Ngày 30-4 vĩ đại được nối tiếp…

Ngày 30-4 vĩ đại được nối tiếp, bật nảy con người TP đích thực. Cái vòng vận hành hợp lý: Quá khứ đẻ ra hiện tượng 30-4 và đến lượt nó, ngày 30-4 đẻ ra hiện tượng chiến đấu và chiến thắng mới

Chiến tranh là chiến tranh… Câu châm ngôn đầy sắt máu ấy chỉ bị đính chính ở đây, thành phố Sài Gòn, vào ngày 30-4-1975 – ngày cuối cùng của 30 năm chiến tranh. Cần nhắc cái điều tuy ai cũng biết nhưng để thêm khái niệm: Cuộc chiến tranh Việt Nam thuộc loại lớn của thế giới hiện đại – về cường độ thì kém chiến tranh thế giới, nhưng về thời gian thì dài gấp nhiều lần.

Một trăm dấu hỏi “lẽ nào”?

Thoạt tiên, sự kiện 30-4 có vẻ khó hiểu – lẽ nào thủ đô của một chế độ với hàng nửa triệu lính, vũ khí còn đủ, với nửa triệu nhân viên các cỡ trong bộ máy thống trị đồ sộ, với hàng vạn, chục vạn phần tử chống đối cách mạng đến cuồng tín, hàng vạn, hàng chục vạn người liên hệ mức này mức khác với bộ máy thống trị tồn tại đã trăm năm, cái túi gom tụ tất cả những gì tội lỗi khắp nước… – lẽ nào một cứ điểm như vậy lại lặng lẽ nhìn quân giải phóng và “Việt Cộng nằm vùng” trong mấy tiếng đồng hồ tràn ngập khắp thành phố mà không để một dấu vết tàn phá, do bất cứ từ phía nào. Lẽ nào cuộc chiến tranh quy mô, dai dẳng lại kết thúc kỳ quặc như vậy…

Có bộ phận kẻ thù toan “tử thủ” đấy. Nhưng, sự thể đã không cho phép làm như vậy. Lực lượng so sánh không cho phép, thế chính trị áp đảo của quần chúng đứng về phía cách mạng không cho phép. Và, cả chính phủ cuối cùng của Sài Gòn không cho phép như vậy. Mỹ tính một ngón đòn khác, rất hiểm – để “Việt Cộng tắm máu dân Sài Gòn”, nên chọn con đường di tản hối hả.

Mọi kế hoạch “tử thủ” vứt vào sọt rác, không bao giờ có “tử thủ”, dù chỉ phảng phất như ánh lóe tuyệt vọng. Thôi, không “tử thủ” nữa. Sẵn súng, thuốc nổ, sẵn cả con người – phá rối vậy. Ngày 30 qua, ngày 1 qua… các đài phát thanh ghét “Việt Cộng” mở máy vi âm dò một tiếng động nhỏ để khuếch đại. Lẽ nào? Lẽ nào dân thành phố Sài Gòn không sợ “Việt Cộng rút móng tay sơn của các cô gái”, “bắt các cô gái phải lấy “thương binh” của họ? Lẽ nào Việt Cộng không nhìn dân Sài Gòn, tất thảy, là “ngụy”, lùa lên rừng, bắt đóng khố và sống với khỉ, vượn?

Một trăm dấu hỏi “lẽ nào” không tiếp được một hồi âm. Đúng ra, vẫn có hồi âm: Những bức ảnh chụp dân thành phố trèo cả lên xe tăng quân giải phóng diễu hành qua các lộ, ảnh của các bó hoa, nụ cười, giọt nước mắt sung sướng, những nụ hôn – ảnh của ngày hội lớn, có lẽ lớn nhất lịch sử đất nước này.

Thủ hạ đâu cả rồi? Các tay trùm buôn lậu số phận con người gầm thét, chúng quên một sự thật khá đơn giản: nửa triệu binh lính Sài Gòn là người Việt Nam bị cưỡng bức vào lính chờ ngày 30-4 chẳng kém gì nhân dân thành phố nói chung. Hơn ai hết, họ cần được giải phóng khỏi kiếp làm bia đỡ đạn. Số phản bội Tổ quốc dù sao cũng không nhiều, chúng sợ trốn mà ló đuôi trước khí thế nghiêng trời của cả một thành phố, còn nói gì đến những danh từ rỗng: chiến đấu cho lý tưởng tự do…

Một năm, hai năm, ba năm, bốn năm qua…, kẻ thù rút kết luận: Để lên dây cót cho thủ hạ, phải tạo cơ hội. Và chúng đã tạo ra: Pol Pot ùa sang chém giết, “nạn kiều” và nạn vượt biên rùm beng, giữa lúc cả nước ta, miệt đồng bằng sông Cửu Long bị ngập lụt chưa từng có, công thương nghiệp thành phố rơi vào điểm chết do cơ chế quản lý lạc hậu…

Lẽ nào Việt Nam không quỵ và trước hết, thành phố Hồ Chí Minh không quỵ…

Củ khoai – khá nhiều củ sùng – không chọn chung đường với ma quỷ mà giúp người thành phố đỡ dạ lo toan việc lớn. Tất nhiên, vẫn có lạc lõng của những cơn sàng lọc bấy nay, đã hơn 10.000 ngày, đã khẳng định con người thành phố đủ tầm cao ngang với lịch sử thành phố.

Chính trong khó khăn, thiếu thốn mà những người lao động dũng cảm cống hiến mồ hôi và tâm lực để cùng cả nước mở lối ra cho cung cách mới quản lý kinh tế – xã hội. Và thành tựu 30 năm – tại chỗ cùng sự đóng góp của thành phố vì cả nước – đã nói thay cho thành phố.

Ngày 30-4 vĩ đại được nối tiếp, bật nảy con người thành phố đích thực. Cái vòng vận hành hợp lý: Quá khứ đẻ ra hiện tượng 30-4 và, đến lượt nó, ngày 30-4 đẻ ra hiện tượng chiến đấu và chiến thắng mới.

Khởi đầu với ngày 30-4 và sẽ nhân lên mãi mãi

30 năm, thành phố tự cải tạo – cải tạo theo cái nghĩa toàn diện nhất. Cho tới nay, chưa thể nói rằng đời sống vật chất của người thành phố đã được bảo đảm vững chắc – dù rằng có được cải thiện, nhìn chung. Song, cho tới nay, người thành phố hiểu được cái chân lý vốn rất khó hiểu trước kia: Đời sống phản ánh hai mặt: mức sản xuất và mức tháo gỡ cơ chế quản lý của thành phố. Từ thái độ thụ động, nhìn nền kinh tế bằng đôi mắt bàng quan, người thành phố xông vào nó, suy tính với nó, lật bề mặt bề trái của nó, bắt nó cựa quậy, bằng mồ hôi, nhịp tim, chất xám và kinh nghiệm. Quyền làm chủ biểu hiện có lẽ rõ hơn hết trên trận địa này. Chưa bằng lòng, thậm chí bất bình những mặt nhất định của cung cách điều hành kinh tế – xã hội, người thành phố đã phát hiện cái cốt lõi: có đóng góp thì có thu hoạch. Sự giác ngộ ấy đáng quý biết bao nếu chúng ta nhớ những tháng năm chưa phải đã xa xôi dân thành phố sống trong mối quan hệ thống trị – bị trị khác hẳn và bị ô nhiễm không phải nhẹ nhàng trước cả một hệ thống đầu độc tinh vi, nhiều dạng, nhiều mức.

Còn đời sống văn hóa, thành tựu lớn nhất chính là người thành phố tự hiểu năng lực bản thân mình, tự hào và tự tin có thể xây dựng thành phố theo ước mơ của chính mình, dù cho trước kia chỉ là tiềm thức nhưng ngày nay đã tiếp cận với hiện thực.

Có lẽ cái mà mọi người day dứt xoay quanh những biểu hiện tiêu cực – rộng và hẹp, to và nhỏ, có cái thuộc vật chất, có cái thuộc đạo lý… – và thiết tha mong chờ công bằng. Nguyện vọng hoàn toàn chính đáng và là nguyện vọng của những người có tinh thần trách nhiệm.

