lịch sử này, ông Nguyễn Hữu Thái vẫn xúc động khi kể lại.

Vào đại học năm 1958 nhưng phải đến năm 1976, một năm sau ngày giải phóng, ông mới có thể trở lại trường làm đồ án tốt nghiệp và trở thành kiến trúc sư. Sau nhiều năm công tác tại thành đoàn TP HCM, năm 1980 ông làm việc tại Viện Quy hoạch kiến trúc thành phố… Năm 1990 ông xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình và 5 năm sau lại trở về Việt Nam sinh sống, công tác.

Tiến Dũng

(Clip và Audio tư liệu).

vnexpress.net

Ký ức người chỉ huy xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập

Khi thấy xe 843 dừng lại ở cổng trái, lái xe Nguyễn Văn Tập hỏi: “Thế nào anh Toàn?”, ông Toàn dứt khoát “Cứ tông thẳng vào”. Ngay lập tức lái xe Tập nhấn ga, húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập lao vào trong sân.

Điều trăn trở của Tướng Phạm Xuân Thệ

Trong bộ quần áo lính giản dị, người chỉ huy xe tăng 390 năm xưa Vũ Đăng Toàn vẫn toát lên vẻ nhanh nhẹn, minh mẫn dù mái tóc xanh đã nhuốm màu bạc trắng. Năm nào cũng thế, cứ cận ngày 30/4 ông lại bắt xe từ Hải Dương lên Hà Nội, đến nhà cậu em út Ngô Sỹ Nguyên để tụ họp cùng anh em đã kề vai sát cánh trong trận đánh cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

*Ông Toàn kể lại thời khắc tiến vào dinh Độc Lập

Nheo vầng trán rộng, ông chậm rãi kể lại thời khắc cách đây đã 36 năm, khi đại đội ông từ miền Trung vào tham gia chiến dịch mùa xuân năm 1975. Thời điểm ấy, ông thuộc Đại đội tăng 4, Tiểu đoàn tăng 1, Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2. Xe tăng 390 gồm có lái xe là trung sĩ Nguyễn Văn Tập; pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên (trung sĩ); phó đại đội trưởng kỹ thuật kiêm pháo thủ số 2 Lê Văn Phượng (thiếu úy, lên thay pháo thủ số 2 bị thương) và ông Toàn là trung úy, chính trị viên đại đội.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc lập ngày 30/4.Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc lập ngày 30/4.

Sáng 10/4/1975 đơn vị ông bắt đầu hành quân từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trên đường đi, một tiểu đoàn trinh sát đã tham gia giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết. Đại đội của ông là lực lượng nòng cốt đi sau.

Ngày 26/4, toàn bộ lực lượng bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh. Ba ngày sau, đại đội 4 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong, trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu cho Quân đoàn 2.

Sáng 30/4, Tiểu đoàn tăng 1 do ông Ngô Văn Nhỡ làm Tiểu đoàn trưởng được giao nhiệm vụ chủ công mở đường vào Sài Gòn, Đại đội 3 có nhiệm vụ cắm cờ trên dinh Độc Lập. Mũi thọc sâu bắt đầu đánh từ tổng kho Long Bình, qua cầu Đồng Nai, ngã ba Thủ Đức, ngã ba Thủ Dầu Một, đến cầu Sài Gòn. Tại đây địch chống trả rất quyết liệt. Các loạt đạn từ xe tăng M48, M41, M113 bắn sang, tàu dưới sông Sài Gòn bắn lên, máy bay thả bom chặn bước tiến của quân giải phóng.

Bốn anh em trên chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Từ phải qua là các ông Vũ Đăng Toàn, Ngô Sỹ Nguyên, Lê Văn Phượng, Nguyễn Văn Tập. Ảnh: Hoàng Thùy.

“Chúng tôi đã dùng pháo cao xạ, súng M27 của xe tăng bắn lên, nhưng máy bay địch nâng độ cao và tiếp tục thả bom. Chúng tôi bị tổn thất nặng nề, xe bị cháy, xe bị sa lầy, mắc cạn, hỏng hóc, đại đội 2 và 3 mất sức chiến đấu bởi anh Nhỡ hy sinh, các chiến sĩ người hy sinh, người bị thương, băng bó cho nhau la liệt 2 bên cầu”, ông Toàn kể lại.

Ông cho biết, Đại đội tăng 4 lúc đó có 7 xe, ban chỉ huy đại đội gồm 3 người là trung úy Bùi Quang Thận (Đại đội trưởng), trưởng xe 843; thiếu úy Lê Văn Phượng, Phó đại đội trưởng Kỹ thuật và ông là chính trị viên, trưởng xe 390. Sau khi hội ý, Ban chỉ huy quyết định không thể chậm trễ, phải xốc lại đội hình, tổ chức đại đội tiến vào bên trong.

Trước khi hành quân, Đại đội 4 cùng đơn vị bạn đã dùng một số đạn pháo bắn sang bên kia để uy hiếp tinh thần và tiêu diệt địch. Bắn mấy loạt pháo thì địch tháo chạy, quân giải phóng tiến lên. Xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng dẫn đầu, đến xe 390 rồi xe anh Thận, lần lượt đi. Đến ngã tư Hàng Xanh xe 390 bắn pháo tiêu diệt 2 xe thiết giáp N113 của địch sau đó rẽ trái, tiến về hướng dinh Độc Lập.

Đến cầu Thị Nghè thì xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng bị địch bắn, ông và các chiến sĩ bị thương, một lính bộ binh hy sinh. Nhờ nhân dân đưa đồng đội đến bệnh viện, xe 390 vượt lên dẫn đầu đội hình gấp rút tiến về chiếm dinh Độc Lập. Khi đến gần dinh thì xe ông đi chậm lại, xe 843 vượt lên. Đến cổng trái, xe 843 lại dừng lại, tắt máy.

“Thấy vậy, lái xe Tập hỏi tôi “Thế nào anh Toàn?”. Tôi ra lệnh “Cứ tông thẳng vào”. Ngay lập tức lái xe Tập nhấn ga vọt lên, húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập lao vào trong sân, đến trước tiền sảnh thì dừng lại”, ông Toàn hồi tưởng.

Bước ra khỏi xe, ông Toàn thấy Đại đội trưởng Thận đã ôm cờ nên vơ thêm một khẩu AK, chạy theo ông Thận hỗ trợ và sẵn sàng chiến đấu. Khi hai ông đến đầu nhà thì có người đứng chặn và giới thiệu “Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá của Tổng thống Dương Văn Minh. Tổng thống mời các ông lên làm việc”.

“Có thêm người ra chỉ đường cho anh Thận lên nóc dinh cắm cờ, tôi theo Nguyễn Hữu Hạnh vào bên trong. Nội các của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ có hơn 50 người, ông Hạnh dồn hết vào phòng khánh tiết và sang phòng phía sau mời Dương Văn Minh lên”, ông Toàn kể.

Lúc này, Ngô Sĩ Nguyên cũng lên tới nơi, sau khi tham gia dồn nội các của Dương Văn Minh vào một chỗ, ông đứng gác ở cửa. Nguyễn Văn Tập ở lại giữ xe tăng còn Lê Văn Phượng thì ngồi trong xe giữ khẩu 12 ly 7 chĩa lên phía lá cờ trên nóc dinh để yểm hộ cho Bùi Quang Thận cắm cờ.

Ông Vũ Đăng Toàn sau khi xuất ngũ đã trở về làm mọi nghề để chèo chống gia đình. Ảnh: Hoàng Thùy.

Sau khi có chỉ huy đến nói chuyện với Dương Văn Minh và đưa ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng, ông Toàn cùng đồng đội ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ dinh. Khoảng một tiếng sau, Đại đội 4 của ông nhận lệnh ra cảng Bạch Đằng bảo vệ cảng, bảo vệ kho hàng của chính quyền Sài Gòn. Ở đó chừng 4-5 hôm, đại đội rút về tổng kho Long Bình, sửa chữa xe, lau chùi súng pháo, bổ sung đạn dược, xăng dầu… sẵn sàng chiến đấu nếu có tổ chức nổi dậy.