Thành phố Hồ Chí Minh khởi đầu với ngày 30-4, đã nhân những nét đặc sắc của ngày trọng đại ấy, sẽ nhân mãi, nhân mãi…

Trần Bạch Đằng (Tháng 4-2005)

Advertisements

Ông “số một”

Viên thiếu tá quận trưởng Cầu Kè người Việt, quốc tịch Pháp mang tên Robert đã dùng danh xưng đầy nể trọng như vậy để gọi đồng chí Ba Danh trong ngày đỉnh điểm 30 tháng 4 năm 75. Đây cũng là bí số trên vô tuyến điện của đồng chí Ba Danh, tức Võ Thành Công, Bí thư Huyện ủy, Chỉ huy trưởng mặt trận Cầu Kè trong những ngày tổng tấn công cuối tháng 4 này.

Từ sáng nay, 30 tháng 4, khi các đồn bót vệ tinh quanh huyện lỵ đã bị ta nhổ gần hết, anh đã dùng ngay mã số vô tuyến điện của địch ở Cầu Kè với danh nghĩa là người chỉ huy cao nhất lực lượng cách mạng của huyện mang tên “Số Một” để liên lạc buộc Robert phải ra gặp và buông súng đầu hàng.

Đến 17 giờ, tất cả các đồn bót sát huyện lỵ, kể cả đồn Giồng Dầu do tiểu đoàn bảo an, lực lượng mạnh nhất bảo vệ vòng trong của chi khu Cầu Kè đã đầu hàng hoặc bỏ súng tháo chạy. ở Cầu Kè chỉ còn có bản doanh ở chi khu, chi công an và trận địa pháo nằm liền với Sở chỉ huy chi khu. Tuy thế, tên quận trưởng Robert rất ngoan cố. Y không trực tiếp ra mà ba lần chỉ cử các tên phó chỉ huy quận ra gặp đồng chí Ba Danh với ý định cố kéo dài thời gian để tìm cách chống đối đến cùng và lợi dụng đêm tối tìm đường tẩu thoát.

Đồng chí Ba Danh rất bất bình trước thái độ, ngoan cố của y. Nhưng anh vẫn nén giận, không ra lệnh nổ súng. “Sớm muộn hôm nay Robert sẽ phải tự mình ra xin nộp quận. Ta không nên nổ súng vào lúc này, vì chúng ta muốn tới giờ phút chắc chắn cả miền Nam sẽ toàn thắng, đồng đội của mình và cả binh sĩ ngụy cùng là người Việt Nam phải đổ máu để rồi có thêm nhiều bà mẹ Việt Nam phải mất con”. Anh Ba trao đổi chủ định đó của mình với đồng chí Phạm Văn Chữ, Huyện đội trưởng.

Tiếp đó bằng giọng nói đanh thép qua vô tuyến điện, anh cảnh báo Robert khi nghe y xin khất ít giờ nữa để y hỏi ý kiến cấp trên: “Robert hãy nghe đây! Các anh không phải hỏi ý kiến ai cả. Tỉnh trưởng Trà Vinh Nguyễn Văn Sơn và Tổng thống Dương Văn Minh của các anh đã đầu hàng. Các anh chỉ còn một con đường là giao nạp quận cho chúng tôi, nếu không muốn mất mạng. Đừng để chúng tôi phải nổ súng và dẫn đến máu của binh sĩ các anh phải đổ vào lúc này. Nếu thế tội của các anh, nhất là Robert với cách mạng và nhân dân sẽ càng lớn không có gì chuộc nổi”.

Đến lúc này, y đành đích thân ra gặp đồng chí Ba Danh. Theo sau Robert là ba tên phó chỉ huy quận, trong đó có tên Cường đại úy ác ôn, kẻ đã tác động mạnh để Robert quyết tâm cố thủ, không đầu hàng. Từ sáng mới biết và hình dung ra tướng mạo người đứng đầu lực lượng cách mạng của Cầu Kè qua giọng nói vừa đầy uy lực vừa rất thu phục nhân tâm của ông “Số Một”, Robert đã rất nể trọng. Bây giờ ra gặp, thấy rõ vóc dáng, diện mạo cao lớn, oai nghiêm, đĩnh đạc của đồng chí Ba Danh cùng phía sau anh là các chiến sĩ quân Giải phóng và nhân dân cũng đang ở thế thượng phong, khí thế cách mạng đang trào lên như sóng biển, lập tức ánh mắt của Robert và 3 tên quận phó liền cụp xuống, ý chí kháng cự cuối cùng bỗng tiêu tan. Giọng y ấp úng vẻ muốn thanh minh:

– Dạ thưa ông “Số Một”! Xin ông hiểu cho, chúng tôi không cố ý chống cự lại các ông đến cùng. Chỉ định kéo dài thời gian lại một chút để tránh những khó khăn về cuộc sống của anh em binh sĩ mà chúng tôi không thể giải quyết được, nếu nạp quận sớm.

– Dạ thưa các ông! – tên Cường quận phó tiếp lời Robert. Vì cuối tháng hết lương rồi, tối nay binh sĩ của chúng tôi không còn gì để ăn. Trao quận lại ngay cho các ông, họ sẽ tràn ra kiếm ăn làm loạn quanh đây. Lại còn ngủ nữa, trao quân sớm cho các ông, đêm nay họ không biết ngủ ở đâu?

– Nếu đúng chỉ vì thế thì chúng tôi sẽ tháo gỡ ngay băn khoăn đó cho các người và giải quyết ngay tại đây. Ngay bây giờ sĩ quan và binh sĩ của các người sẽ có cơm ăn, chỗ ngủ ở vị trí này.

– Dạ thưa các ông. Điều tôi muốn nói lúc này, là rất cảm phục các ông, nhất là ông “Số Một”. ông là một vị chỉ huy tài ba, kiên quyết, nhưng lại rất khoan dung, nhân ái nên đã không ra lệnh nổ súng. Nếu không, chắc chắn sẽ phải thêm bao máu người Việt ta đã đổ ra vô ích và bản thân tôi cũng khó toàn tính mạng.

Nói xong Robert liền xin phép đồng chí Ba Danh dùng vô tuyến điện thanh khuyến dụ và ra lệnh cho quân sĩ toàn chi khu nhất loạt ngưng chống cự, ở nguyên vị trí, bỏ súng đầu hàng, trao nộp toàn bộ chi khu và quân lỵ cho quân Giải phóng.

Buông máy vô tuyến điện thanh, Robert đưa mắt về phía ba viên quận phó và cả bốn liền tháo súng ngắn nộp ngay trước mắt ông “Số Một”. Và y nhanh nhảu đích thân đưa đồng chí Ba Danh và đồng chí Phạm Văn Chữ, Huyện đội trưởng vào Sở chỉ huy chi khu để trao nộp nguyên vẹn toàn bộ vũ khí, hồ sơ và cơ sở vật chất cho quân Giải phóng. Lúc này là 19 giờ ngày 30 tháng 4, Cầu Kè đã được hoàn toàn giải phóng.

Điều đáng mừng nhất là ở huyện lỵ, nơi kẻ địch ngoan cố nhất, ta đã tiếp quản trọn vẹn mà không phải đổ máu trong giờ toàn thắng. ở đây, từ Sở chỉ huy chi khu đến trận địa pháo 105 ly và Chi công an cùng các bót vệ tinh còn lại theo lệnh của ta, quân sĩ của Robert đã xếp súng đạn thành từng đống gọn gàng rồi ngồi gom sang một bên để từng tên chỉ huy các bộ phận báo cáo số quân đầu hàng và vũ khí trang bị với các sĩ quan của ta. Vũ khí, quân cụ và tất cả các cơ sở vật chất, thiết bị quân sự hầu như còn nguyên vẹn. Riêng trại pháo hai khẩu 105 ly đã không ở trạng thái “mặc áo” bảo quản mà cả hai đều hạ thấp nòng chĩa thẳng vào Sở chỉ huy chi khu, gần 100 viên đạn vàng óng súng đã sắp sẵn lên bệ.

Lý giải hiện trạng này, viên trung úy chỉ huy pháo nói: “Qua theo dõi trên vô tuyến điện, tôi biết thiếu tá quận trưởng Robert đã không chịu sớm ra gặp ông chỉ huy quân Giải phóng, vì muốn kéo dài thời gian để giải thoát trong đêm. Nếu cứ kéo dài như thế, chắc chắn sẽ đổ máu, trong đó tính mạng chúng tôi khó toàn vẹn khi mà cả tỉnh trưởng đến Tổng thống Dương Văn Minh đã đầu hàng cách mạng. Cho nên chúng tôi đã hạ nòng pháo sẵn sàng bắn thẳng vào Sở chỉ huy của ông Robert để tự cứu lấy mình. Cũng còn may cho ông Robert khi những khẩu pháo này không phải nhả đạn lần cuối cùng trong tay chúng tôi”.