Sau chiến thắng vang dội đó, mỗi lữ đoàn lại cử một bộ phận hành quân giải phóng Tây Nguyên. Tháng 12/1978, lữ đoàn xe tăng và quân đoàn 2 được điều sang Campuchia tham gia giải phóng nước bạn.

Đất nước hoàn toàn độc lập, ông Toàn lại về Hà Bắc xây dựng củng cố đơn vị. Năm 1981 lữ đoàn 203 cử cán bộ thành lập trường 900 ở Sơn Tây. Làm việc được vài năm, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông Toàn được đơn vị cho về nghỉ hưu với quân hàm đại úy.

“Lúc đó bà xã bị ốm, 2 con nhỏ nên khó khăn chồng chất. Hạ ba lô xuống tôi nghĩ cách làm kinh tế để chèo chống gia đình. Tôi đi học nghề tráng bánh đa, thái phở, thái mì rồi chăn nuôi gà, vịt. Cuối cùng cũng giải quyết được lương thực cơ bản cho gia đình và có điều kiện đưa vợ đi chữa bệnh”, vị chỉ huy năm xưa bùi ngùi. Hiện ba con của ông Toàn đều đã lập gia đình.

Ông Toàn cho biết, sau giải phóng, 4 anh em trên chiếc xe tăng 390 mỗi người một nơi, mãi đến năm 1995 mới có cơ hội gặp lại. Từ đó trở đi, năm nào cũng vài lần, 4 cựu chiến binh lại lặn lội đường xa, tìm đến thăm nhau. Các ông Tập, Phượng, Nguyên sau khi rời quân ngũ cũng có cuộc sống khó khăn, và hiện đều có con theo nghiệp bố.

Bốn chiến sĩ xe tăng năm xưa cho biết, niềm hạnh phúc nhất của các ông là được xả thân vì độc lập, tự do của dân tộc và được cống hiến sức lực xây dựng đất nước.

Hoàng Thùy

vnexpress.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Lời nói đầu

Một năm đã qua kể từ ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 giành toàn thắng, đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thời gian không làm phai nhạt mà chỉ càng làm rõ nét hơn chiến công vĩ đại của qaân và dân ta. Đại thắng Mùa Xuân đã được khắc sâu vào lịch sử bằng những chữ vàng chói lọi.

Chỉ trong 55 ngày đêm, với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tốc độ “một ngày bằng 20 năm” với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị tích luỹ từ nhiều năm, quân và dân ta đã giành toàn thắng bằng ba chiến dịch lớn: Chiến dịch giải phóng toàn bộ Tây Nguyên mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột;

Chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng, quét sạch địch ở ven biển miền Trung và kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn – Gia Định để dẫn tới giải phóng các tỉnh còn lại của Nam Bộ. Hơn một triệu quân nguỵ và tất cả bộ máy nguỵ quyền bị đập tan, chế độ thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng trong hai chục năm sụp đổ hoàn toàn.

Tôi có may mắn được là một trong nhiều đồng chí nhận chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng cử đi tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1915 với cương vị Đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp trong Chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ nhất ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, báo Nhân dân đề nghị tôi kể lại một số chuyện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 do đồng chí Hồng Hà ghi. Sau khi báo Nhân dân đăng loạt bài kể chuyện nói trên, nhiều bạn đọc và nhiều nhà xuất bản đề nghị cho in lại thành sách.

Mặc dù gặp khó khăn về thời gian, nhưng do yêu cầu cấp thiết của bạn đọc, tôi viết lại và bổ sung thêm tài liệu để thành cuốn Đại thắng Mùa Xuân này.

Một sự kiện lịch sử vĩ đại như Đại thắng Mùa Xuân không một cuốn sách riêng rẽ nào, không một đơn vị hoặc cá nhân nào có thể diễn tả lại được đầy đủ. Việc sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, việc tổng kết kinh nghiệm đòi hỏi nhiều năm, có khi hàng chục năm. Vì thế cuốn Đại thắng Mùa Xuân chỉ là những nét phác thảo nhằm kịp thời giới thiệu với bạn đọc một số mẩu chuyện về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 để thấy rõ sự chỉ đạo với tài thao lược, tính kiên quyết, tư tưởng cách mạng tiến công, tính độc lập tự chủ của tập thể Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, những cố gắng phi thường, những hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cả nước.

Cuốn sách chủ yếu nhằm giới thiệu với bạn đọc những vấn đề thuộc về sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương, sự đấu lực và đấu trí rất thông minh của Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta trong phạm vi chiến lược và chiến dịch để dẫn đến toàn thắng, không đi sâu vào các hoạt động, thành tích và trận chiến đấu cụ thể của các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, đơn vị, các địa phương và các tầng lớp nhân dân.

Cuốn sách không sao nói hết được những ý nghĩ, sự phân tích của tập thể Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và tập thể cơ quan Bộ Tổng tư lệnh khi hạ quyết tâm chiến lược ở thời kỳ “nút” giải quyết cuộc chiến tranh theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Không sao nhớ hết, nói hết được những tính toán chiến lược của Đảng ta để đi đến tổ chức thực hiện trên các chiến trường một cách sáng tạo, táo bạo, khẩn trương quyết tâm của Bộ Chính trị để giành toàn thắng. Không sao nhớ hết, nói hết được những hành động anh hùng của hàng trăm nghìn chiến sĩ và cán bộ trong quân đội, của triệu triệu nhân dân ta từ Nam chí Bắc, sự đóng góp hết lòng, hết sức của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân đê làm nên thắng lợi tuyệt vời này. Đây là công việc của nhiều đồng chí, đồng bào, của nhiều đơn vị, địa phương, của nhiều cuốn sách, bài báo, tác phẩm nghệ thuật trong nhiều tháng tới và nhiều năm tới, tiếp tục cung cấp thêm nhiều tài liệu để giới thiệu Đại thắng Mùa Xuân, cuốn sách này còn nhằm kịp thời bác bỏ những luận điểm sai trái, phản động do những kẻ xuyên tạc lịch sử, những bọn cướp nước và bán nước thua trận đang dựng lên hòng bào chữa cho thất bại thảm hại của chúng và hạ thấp chiến thắng của dân tộc ta.

Do tầm cỡ vĩ đại của chiến thắng, một người không thể nhìn bao quát và do thời gian gấp rút, cuốn sách này không tránh khỏi có những thiếu sót, mong bạn đọc thân mến bổ sung và góp ý kiến.

Tháng 5 năm 1976
Đại tướng Văn Tiến Dũng

vnthuquan.net

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN – Chương 1

Bạo lực cách mạng

Mùa xuân năm 1974, sau Tết Giáp Dần, Hội nghị cán bộ quân sự cao cấp họp tại số nhà 33 phố Phạm Ngũ Lão – Hà Nội. Hội nghị có đủ đại biểu các chiến trường, các quân chủng, binh chủng, các quân đoàn, sư đoàn và đại biểu các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh để thảo luận quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng họp tháng 10 năm 1973 và phổ biến Nghị quyết tháng 3 năm 1974 của Quân uỷ Trung ương đã được Bộ Chính trị thông qua.

Đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Lê Đức Thọ đến Hội nghị phổ biến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21. Cũng trong dịp này, Quốc hội quyết định thăng quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ cao cấp trong quân đội. Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã đến thăm, động viên và chỉ thị nhiệm vụ cho các cán bộ cao cấp và cho toàn quân.

Mỗi cán bộ và chiến sĩ quân đội hết sức phấn khởi được Trung ương Đảng chỉ cho thấy đường đi và triển vọng tươi sáng của cách mạng. Những lời căn dặn của đồng chí Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng, của Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại Hội nghị là mệnh lệnh của Đảng và Nhà nước cho toàn quân tiến lên phía trước.