Robert lạnh gáy, mặt tái xanh khi nghe viên trung úy pháo binh tường trình lại vì hai nòng pháo đang chĩa thẳng vào Sở chỉ huy chi khu của mình như vậy. Y thầm thốt lên: “Ôi, sự trì hoãn của mình đâu chỉ có nguy hiểm với Robert này từ phía quân Giải phóng…”. Nhưng rồi sắc thái trên gương mặt của y liền thay đổi và tỏ ra rất xúc động trước một cảnh tượng rất lạ và thú vị đang diễn ra mà Robert có giàu trí tưởng tượng cũng chưa thấy bao giờ.

Đấy là cảnh tượng khắp trong các doanh trại có quân của hai bên đến bữa ăn đã chia làm hai khu vực liền nhau, một bên là các chiến sĩ quân Giải phóng, một bên là binh sĩ ngụy Sài Gòn. Cả hai cùng ăn chung một tiêu chuẩn bằng lương thực, thực phẩm của Huyện đội Cầu Kè xuất ra. Và ngủ cũng tương tự. Nửa khu doanh trại là các chiến sĩ của ta, nửa bên kia là binh sĩ của Robert khi súng đạn của họ mới nộp vừa đó đã được bỏ kho khóa lại.

Nhìn hình ảnh độc đáo đó, Robert không ngờ rằng cái lý do khó khăn nhất của mình ra để thanh minh với ông “Số Một” lại được ông giải quyết lẹ làng và quá ư ngoạn mục như vậy.

Y đã thực sự xúc động với ông “Số Một” khi được đồng chí thả cho y cùng toàn bộ sĩ quan binh sĩ ngụy ở Cầu Kè về với gia đình(1). “Thưa ông! Tôi đã đọc nhiều chuyện viết về chiến tranh cả ở châu Á và châu Âu. Nhưng chưa bao giờ thấy chuyện, cả binh sĩ hai bên cùng ăn, cùng ngủ ở doanh trại mà chính ông là tác giả như tối hôm qua. Chỉ việc ông kiềm chế không ra lệnh nổ súng đã khiến tôi thực sự thay đổi nhãn quan khi nhìn về phía các ông.

Với hơn một triệu quân chính quy, trước đó còn có cả nửa triệu quân Mỹ được trang bị rất hiện đại, rõ ràng về thực lực quân sự, quân đội Sài Gòn chúng tôi hơn hẳn các ông. Nhưng chúng tôi đã không tránh khỏi thất bại thảm hại là điều đương nhiên. Bởi các ông đã chiến thắng bằng yếu tố mà Việt Nam Cộng hòa không có, trong đó có yếu tố lớn là lòng nhân ái như ở Cầu Kè hôm nay”. Đáp lại, đồng chí Bí thư Huyện ủy, Chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang cách mạng của Cầu Kè bảo Robert đứng thẳng người lên và chìa bàn tay về phía anh ta.

HÀ BÌNH NHƯỠNG

(1) Đợt Tổng tấn công tháng 4-1975, trừ những sĩ quan cao cấp đặc biệt và những tên ác ôn có hành động chống đối hiện hành, ta mới tạm giữ, còn đã thả toàn bộ về với gia đình. Sau đó tổ chức cho họ ra trình diện và cho các sĩ quan Saigon cũ đi cải tạo với thời gian tùy theo từng cấp, từng người.

Tôi tham gia “ké” may cờ giải phóng

(NLĐO)- Ngày 30- 4-1975 tôi đã 14 tuổi. Cái tuổi không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải người lớn. Vì vậy, có chuyện “quốc gia đại sự” gì trong nhà là ba tôi giao phó cho các anh chị. Tôi làm… quan sát viên thôi.

Ba tôi hoạt động cách mạng trong nội thành nhưng tôi chỉ biết rõ điều đó vào những ngày cận kề 30-4. Ông “tập trung” 3 đứa con lớn vào trong phòng và cấm không cho mấy nhóc như tôi chui vào.

Càng cấm tôi càng…tò mò và sau khi cuộc họp tan tôi đã thu thập được tin tức ngay: Nhà tôi sẽ may cờ giải phóng! Anh Ba đi mua vải màu đỏ; chị Tư mua màu xanh còn chị Năm màu vàng nhưng phải mua 3 chỗ khác nhau sợ bị phát hiện.

Tôi bám anh Ba đòi theo và hứa sẽ “canh chừng” dùm. Ba người có vẻ hồi hộp, lo lắng nhưng tôi thì khoái vô cùng vì lần đầu tiên mình tham gia chuyện “quốc gia đại sự”.

Người được ba tôi giao nhiệm vụ may cờ là cậu Mười, một chú thợ may hiền lành, tốt bụng nhà hàng xóm kế bên. Lúc đầu cậu Mười tái xanh mày mặt nhưng không biết ba tôi vận động thế nào mà cũng xong.

Chỗ cậu Mười ngồi may trong góc tối, cửa nẻo đóng kín mít và tôi làm “nhiệm vụ” lâu lâu hé cửa vào đưa cho cậu ly cà phê hay miếng bánh lót dạ…

Tôi nhủ thầm trong bụng, phải tìm cách để giành lấy việc cắm cờ trước nhà mình khi Sài Gòn giải phóng, bởi nhiều khả năng chuyện “quốc gia đại sự” như vậy sẽ dành cho anh Ba.

Nhưng ý định đó không thành vì khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, số cờ đó đã được ba tôi mang đi giao cho các nơi rồi về… tay không. Ông an ủi: “Nhiều nơi cần phải cắm cờ trước, còn nhà mình dù sao cũng biết cờ giải phóng ra sao rồi, bữa khác may thêm treo sau”.

Bạn nhớ gì về ngày 30 tháng 4 năm 1975 hoặc nghe người thân của mình kể về những kỷ niệm của ngày lịch sử này? Hãy chia sẻ câu chuyện của mình qua online@nld.com.vn cùng mọi người. Những mẩu chuyện của bạn sẽ có nhuận bút đủ để… uống cà phê và tiếp tục trò chuyện với bạn bè về “Ngày 30-4 của tôi”..

P.Ngọc

Liều đi xem “mặt mũi” Sài Gòn…

(NLĐO)- Ngã tư Hàng Xanh ngày ấy nhỏ hơn bây giờ nhiều, còn đường phố thì ngược lại, rộng rãi, thênh thang hơn hẳn. Chúng tôi cuốc bộ từ Hàng Xanh, cầm trên tay ổ bánh mì Sài Gòn vừa to vừa mềm – khác hẳn bánh mì ngoài Bắc, náo nức đếm từng bước để đến được Dinh Độc Lập.


Bộ đội tiến về Sài Gòn năm 1975 (Ảnh: Internet)

Tháng 2-1975, tôi được lệnh tổng động viên và ngay sau đó hành quân vào Nam. Ngày 30-4 lịch sử, đơn vị tôi đang chiến đấu ở Xuân Lộc (Đồng Nai). Đến đầu giờ chiều hôm đó, chỉ huy đơn vị nhận được tin báo Sài Gòn giải phóng, đám lính chúng tôi nhất loạt tung mũ, nhảy cẫng lên reo hò.

Vài ngày sau, tình hình dần yên ổn nhưng chúng tôi nhấp nhổm không yên. Sài Gòn đã gần kề, đứa nào cũng háo hức muốn xem thử “hòn ngọc Viễn Đông” tròn méo ra sao! Thế là, hơn chục đứa len lén rủ nhau chuồn khỏi nơi đóng quân trong một cánh rừng cao su.


Ngã tư Hàng Xanh chụp năm 1970 (Ảnh: Internet)

Ra đến đường cái, xe khách chạy tuyến Xuân Lộc – Sài Gòn đã được phục hồi. Chúng tôi ngoắc đại một chiếc xe, nói muốn đến Dinh Độc Lập. Thấy chúng tôi mặc đồ bộ đội, bà chủ xe nhất quyết không lấy tiền.