Hồi đó, Hiệp định Paris về Việt Nam ký đã được hơn một năm.
Theo Hiệp định, đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, cam kết tôn trnng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt dính líu quân sự và can thỉệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam, thừa nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.

Đó là thắng lợi lớn của nhân dân ta, là thất bại lớn của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, là kết quả 18 năm đấu tranh kiên cường và bền bỉ của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta. Hiệp định Paris về Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, mở ra cho cách mạng miền Nam Việt Nam một giai đoạn mới: giai đoạn hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà. Đó là thời kỳ cuối của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nói chung và của chiến tranh cách mạng ở miền Nam nói riêng.

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra sức phá hoại Hiệp định Paris về Việt Nam một cách có kế hoạch và có hệ thống.

Tuy buộc phải ký Hiệp định, đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ chính sách cơ bản của chúng ở Việt Nam là thực hiện “học thuyết Níchxơn”, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Để thực hiện ý đồ nham hiểm đó, ngay từ đầu, Mỹ chủ trương vừa ký Hiệp định, vừa giúp nguỵ quyền Sài Gòn tiếp tục chiến tranh điên cuồng phá hoại Hiệp định. Đế quốc Mỹ đã tiến hành ở miền Nam nước ta một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới bằng nhiều biện pháp thâm độc.

Chúng tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho bọn nguỵ. Trước khi rút quân ra, Mỹ đã đưa vào miền Nam gần 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và rất nhiều tàu chiến, dự kiến đưa thêm một số lớn binh khí kỹ thuật, tăng dự trữ vật tư chiến tranh của quân nguỵ lên mức tương đối cao, gần 2 triệu tấn.

Hiệp định ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét “tràn ngập lãnh thổ”, tập trung lực lượng thực hiện “Kế hoạch bình định ba năm 1973-1975”, “Kế hoạch bình định sáu tháng từ tháng 3-1973 đến tháng 8-1973”, “Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt”, “Kế hoạch xây dựng quân đội từ 1974 đến 1979″ nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và tổ chức cách mạng của ta ở miền Nam.

Địch khẩn trương củng cố và tăng cường xây dựng quân nguỵ, nhất là các quân chủng, binh chủng nhằm bảo đảm cho quân nguỵ đủ sức đối phó với quân chủ lực của ta trong mọi tình huống. Trong năm 1973, địch đã bắt khoảng 24 vạn lính, thu thập lại trên 13 vạn quân đào ngũ, rã ngũ và bị thương, đưa tổng quân số của chúng lên tranh cách mạng để giành thắng lợi hoàn toàn”. Và “Cách mạng miền Nam phải nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công. Ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta”.

Tinh thần của Nghị quyết 21 là: Địch không thi hành Hiệp định, tiếp tục chiến tranh Việt Nam hoá, thực chất là chiến tranh thực dân kiểu mới hòng chiếm lấy cả miền Nam, thì ta không có con đường nào khác là phải tiên hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng, giải phóng miền Nam.

Hội nghị Quân uỷ Trung ương không những vạch rõ phương châm chung là “phản công và tiến công” mà còn nêu lên phương hướng vận dụng phương châm đó trong từng vùng và những phương thức hoạt động trên từng chiến trường. Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ cho toàn quân: tích cực tiến hành công tác chính trị nhằm không ngừng nâng cao chất lượng chính trị toàn diện của các lực lượng vũ trang, tạo nên một sự chuyển biến mới mạnh mẽ, cả về tư tưởng, tổ chức, năng lực, tác phong trong mọi đơn vị, mọi cán bộ, chiến sĩ, nhất là nâng cao ý chí chiến đấu, tăng cường tổ chức kỷ luật, bảo đảm cho ba thứ quân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương được Bộ Chính trị thông qua.
Sau khi có Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu cùng với Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, bắt tay ngay vào việc nghiên cứu, lập những kế hoạch tác chiến chiến lược chung và kế hoạch tác chiến từng chiến trường; khẩn trương tổ chức và huấn luyện các binh đoàn chủ lực, các binh chủng kỹ thuật; vạch kế hoạch về các mặt công tác chuẩn bị và công tác bảo đảm; đồng thời chỉ đạo các chiến trường đẩy mạnh hoạt động thực hiện các đợt tiến công và nổi dậy, giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo điều kiện cho tiến công lớn, rộng khắp trong năm 1975.