Xe qua cầu Sài Gòn, tiến đến Hàng Xanh. Lúc đó, tôi thấy ngã tư này nhỏ xíu. Bên lề đường ken đầy người bán bánh mì. Bánh mì Sài Gòn khác hẳn bánh mì chúng tôi vẫn ăn ngoài Bắc, vừa to, vừa mềm. Dúi vào tay chúng tôi túi bánh mì, bà chủ xe bảo xe này không vào Dinh Độc Lập và chỉ chúng tôi cứ đi thẳng đến Sở Thú rồi hỏi tiếp đường là đến.

Cuốc bộ trên đường phố Sài Gòn ngay sau ngày giải phóng có cảm giác thật khó tả. Tôi sinh sống ở thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh; từ nhỏ cũng đã thấy nhà lầu, cũng xài điện, nước máy nên không lạ lẫm lắm. Nhưng đường phố lúc ấy rộng thênh thang, vỉa hè “bát ngát” tha hồ mà bước. Bao trùm là một bầu không khí yên tĩnh và thanh bình như thể chiến tranh chưa từng chạm đến nơi này.

Đến khi đứng trước cổng Dinh Độc Lập rồi, chúng tôi vẫn chưa dám tin mình đã đặt chân đến được nơi đã diễn ra thời khắc lịch sử của dân tộc. Trong tâm trí tôi vẫn còn lưu lại hình ảnh một Dinh Độc Lập thật to lớn, quy mô và đẹp lộng lẫy nằm bề thế giữa những ngả đường rộng lớn cùng rừng cây xanh rì phía trước.


Dinh Độc Lập những ngày đầu giải phóng

Một số người dân vẫy chào chúng tôi, số khác tỏ ra khá dè dặt nhưng không có vẻ sợ hãi hay tránh né. Tôi còn nhớ lúc đó mốt hippy đang “làm mưa làm gió” trong giới trẻ Sài Gòn. Nam, nữ thanh niên đều mặc quần ống loe, áo chẽn, tóc để dài quá vai. Do kiểu quần bó nên họ không nhét được bóp vào túi mà giắt ở thắt lưng.

Những lần vào Sài Gòn tìm người quen hay công tác sau đó, tôi dần quen với nhịp sống ở đây. Tuy vậy vẫn có nhiều chuyện cười ra nước mắt, chủ yếu là do cách dùng từ khác biệt giữa hai miền.

Có lần, tôi ra cửa hàng tạp hóa, nói với cô bán hàng là muốn mua nến. Nói mãi cô vẫn không hiểu nến là gì, tôi liền chỉ vào mấy cây nến trên sạp, cô “à” lên vỡ lẽ: “Trời đất, đèn cầy thì nói đèn cầy…”. Dần dần tôi biết thêm người miền Nam gọi “diêm” là “hộp quẹt cây”, phân biệt với “hộp quẹt máy” (loại bật lửa xăng), gọi “bánh xà phòng” là “cục xà bông”…


Đường phố Sài Gòn

Trở lại chuyến tham quan Sài Gòn “lụi”, ngắm Dinh Độc Lập xong, chúng tôi bắt xe khách về lại đơn vị. Biết thân biết phận, chúng tôi mon men theo đường mòn, nhưng không ngờ vẫn bị chỉ huy tóm tại trận.

Cả đêm đó, 13 đứa mê chơi bị bắt phạt đào hầm bở hơi tai. Dẫu vậy, tôi vẫn thấy sướng trong bụng vì đã được tận mắt nhìn thấy Sài Gòn ngay những ngày đầu giải phóng!

Trần Trọng Đạt (quận Tân Bình, TPHCM)

Lặn lội về quê sau ngày giải phóng

(NLĐO)- Sáng nay 30-4, người dân TPHCM đã được hướng dẫn tránh đi vào một số con đường gần với khu vực thiết kế lễ đài kỷ niệm Chiến thắng mùa Xuân 1975.

Hòa trong dòng người đông đảo, tôi cũng phải đi vòng vòng mới đến được một địa điểm trên đường Cách Mạng Tháng Tám. Có sao đâu, chỉ là sự giới hạn giao thông tạm thời, rồi mọi người sẽ thênh thang trên những ngã đường trong những ngày lễ lớn. Thành phố bây giờ có biết bao nhiêu là con đường và cây cầu hoành tráng, tha hồ cho xe cộ xuôi ngược!

Trong sự hoài niệm về tháng 4-1975, tôi chợt bắt gặp hình ảnh của chính mình cũng có mặt trên đường phố Sài Gòn những ngày đầu giải phóng.

Hồi đó, đang là sinh viên khoa Luật năm thứ nhất, tôi đã được chứng kiến những ngày chấm dứt của chế độ Sài Gòn, rồi quân cách mạng bắt đầu công việc tiếp quản thành phố.


Đường phố Sài Gòn

Tôi thuộc vào nhóm sinh viên được triệu tập về trường, được phân công làm vệ sinh một số doanh trại, tư dinh của các tướng tá chế độ Sài Gòn đã bỏ chạy.

Chỉ một thời gian ngắn sau, biết rằng gia đình không thể chu cấp cho tôi ăn học nữa, tôi đành phải tìm đường trở về nhà ở Nha Trang.

Bây giờ, trí nhớ đã phai nhạt theo thời gian, nhưng tôi vẫn không thể nào quên sự khó khăn đã gặp phải trên đường về. Những chiếc xe đò đã phải trèo đèo, lội suối vì vài chiếc cầu bị hư hại, thậm chí có chiếc bị sập đổ.


Quân đội Cộng hòa tháo chạy từ Tây Nguyên về Nha Trang (tháng 3-1975)

Tôi nhớ, chiếc xe đò “của tôi” đã phải vòng lên Đà Lạt rồi mới từ từ đưa hành khách về đến nơi. Hành khách đã phải leo lên, leo xuống nhiều lần, đôi khi phải hợp lực đẩy chiếc xe bị ngộp máy nữa. Tổng cộng, hình như tôi phải mất vài ngày để về đến nhà.

Ôn cố tri tân. Bao gian khổ đã để lại sau lưng, nhiều người trẻ tuổi có thể không hình dung được những ngày xưa ấy. Tôi chỉ mong một điều là, từ đây đất nước được tươi đẹp, người dân được ấm no, hạnh phúc một cách trọn vẹn và bền vững.

Hạnh Thuần

Tôi suýt chết ngày 30-4 năm ấy…

(NLĐO)- Ngày thành phố chưa giải phóng tôi vẫn còn là một chú nhóc. Mới 13, 14 tuổi tôi đã thấy “…Những cánh đồng quê ứa máu. Dây thép gai đâm nát trời chiều”. Chiến tranh đã phủ lên bầu trời tuổi thơ như một màu xám đen tối, buồn bã và nỗi sợ hãi phập phồng, lửng lơ.

Ngày ấy thành phố lúc nào cũng ngập tràn sắc áo rằn ri và những người lính Mỹ viễn chinh. Hàng ngày đường phố Sài Gòn luôn rầm rập những chiếc xe nhà binh gầm rú inh ỏi chở đầy lính tráng, súng ống đạn dược lùa ra khắp các chiến trường.

Thỉnh thoảng lại nghe đâu đó có người bị xe nhà binh Mỹ cán chết. Xe nhà binh với những ông tài xế mắt xanh mũi lõ, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cởi trần phóng bạt mạng trên đường phố đã trở thành hung thần với tất cả người dân đô thị. Mỗi ngày trước khi anh em tôi đi học, mẹ tôi đều dặn đi dặn lại như đọc kinh nhật tụng “Nhớ đi sát vào trên lề đường. Coi chừng xe Mỹ đó!”.

Chiến tranh trong mắt những đứa trẻ như tôi, ở đâu đó rất xa, nhưng hàng đêm nó vẫn nhắc nhở sự hiện diện chết chóc của mình, vẫn đe dọa giấc ngủ trẻ thơ bằng những tiếng giày đinh nện trên mặt đường, bằng những tiếng đạn bom từ một nơi nào đó vọng về: “Đại bác đêm đêm vọng về thành phố. Người phu quét đường dựng chổi đứng nghe”.

Mỗi ngày chúng tôi lớn lên một ít, tóc mẹ lại bạc thêm rất nhiều, không phải vì thời gian chồng chất lên tuổi đời mà vì muộn phiền lo lắng: “Vài năm nữa thằng Hưng (anh lớn của tôi) lại phải đi quân dịch rồi!”. Những lúc như thế, tôi bá cổ mẹ và an ủi – Mẹ lo gì cho mệt, đến lúc tụi con lớn lên thì đất nước hết chiến tranh rồi còn gì.

Trên đường chúng tôi đi học, quán rượu, quán bar mọc lên như nấm, lúc nào cũng đầy ắp lính ngụy, lính Mỹ. Họ đến đó tìm sự khuây khỏa, quên đi nỗi sợ hãi chết chóc trước lúc hành quân, hoặc ăn mừng vì đã may mắn sống sót trở về.

Lớn lên một chút khi bắt đầu học trung học, tôi lại chứng kiến những cảnh xuống đường, biểu tình đốt xe Mỹ của các anh chị sinh viên và người dân thành phố. Cả thành phố sôi sục trong không khí đấu tranh. Ở trong lớp, những giờ lịch sử khi giảng về truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, tiếng của người thầy giáo già như có lửa hơn.

Những ngày tháng 4, tiếng súng vọng về thành phố mỗi đêm mỗi dồn dập và gần hơn cùng lúc với những tin tức chiến sự về sự thất trận của quân đội Sài Gòn trên khắp mọi nơi. Tôi thấy những khuôn mặt người dân thành phố khấp khởi chờ đợi một điều gì đó.


Quân giải phóng tiến vào chiềm dinh Độc Lập trong ngày 30-4-1975. (Ảnh: Internet)

Thế rồi cái ngày mong đợi ấy cũng đã đến. Sáng 30 tháng 4 những chiếc xe tăng T54 và những người lính giải phóng đã có mặt ở trước xóm tôi. Trong lúc người lớn còn đang e dè, ngần ngại thì lũ nhóc đã chạy ra vây lấy các anh bộ đội hỏi han, chuyện trò ríu rít. Những người lính giải phóng chỉ 18, 20 gầy gò, xanh xao nhưng rất vui tính.

Dọc các đường phố, lính ngụy tháo chạy, bỏ đầy đường súng ống, quần áo. Có tiếng đứa trẻ nào tinh nghịch mách: “Lính ngụy đó chú!”. Các anh chỉ mỉm cười: “Kệ họ, bây giờ họ cũng là dân mình cả”. Rồi quay sang chúng tôi anh bảo: “Các cháu về đi, tình hình chưa yên hẳn đâu, ở đây nguy hiểm lắm”.

Bình thường bọn nhóc cũng cứng đầu khó bảo lắm, chẳng hiểu sao lần này cả đám lại nghe lời các anh. Nhờ vậy mà chúng tôi sống sót, vì khi vừa bước chân về đến cổng nhà, một chiếc F5 trên đường tháo chạy đã trút hết số bom còn lại xuống ngay chỗ chúng tôi vừa nói chuyện với các anh.

Những người lính giải phóng ngã xuống cùng với hàng chục ngôi nhà sụp đổ tan tành, hàng chục người dân vô tội chết oan; khi chỉ còn hơn một tiếng đồng hồ nữa chiếc T54 đầu tiên húc đổ cổng Dinh Độc Lập, giải phóng hoàn toàn thành phố.

Các anh nằm xuống giữa tuổi thanh xuân, bỏ lại sau lưng gia đình, người thân, bạn bè đồng đội và cả giấc mơ trở lại giảng đường đại học khi đất nước hết chiến tranh. Đồng đội đưa các anh về yên nghỉ ở một gò đất cao (phía sau cái xóm nhỏ của tôi) trên cánh đồng hàng ngày lũ trẻ chúng tôi vẫn ra thả diều, bắt dế.

Chiến tranh kết thúc đã lâu. 35 năm qua chúng tôi lớn lên bình yên, không còn thắc thỏm lo sợ, đạn bom chết chóc. Với riêng tôi, mỗi năm đến ngày 30 tháng 4, tôi lại nhớ đến các anh – những người chiến sĩ giải phóng đã nằm xuống ngay trên mảnh đất xóm tôi. Các anh nằm xuống để thế hệ chúng tôi có ngày hôm nay, để thành phố bình yên bay lên trên những tầm cao mới.

XUÂN VINH

Tôi háo hức đi đón quân giải phóng …

(NLĐO)- Gia đình tôi trước kia cư ngụ tại Xóm Chiếu, Khánh Hội, quận 4, Sài Gòn. Những ngày cuối tháng tư của năm 1975, và khoảng thời gian vài tháng liền kề là những ngày đầy ắp kỷ niệm mà suốt cả cuộc đời tôi không bao giờ quên được.

Ngày đó, tôi – một thằng bé gần tròn mười lăm tuổi, lứa tuổi đủ để có những suy tư và cảm nhận về những biến cố xảy ra chung quanh mình. Khi hay tin đoàn quân giải phóng sắp vào Sài Gòn, mọi người sống trong bầu khí hoang mang và hết sức hỗn loạn, bởi có tin đồn: “Việt Cộng mà vào thì Sài Gòn sẽ bị tắm máu”. Rất nhiều người sợ phát khiếp, sợ đến độ bỏ cả của cải, nhà cửa, xô nhau ùa tràn vào cảng Sài Gòn để được xuống tàu ra đi khỏi xứ. Khắp đường phố khi ấy tràn ngập người và đủ thứ tài sản mà người ta quăng lại vương vãi, cả những người lính cộng hòa thất trận bỏ chạy cũng vội vã quăng hết quân trang, quân cụ để biến mình thành thường dân.

Cha mẹ tôi quyết định ở lại với quê hương, mặc dù có những người quen đến rủ rê xuống tàu, lý do vì muốn hội ngộ với những người thân ruột thịt còn ở tận ngoài phương Bắc xa xôi. Trong những ngày u ám ấy, tôi thường ra bến tàu xem cảnh người ta chen chúc nhau ra đi, lòng buồn vô hạn, dù sao tôi cũng đã phải chia tay những đứa bạn thân ở nơi đây.

Thế rồi ngày trọng đại cũng đến, quá trưa ngày 30-4 đoàn quân giải phóng tiến vô Sài Gòn giữa một rừng cờ đỏ sao vàng của hai hàng người dân túa ra chào đón. Tôi cũng chạy ra đường Trịnh Minh Thế, trên tay có một lá cờ nhỏ mà mẹ tôi đã may sẵn và ráng chen vô dòng người, vẫy vẫy với tất cả háo hức của một đứa trẻ trước sự kiện lạ lùng mà vô cùng quan trọng của đất nước.


Đón quân giải phóng vào giải phóng Sài Gòn năm 1975 (Ảnh Internet)

Rồi những chú bộ đội xin vào ở trong nhà dân, khu xóm đầy những sắc áo lính mới. Sự tiếp xúc thân mật giữa quân và dân đã xóa đi những lời đồn hoang tưởng về tính cách của người lính giải phóng. Tôi âm thầm quan sát cách sinh hoạt của mấy chú, cảm thấy sao bộ đội hiền quá, đáng mến quá, có gì đâu mà phải sợ!

Thế là một sợi dây thân ái đã được hình thành một cách tự nhiên giữa người dân xóm và các anh giải phóng. Tôi vẫn nhớ, mình thường đem những món ăn ngon mà mẹ nấu “đi tiếp tế” vì thấy bữa ăn của các chú ít thịt cá. Những buổi tối được sinh hoạt cùng các chú bộ đội thật là vui hết biết, tôi được tham gia trong nhóm thiếu nhi Tiền Phong, được ca hát nhảy múa, được học hỏi nhiều điều hay lạ. Tôi thấy mình trưởng thành hơn từ những ngày vui chơi ấy.

Điều bất ngờ nhất đối với gia đình tôi, là trong số các chú bộ đội trú gần nhà, ba mẹ tôi đã dò tìm ra được một người cháu, mà ngày di cư vào Nam anh ấy chưa ra đời. Buổi hạnh ngộ, cả nhà tôi đầm đìa nước mắt vì hạnh phúc khi những người thân yêu chợt nhận ra nhau. Tôi cũng khóc theo dòng cảm xúc của ba mẹ, mặc dù khi ấy chưa biết ngoài Bắc và bà con nội ngoại là thế nào. Thế là quyết định ở lại với quê hương đã làm thỏa mãn khát vọng của ba mẹ tôi.