Các địa phương và các đơn vị, từ Trị Thiên đến Tây Nam Bộ và vùng ven Sài Gòn – Gia Định, từ tháng 4 năm 1974 đến tháng 10 năm 1974 đều hoạt động mạnh lên, phản công và tiến công địch liên tục, giành thắng lợi ngày càng lớn, với nhịp độ nhanh. Nơi nào quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương, nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng tiến công, thì nơi đó chẳng những phá được kế hoạch “bình định” của địch, giữ vững được vùng giải phóng của ta và các căn cứ trong vùng địch kiểm soát, mà còn mở rộng thêm được nhiều vùng giải phóng, dồn địch vào thế lúng túng, bị động đối phó.

Chúng tôi đặc biệt chú ý đến kết quả trận tiêu diệt quận lỵ Thượng Đức ở Khu 5. Đây là trận thử sức với lực lượng gọi là tinh nhuệ nhất của địch. Ta tiêu diệt địch ở chi khu quận lỵ Thượng Đức, địch đưa cả sư đoàn lính nhảy dù đến phản kích liên tục, dài ngày hòng chiếm lại, nhưng ta đã đánh cho chúng thiệt hại nặng, giữ vững Thượng Đức, buộc địch phải “bỏ cuộc”.

Từ trận Thượng Đức này và các trận tiêu diệt quân chủ lực địch ở Chư Nghé, Đắc Pét trên Tây Nguyên, Bộ Tổng Tham mưu đi đến nhận định và báo cáo với Quân uỷ Trung ương: khả năng chiến đấu của bộ đội chủ lực cơ động của ta đã hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch. Chiến tranh đã bước vào giai đoạn cuối, so sánh lực lượng đã thay đổi, ta mạnh lên, địch yếu đi. Do đó ta có thể và cần phải chuyển từ đánh nhằm tiêu diệt sinh lực địch là chính, sang đánh chẳng những tiêu diệt địch mà còn nhằm giải phóng nhân dân và giữ đất, từ chỗ quân chủ lực ta lấy tiêu diệt quân chủ lực địch trên chiến trường rừng núi là chủ yếu, sang tiêu diệt địch và giải phóng nhân dân, giải phóng đất cả ở vùng giáp ranh, đồng bằng và thành phố. Muốn đánh tiêu diệt lớn và giữ vững các vùng mới giải phóng thì việc chỉ sử dụng các sư đoàn độc lập hoặc phối hợp không còn thích hợp nữa, mà cần có những binh đoàn cơ động, binh chủng hợp thành lớn hơn, làm quả đấm mạnh, được sử dụng vào những thời cơ quan trọng nhất, hoạt động trên những hướng chủ yếu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu nhằm tiêu diệt lớn quân chủ lực địch.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhất trí với nhận định này và chỉ thị cần xúc tiến tổ chức ngay các binh đoàn cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Từ tháng 10 năm 1973 trở đi, lần lượt các quân đoàn được thành lập tập trung huấn luyện tác chiến hợp đồng binh chủng và bố trí trên các địa bàn chiến lược cơ động nhất. Việc xây dựng các quân đoàn có đủ các thành phần binh chủng kỹ thuật là một bước trưởng thành mới của quân đội ta, làm cho ta có khả năng tiến hành các chiến dịch hợp đồng binh chủng quy mô lớn gồm nhiều quân đoàn, sư đoàn, có sức đột kích lớn, cơ động cao, sức chiến đấu liên tục, có khả năng đánh tiêu diệt quân địch trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược: Đi đôi với tổ chức lực lượng còn một việc cấp bách khác là biên chế và thay đổi trang bị cho quân đội được tốt và hiện đại hơn. Một khối lượng lớn hàng quân sự của ta như xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo tầm xa, pháo cao xạ mà đế quốc Mỹ định phá huỷ trong đợt 12 ngày đêm ném bom miền Bắc bằng máy bay B.52 không được, nay lần lượt được chuyển tới các chiến trường. Và lần đầu tiên pháo cơ giới tầm xa và những xe tăng tốt của ta đã vào tận những rừng cao su Nam Bộ. Đây là một bước trưởng thành lớn của quân đội ta, đồng thời cũng là bước chuẩn bị lực lượng tích cực nhất cho cuộc tổng tiến công sau này.

Có lực lượng lớn, có trang bị hiện đại chưa đủ, còn phải tổ chức chiến trường để có thể phát huy được hết sức mạnh của lực lượng lớn và trang bị hiện đại đó. Quy luật chiến tranh cách mạng là từ những đơn vị nhỏ ban đầu phát triển thành những binh đoàn lớn tác chiến hợp đồng binh chủng để tiêu diệt lớn lực lượng địch và cuối cùng phải đánh vào thành phố, đánh vào đầu não chính quyền địch, mới đánh gục được địch, giải phóng Tổ quốc. Và như vậy phải có đủ đường giao thông, phương tiện vận chuyển cơ giới mới có đủ lương thực, thực phẩm, đạn dược, vũ khí cho tiền tuyến.

Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt. Công trình xây dựng con đường chiến lược phía Đông Trường Sơn bắt đầu từ năm 1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ hết sức khẩn trương nối hền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ là công trình lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong, đưa tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cả cũ và mới, làm trong suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000km. Nhà nước và nhân dân ta đã dồn sức dồn của rất lớn vào công trình này. Hàng nghìn xe máy các loại, hàng chục nghìn bộ đội, công nhân, kỹ sư, thanh niên xung phong và dân công vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ do khí hậu, thời tiết và bom đạn địch gây ra, ngày đêm phá núi san đèo, chuyển đá đắp đường, xây cống, dựng cầu, tạo ra một kỳ công rất tự hào ở phía Tây Tổ quốc. Đúng là “Đường ta rộng thênh thang tám thước”, các xe vận tải cỡ lớn, các xe chiến đấu loại nặng chạy được hai chiều với tốc độ cao cả bốn mùa, đã ngày đêm hàm hở chuyển hàng trăm nghìn tấn vật chất các loại vào hệ thống kho tàng cho các chiến trường để bảo đảm đánh lớn.

Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000km đường ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, vượt sông cả, suối sâu, núì cao, có ngọn hơn 1.000 mét, đủ sức tiếp dầu cho hàng chục nghìn xe các loại vào, ra trên đường.

Có thể nêu một hình ảnh đáng tự hào là trên vùng núi chót vót ở phía tây Tổ quốc, hơn 20.000km đường chiến lược từ Bắc chí Nam và đường chiến dịch từ Tây sang Đông như những chiếc thừng rất chắc đang từng ngày từng giờ luồn dần vào cổ, vào chân tay con quái vật, chờ khi có lệnh là siết chặt, kết liễu đời nó.

Đường dây thông tin hữu tuyến cũng đã kéo dài tới Lộc Ninh. Từ Hà Nội đã nói chuyện thẳng được với nhiều chiến trường.

Giữa lúc nhân dân miền Nam đẩy lùi địch hầu khắp mọi nơi để giành quyền làm chủ thì ở miền Bắc, từ các bản làng, khu phố, cơ quan, trường học, xí nghiệp, hàng chục nghìn thanh niên nô nức vào bộ đội, lên đường ra mặt trận theo tiếng gọi của Đảng và Tổ quốc.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương cùng sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị đã làm chuyển biến cục, diện chiến trường có lợi cho ta và động viên được sức mạnh cả nước hướng ra tiền tuyến.

Hết: Chương 1, xem tiếp: Chương 2

vnthuquan.net