Sau đó, hưởng ứng lời kêu gọi của chính quyền cách mạng, gia đình tôi rời bỏ Sài Gòn để đi làm kinh tế mới tại một xã thuộc tỉnh Đồng Nai (nay thuộc tỉnh BR-VT). Tôi xa nơi tuổi thơ chan hòa nỗi nhớ một mạch liền khoảng 5 năm, mãi đến năm 20 tuổi tôi mới có dịp quay lại thành phố thân yêu này.

Ngày đầu tiên đặt chân lại trên đường phố Sài Gòn, trong lòng tôi quá đỗi bồi hồi cảm xúc. Đứng chết lặng trước ngôi trường trung học Nguyễn Trãi, nơi mà tôi đã theo học bốn năm liền cho tới ngày rời xa. Dưới chân tượng danh nhân mà trường tôi được vinh hạnh mang tên người, ở đây tôi nhớ lại thầy cô và bè bạn, nhớ thật da diết, nhớ tột cùng. Rảo bước ra đường, nhìn sang bên kia là cảng Sài Gòn đấy! Trong tôi bỗng sống lại kỉ niệm của bầu không khí chiến thắng năm nào: Ngày ấy, dọc theo con đường này, tôi hòa vào dòng người đi đón đoàn quân giải phóng đây mà.

Đi mon men suốt chiều dài bờ tường cảng Sài Gòn trong buổi chiều với nỗi trầm mặc, bâng khuâng. Lòng hồi tưởng nơi đây một thời đã từng là bến chia ly, tôi đã vĩnh viễn mất những đứa bạn và vài người thân khi con tàu mang họ ra đi vào lòng biển cả. Không thể tả hết được cõi lòng xốn xang của người xa xứ nay có dịp quay về, tôi đã ngồi hằng mấy tiếng nơi bến Bạch Đằng, chỉ ngồi lặng câm một mình để tâm hồn được tự do phiêu lãng tìm về lại những ngày tháng khi ấu thơ.

Sau đó, tôi có nhiều dịp về thành phố mang tên bác Hồ, về thường xuyên hơn vì công việc. Vui mừng khi mắt chứng kiến cảnh thay da đổi thịt của chốn xưa. Những tòa cao ốc, những khách sạn sang trọng được thiết kế thật tuyệt vời. Những con đường nay rộng rãi, khang trang hơn, đẹp xinh hơn với những hàng cây cảnh làm tăng lên nét duyên.

Mọi sự đổi thay nhiều quá! Ở bến sông năm nào, chốn ấy trước là nơi chứa và cấp xăng dầu cho tàu thuyền, thì nay là bến Nhà Rồng. Bến Bạch Đằng giờ sạch đẹp và an ninh hơn, người ra vô thư giãn thật nhàn nhã… Nhưng dù dòng thời gian có làm cho vật đổi sao dời, thì những hoài niệm thuở ấu thời vẫn không hề phai nhạt trong tâm trí tôi.

Thấm thoát thế mà đã 35 năm, từ một thằng nhóc lon ton cầm cờ đỏ sao vàng đi đón bộ đội, nay tôi đã thành một người trung niên với sự nghiệp đã ổn định. Song bao giờ cũng vậy, cứ mỗi lần về lại Sài Gòn, tôi thế nào cũng phải dong xe chạy một vòng qua những con đường xưa cũ: Đường Tôn Thất Thuyết có ngôi trường tiểu học, suốt năm năm tôi đã đều đặn ra vào nơi ấy; đường Nguyễn Tất Thành với trường Nguyễn Trãi thân thương; đường Tôn Đản, nơi có ngôi nhà của cô giáo tôi yêu kính nhất hồi tiểu học. Rồi cầu Tân Thuận, chợ Xóm Chiếu, bến đò Thủ Thiêm, tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo uy nghi…

Tôi đi trong hồi ức, đi trong niềm rung động tự đáy lòng mình, đi để được ngoảnh mặt nhìn lại tuổi thơ. Đường phố Sài Gòn vốn náo nhiệt, thế mà mỗi lần được đi như thế, tôi nghe tâm hồn mình thanh thản đến lạ lùng, tự dưng tôi thấy mình nhỏ bé lại như cái ngày nào.

Dù nay không còn được sống tại Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh nữa, nhưng tôi vẫn cứ tự hào vì mình đã từng là thị dân có một phần quãng đời trong nơi ấy, và còn hãnh diện là người công dân được đón giải phóng quân vào thành đô trong biến cố của lịch sử ngày 30-4-1975.

Sơn Khê

Một quyết định lịch sử của ba tôi

(NLĐO) – Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi… chưa có mặt trên đời. Nhưng câu chuyện ba tôi kể lại về ngày 30-4 của ông thật ly kỳ. Thú thật, lúc đó nếu ba tôi không kịp suy nghĩ lại thì tôi cũng vĩnh viễn không có dịp kể cho các bạn nghe câu chuyện này.

Ba tôi là thợ may có tiếng ở đất Gia Định (quận Bình Thạnh bây giờ) nhưng ông bị bắt quân dịch và bất đắc dĩ trở thành… lính ngụy. Từ nhỏ đến lớn, ông chuyên cầm kim chỉ, nay bị buộc cầm súng đúng là như 1 cực hình.

Ông kể: “Nghe nhiều người chỉ bảo, ba lấy ống tiêm bơm… nước mắm vào rồi chích ngón chân cho…thúi luôn. Làm vậy để không bị đưa ra chiến trận. Nhưng bao nhiêu đó chưa đủ, ba đành phải nhờ người “đút lót” mới được làm lính kiểng đóng ở Long An”.

Trốn chạy khỏi Sài Gòn

Trước giải phóng 2,3 ngày, ba tôi vẫn ở trại lính Long An. Ông sốt ruột, lo lắng cho vợ con bơ vơ ở đất Sài Gòn đang ngóng đợi mình. Một tay đại tá ngụy ở trại thấy ba tôi hiền lành nên thương và cho ông 1 suất… di tản sang Mỹ. “Lúc đó, ba chẳng biết chọn lựa ra sao. Bụng thì không hề muốn đi xa vợ con nhưng ở lại liệu có bị…bắn hay không? Cuối cùng vợ con thắng Mỹ: về nhà dù có phải…chết”, ba tôi hạ quyết tâm như vậy.

Ngoài đường thì hỗn tạp tùm lum, xe cộ chạy tứ tán chẳng tìm được chiếc nào, ông đành… lội bộ về Sài Gòn. Sợ bị quân giải phóng phát hiện, đi được vài bước ông vội trút bỏ bộ đồ lính. Nhưng mặc đồ phong phanh cũng không ổn, ba tôi tắp đại nhà dân xin…quần áo!

Quân ngụy vứt bỏ quần áo đầy đường để trốn chạy hoặc tìm về gia đình

Đường từ Long An về Sài Gòn không xa, nhưng ba tôi đi 2 ngày mới tới vì vừa cuốc bộ vừa tránh né sợ bị phát hiện là lính ngụy.

“Đến khi đặt chân vô nhà, ba đuối quá trời nhưng nhìn thấy mấy mẹ con còn đầy đủ thì mừng muốn khóc luôn”, ông kể.

35 năm trôi qua, nhà tôi được “bổ sung” 3 anh em nữa, trong đó có tôi. Ba tôi trở lại nghề thợ may ngay sau khi học tập cải tạo 3 tháng. Công việc làm ăn cũng thăng trầm như mọi người, nhưng từ nghề may của ông mấy anh em tôi được học hành đàng hoàng, công ăn việc làm tốt đẹp, thành gia lập thất…

Lính ngụy ra trình diện ngày giải phóng

Ba tôi vừa qua đời sau cơn bạo bệnh trước ngày 30-4-2010. Dù không kịp mừng 35 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhưng tôi biết chắc chắn đó mãi mãi là ngày lịch sử của ông. Bởi quyết định ở lại của ông là không sai lầm vì những gì mà ông có được không phải là cảnh trả thù, tù đày mà là một cuộc sống yên bình, một mái ấm gia đình hạnh phúc…

Anh Thanh (Bình Thạnh)

Cuộc hành quân cuối cùng

Tác giả loạt bài này là người trực tiếp tham gia phong trào học sinh, sinh viên; phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn. Những ngày tháng 4 cách nay 34 năm, anh đã có mặt trong cánh quân từ đồng bằng Tây Nam Bộ tiến về giải phóng Sài Gòn và ghi lại những kỷ niệm không thể nào quên trong thời khắc hào hùng ấy

Cuối năm 1974, dù chưa nhận được thư chỉ đạo của Thành đoàn  Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định nhưng dựa vào chuyển biến của tình hình chiến trường, chúng tôi nhận định: Có lẽ sắp dời căn cứ về hướng tiếp cận Sài Gòn…

Và nhận định của chúng tôi đã chính xác. Ngay sau đó, Thành đoàn chỉ đạo chúng tôi về xây dựng căn cứ tại xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang); mở đường liên lạc với Sài Gòn qua ngã ba Trung Lương, Quốc lộ 4.

Tác giả Hoàng Đôn Nhật Tân trên đường phố Sài Gòn (ảnh chụp vào tháng 3-1968, do tác giả cung cấp)

Giã từ Đồng Tháp

Một năm ở giữa Đồng Tháp mênh mông này, chúng tôi có nhiều ấn tượng và tình cảm sâu đậm, khó quên. Nhớ lắm những ngày đi công tác xuyên qua những cánh rừng thơm ngát hương tràm, những đêm trăng sáng lội bì bõm giữa đồng nước giăng câu, đặt lợp, bẫy chuột.

Nhớ lắm những ngày xóm làng rộn ràng vào chiến dịch bứt phá đồn bót, nam nữ hăng hái chuẩn bị xuồng ghe đi dân công tải đạn, cáng thương, những buổi “truy điệu sống” cho những người cảm tử bên cạnh quan tài và những huyệt mộ đào sẵn bên kinh Xáng Phèn.

Nhớ những đêm thao thức nghe tiếng ghe máy tấp nập chở hàng hậu cần từ biên giới đổ về chuẩn bị cho chiến dịch. Nhớ các chiến sĩ trẻ phía Bắc mắc võng ngủ hồn nhiên bên bờ rạch sau đêm vây đồn giặc, không quen bắt cá mò tôm chỉ đi vớt ốc xào với lục bình non và rau muống đồng rồi than “miền Nam tôm cá đầy đồng” sao tìm không thấy!

Nhớ những người dân Đồng Tháp giúp đỡ cho chúng tôi từ việc xây dựng căn cứ cho đến các chuyến công tác giao liên hiểm nguy như chị Năm Ne, gia đình chú Bảy Hữu, gia đình anh Tám Lé, vợ chồng anh Ba Quang và những cán bộ địa phương như Tám Chí Công – Bí thư Huyện ủy, anh Nhon, anh Minh Tâm – Xã ủy Mỹ Long, anh Năm Đinh – Bí thư xã An Thới Trung (huyện Cái Bè – Tiền Giang) chị Năm Mai, chú Năm Hiền – cán bộ tỉnh…

Nhớ những đêm phối hợp với du kích qua lộ 30 sang tận xóm dân trù phú bên bờ sông Cửu Long, đi qua những vườn ổi chín trĩu quả, sáng về chưa đến nhà mệt quá nằm ngủ lăn lóc bên gốc cây tràm, cây gáo.

Nhớ bác Trần Văn Ngọc (tức Út Xệ) những ngày giặc mở cuộc càn, bác phải dẫn trâu đi lánh ở đồng trên không quên nhắc nhở: “Tụi Sư đoàn 9 vô đông hết biết, coi chừng bể gáo nghe mấy con”. Khi có chút cá tôm gì ngon bác cũng kêu chúng tôi qua ăn, hễ từ chối thì bác rầy: “Tao như vầy mà không nuôi nổi tụi bây sao?”.
Nhớ ngày đoàn giã từ Đồng Tháp, bà con quyến luyến hỏi đi đâu, chúng tôi phải nói là đơn vị gọi lên biên giới. Những khi đoàn xuất phát, bà con hai bên kinh đều thấy chúng tôi đi theo kinh Ngang về kinh Nguyễn Văn Tiếp thuộc huyện Cái Bè. Như vậy là “đi xuống” chứ không phải “đi lên”.

Nhân dân miền Tây Nam Bộ đón chào quân giải phóng trong những ngày tháng 4-1975. Ảnh: Tư liệu

Thắng lợi gần kề

Ai có sống trong vùng giải phóng trong những ngày tháng đó mới thấy thắng lợi đã gần kề. Vùng giải phóng mở ra thênh thang, những vùng oanh kích tự do, vắng bóng người, nay có dân về xây nhà sinh sống đông vui, nhiều đoạn lộ đá được phá ngang thành rạch, cứ vậy mà xuồng vượt qua.

Chúng tôi qua một năm “lặn hụp” giữa Đồng Tháp như trở nên quen thuộc với vùng sông nước này… Tám người, 3 chiếc xuồng bơi ào ào như lướt trên mặt nước.

Nhiều kỷ niệm trong chuyến hành quân này. Dừng chân trạm giao liên xã Hội Cư (huyện Cái Bè), đêm giao thừa, bà con trong xóm tặng cho trạm giao liên 20 con vịt. Trạm chỉ còn một giao liên trực, thế là anh giao liên mời chúng tôi nhậu gỏi vịt và ăn cháo vịt.

Anh tuyên bố: “Anh em mình gặp nhau rồi không biết dịp nào gặp lại, không uống thật tình thì mai không dẫn đi, nếu ai là thương binh thì có chế độ chính sách bồi dưỡng thêm ly nữa, Tết nhứt mà!”. Thế là anh em cũng phải ráng theo…

Chúng tôi dừng chân qua đêm ở trạm giao liên khác, trong ba lô có sẵn bó cần câu. Thế là đêm đó tôi đi giăng câu, mồi cá sặc móc vào lưỡi câu, vẹt rau rác thả cho mồi nằm chỗ trống trải, thế là đêm đi thăm câu là mười cần dính lươn hết chín, bắt được con lươn to mập như ổ bánh mì, da có bông, anh em bảo nó “sắp hóa chồn”, “sắp biết nói”.

Thế là nhờ giao liên mua dừa làm món lươn um, mời giao liên “nhập tiệc”. Anh giao liên bảo: “Tôi dân xứ này mà kiểu câu lươn như các anh chưa thấy bao giờ”.

Đi ngang qua vùng có kinh đào, Út Đậm, em út của đoàn, biểu diễn tài nghệ nơm cá. Tư Trung và Hai An cầm dây cột cõng, giữa dây có cột 4 đoạn gỗ cây gáo dài độ 3 tấc.

Chúng tôi đi dọc theo bờ kinh, khúc gáo chìm sát đáy kinh, cá lóc thấy động chúi xuống sình, nổi bong bóng. Út Đậm nơm vài lần là trúng cá lóc ngay. Hai An tốt nghiệp cán sự kỹ thuật, còn Tư Trung ở trong gia đình có truyền thống nghề dệt ở ngã tư Bảy Hiền chẳng liên quan gì đến việc bắt cá, mò tôm.

Dân địa phương thấy vậy cũng nể hỏi: “Mấy anh bắt cá kiểu gì lạ vậy?”, Út Đậm giải thích: “Quê em ở biên giới Campuchia chuyên bắt kiểu này”. Hứng chí, Út Đậm còn “nổ” thêm: “Khi kéo cây gáo dưới đáy kinh, cây gáo gõ trúng đầu cá lóc, cá lóc sẽ bất tỉnh, cứ vậy mà nơm là dính”…

Nhớ hai lần vượt lộ 4, từ Cái Bè sang Nam Cai Lậy rồi Nam Cai Lậy sang huyện Châu Thành. Giao liên hai bên lộ liên lạc với nhau bằng máy truyền tin PRC 25 của Mỹ. Trước nay hành quân vượt lộ bao giờ cũng khó khăn, có khi phải lót ni lông trên mặt lộ để tránh lưu lại dấu chân. Lần này thì khác, buổi chiều, cả đoàn vượt lộ theo giao liên tiếp cận lộ 4, sau hàng rào dâm bụt thấy xe đò và cả xe tăng của địch chạy trên đường. Đến khi trời sẫm tối là cả đoàn lên mặt lộ. Trong lúc chờ giao liên bàn giao thư từ, chúng tôi đi tới đi lui cho… sướng cái chân vì lâu rồi toàn là đi dưới sình.

Kỳ tới: Sài Gòn ơi, ta đã về đây!

Hoàng Đôn Nhật Tân

Sài Gòn ơi, ta đã về đây!

Sau nhiều ngày hành quân thiếu ngủ căng thẳng mệt mỏi, chiến thắng đến như giấc mơ khiến ai cũng lửng lửng, lơ lơ…

Sau hơn 10 ngày bơi xuồng rồi lội sình, chúng tôi tới được xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Chúng tôi không ngờ rằng đến tháng 4-1975, đây là điểm hội quân của Thành đoàn Sài Gòn – Gia Định cho chiến dịch lịch sử: Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Nhân dân Sài Gòn xuống đường mừng chiến thắng. Ảnh: T. Liệu

Tam Hiệp, điểm hẹn

Đầu tháng 4-1975, tôi được Thành đoàn phân công cùng với Ba Kiệt (Nguyễn Văn Minh), Tư Minh và Sáu Hùng đi xây dựng căn cứ ở xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Định Tường; tìm thêm đường ra ngã ba Trung Lương để nối liên lạc với Sài Gòn.

Đây là vùng trọng yếu, địch đánh phá ác liệt, sau Hiệp định Paris, tình hình có khá lên. Nhiều đồn bót trong tình thế “trung lập”, không càn quét lấn sâu… Tuy nhiên, ở đây không có vườn cây rậm rạp, chỉ có từng lõm vườn tạp bỏ hoang mà chi chít hố bom pháo. Khắp vùng toàn nước lợ, không uống được, chỉ đợi chiều xuống, giặc không càn bố, ra ngoài dân xin nước ngọt để uống.

Những ngày giữa tháng 4-1975, tin tức chiến sự làm cho chúng tôi bồn chồn như lửa đốt, nhiều đơn vị đóng chung quanh cũng lặng lẽ ra đi không nói lời từ giã. Ngày 24-4-1975, giao liên mang thư của anh Nguyễn Chơn Trung (Sáu Quang) với mấy chữ vỏn vẹn: “Sáu Triều về gấp”.

Thế là chúng tôi tức tốc “dọn gánh” trở về Tam Hiệp. Đến trạm giao liên không đúng chuyến vượt lộ 4 định kỳ, may nhờ có đoàn hậu cần tỉnh tự lực vượt lộ không cần giao liên, tôi và anh em “bám” theo.

Hai bên lộ đông nghịt người chuẩn bị qua lộ. Căn cứ xã Tam Hiệp mà chúng tôi “dọn ổ” từ đầu năm 1975 trở thành điểm dừng chân cuối cùng của Thành đoàn trước khi tiến vào Sài Gòn.

Tiến về Sài Gòn

Thực ra, lúc đó tôi và mọi người chỉ biết đi là đi, người đi sau đi theo người đi trước, không ai hỏi đi đâu, chỉ biết là đang tiến về Sài Gòn, ai không đi nổi thì để lại phía sau, có giao liên rước.

Quân ta hàng hàng lớp lớp, ai cũng trang bị tận răng, nào lực lượng Dân – Chính – Đảng, nào bộ đội chủ lực của Sư đoàn 10 xếp thành hàng dài vắt ngang cả cánh đồng. Khổ nhất là không có nước uống, bởi chỉ toàn nước phèn, muốn uống thì phải lọc qua một lớp tro than củi.

Cũng lạ là giữa đồng trống mênh mông cỏ năng có những hố bom nước phèn, lại có hố bom nước ngọt, thế là quân ta xuống lấy nước, đông quá nên tới phiên người đến sau thì nước nổi sình, vậy mà cũng phải uống, không thấy ai đau bụng, tiêu chảy gì.

Tới bờ sông Vàm Cỏ Đông thì dừng lại. Mấy đêm liền, tôi cùng với anh Ba Tôn và anh Bảy Nghĩa đi ra ấp chiến lược để nối liên lạc với phong trào ở Sài Gòn.

Tôi nhớ người tôi gặp từ Sài Gòn ra để chuyển thư chỉ đạo khởi nghĩa của Thành đoàn là Nguyễn Thị Lương Ngọc (Chín Thảo), nữ sinh Trường Đức Trí. Cô nữ sinh nhỏ nhắn và dễ thương này chỉ được hướng dẫn điểm hẹn gặp là nơi “có 3 cây dừa cạnh ngôi mả đá” nhưng khi vào xóm thấy ở đâu cũng có cây dừa và mả đá!

Rồi tiếp tục hành quân tiến về Sài Gòn, tới  một nơi thuộc vùng giáp ranh giữa Long An và Sài Gòn. Tôi nhớ tối hôm đó, nhìn phía sân bay Tân Sơn Nhất thấy nhấp nháy ánh đèn máy bay trực thăng di tản như đàn ong vỡ tổ, lòng trào dâng cảm xúc chiến thắng.

Đoàn giao liên của Trung ương Cục Miền Nam tiến về Sài Gòn sáng 30-4-1975. Bìa phải là bà Nguyễn Thị Cúc – nguyên Chủ tịch Công đoàn Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn. Ảnh: H.Đ.N.Tân

Toàn thắng đã về ta

Trưa 30-4, Bộ Chỉ huy ra lệnh tập trung lấy gạo hành quân tiếp, một số đoàn tập trung cạnh hố bom để chuẩn bị đi thì bỗng tất cả hô vang: “Việt Nam toàn thắng! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Mọi người tung mũ vải lên trời. Lúc đó nghe trên đài phát thanh đang hát Nối vòng tay lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Thế là Bộ Chỉ huy ra lệnh: Không ai được vứt ruột tượng đựng gạo và các loại quân trang vì phải cảnh giác mọi diễn biến, kinh nghiệm chiến dịch Tết Mậu Thân cho thấy ai cũng tưởng toàn thắng, vứt nồi niêu rồi chạy ra không có cái gì để nấu.

Bộ Chỉ huy ra lệnh tất cả đoàn quân xuống rạch rửa tay, rửa mặt sạch sẽ, thay quần áo mới, tất cả giương cao cờ giải phóng. Bộ Chỉ huy giải thích: “Chúng ta chuẩn bị vào tiếp quản một TP hiện đại, văn minh”.

Thế là chúng tôi tiến về Bà Hom lúc 16 giờ. Đến Bà Hom có đoàn xe từ trung tâm TP ra đón. Đúng là đi với Bộ Chỉ huy tiền phương có khác, người hướng dẫn đoàn xe là đồng chí Sáu Tống phụ trách giao liên Thành ủy Sài Gòn – Gia Định mặc áo bốn túi, đội chiếc mũ nỉ màu nâu giống như ông chủ xe đò.

Nhóm Thành đoàn đi trên một chiếc xe tải nhỏ tiến về Trường Trung học Pétrus Ký (nay là Trường Lê Hồng Phong). Bà con TP tụ tập hai bên đường chào đón quân giải phóng. Nhiều cơ quan chính quyền Sài Gòn không ai quản lý, bị nhiều người vào “hôi của” gây cảnh lộn xộn trên đường phố.

Đoàn Bộ Chỉ huy tiền phương đến Trường Pétrus Ký. Tôi nhớ đồng chí Mai Chí Thọ (Năm Xuân) bước vào trường, có một đại diện trường đứng sẵn trước cửa trường tiếp đón. Cả hai bắt tay nhau, rồi nhẹ nhàng đi song đôi như hai thầy giáo.

Tôi được Thành đoàn báo là thuộc “biên chế” mũi nhọn quận 11 của anh Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) nhưng về Tam Hiệp trễ nên đoàn anh Năm Nghị đã hành quân. Tôi nhập vào Bộ Chỉ huy tiền phương cùng các anh Nguyễn Chơn Trung, Lê Công Giàu (Út Mới), Trần Văn Khánh (Sáu Khôi), Phan Ngọc Diệu (Tư Hà). Bộ Chỉ huy tiền phương do đồng chí Mai Chí Thọ lãnh đạo. Đoàn không thể đi theo Quốc lộ 4 hay hành quân chính diện vào Sài Gòn mà phải đi ngược về phía biên giới, tức ngã ba Bình Thành thuộc khu Mỏ Vẹt tiếp giáp Long An với Campuchia rồi vượt Đồng Tháp Mười vào sông Vàm Cỏ Đông thuộc địa phận Đức Hòa, Đức Huệ (Long An). Từ đây, chúng tôi đã có thể nhìn thấy vầng sáng Sài Gòn – Hòn ngọc Viễn Đông.

Kỳ tới: Đoàn tụ

Hoàng Đôn Nhật Tân