Ngày 29/4/1975: Tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận

(VOV) – Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu  

Ngày 29/4/1975, tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận, ngăn chặn và tiêu diệt các tập đoàn chủ lực bên ngoài, thọc sâu vào bên trong, cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn quan trong ở vùng ven, làm tê liệt hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất.

Bộ đội Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất (Ảnh: Báo ảnh Việt Nam)

Ở hướng đông, ta tiếp tục phát triển tiến công căn cứ Nước Trong, nam căn cứ Long Bình, đánh chiếm phần lớn thị xã Vũng Tàu. Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến tới cầu xa lộ Đồng Nai.

Quân đoàn 4 đánh chiếm căn cứ Yên Thế, tranh chấp Hố Nai, sân bay Biên Hòa.

Ở hướng bắc và tây bắc, Quân đoàn 1 tiến tới Bắc Lái Thiêu, Quân đoàn 3 chiếm căn cứ Đông Dù, Trảng Bài phát triển tiến công trại huấn luyện Quang Trung, Bà Quẹo.

Ở hướng tây nam và nam, Đoàn 232 chiếm chi khu Đa Huệ thị xã Hậu Nghĩa, có đơn vị tiến vào được Bà Quẹo, Bà Lác.

Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

Advertisements

Hiệp định Paris về Việt Nam, thắng lợi bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Một phiên họp toàn thể tại Hội nghị Paris.

ND – Trong 21 năm ròng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta đã trải qua biết bao gian nan thử thách, nhưng cứ mỗi lần vượt qua lại là một lần giành thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc.

Ba thắng lợi mang tính bước ngoặt đi lên của cuộc kháng chiến đó là:

Một, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Hai, việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27-1-1973.

Ba, Cuộc tổng tiến công và đại thắng lợi mùa Xuân năm 1975.

Tuy khác nhau về hoàn cảnh, tính chất và mức độ, các thắng lợi đó đều có cùng một nét chung rất giống nhau. Thắng lợi nào cũng là kết quả sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến đấu, và thắng lợi trước bao giờ cũng tạo ra tiền đề và điều kiện cho thắng lợi sau, thắng lợi sau lại mở đường cho thắng lợi sau lớn hơn để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thắng lợi của việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam là thành quả cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân ta suốt 18 năm trước đó, đã đánh bại liên tiếp bốn chiến lược chiến tranh của Mỹ: chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh “Việt Nam hóa”. Thắng lợi đó không chỉ khép lại giai đoạn Mỹ hóa cao độ chiến tranh bằng việc buộc chúng phải rút toàn bộ quân đội và vũ khí ra khỏi miền nam, cam kết không dính líu trở lại mà còn mở ra giai đoạn mới với những thắng lợi lừng lẫy hơn, oanh liệt hơn: đánh sập toàn bộ chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng hoàn toàn miền nam và thống nhất đất nước.

Kỷ niệm 35 năm Ngày ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, chúng ta thử nhìn lại sự kiện lịch sử ấy như tất cả những gì đã từng diễn ra.

I- Tình hình dẫn tới Hội nghị Paris

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền nam, cả về quân sự và chính trị, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã phá sản – ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ðể hòng cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ “chiến tranh đặc biệt” chuyển thành “chiến tranh cục bộ”, thực chất là Mỹ hóa cuộc chiến tranh. Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền nam; mặt khác, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền bắc.

Từ đầu năm 1965 đến cuối năm 1967, chúng đã đổ vào miền nam từ 18.000 quân lên 480.000 quân. Mục tiêu chiến lược của “chiến tranh cục bộ” là đánh bại cách mạng miền nam trong vòng 25 – 30 tháng để đến cuối năm 1967, Mỹ có thể ca khúc khải hoàn và rút hết quân về nước. Ðồng thời với quá trình leo thang chiến tranh, chính quyền Johnson rêu rao cái gọi là cuộc vận động “ngoại giao hòa bình”, đòi “miền bắc đình chỉ thâm nhập người và dụng cụ chiến tranh vào miền nam” và “đàm phán không điều kiện” với Mỹ.

Ðảng ta nhận định: Mỹ buộc phải Mỹ hóa cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược. Mặc dù Mỹ đưa vào miền nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền bắc, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch.

Cuộc thử lửa trong ba năm liền 1965, 1966 và 1967 cho thấy nhận định của ta là đúng. Ðịch càng leo thang chiến tranh càng bị giáng trả mãnh liệt. Ðã bế tắc về mặt quân sự, Mỹ cũng vấp phải khó khăn lớn về mặt ngoại giao. Ta kiên quyết bác bỏ thủ đoạn “ngoại giao hòa bình” giả hiệu và cái gọi là “đàm phán không điều kiện” của chúng, đòi Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền bắc. Ðiều kiện tiên quyết của ta là: Chỉ khi nào Mỹ chấm dứt ném bom, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới nói chuyện của Mỹ.

Cuối năm 1967 đầu năm 1968, giữa lúc Mỹ còn đang chuẩn bị cho cuộc tiến công mùa khô thứ ba với 120 vạn quân (trong đó có 50 vạn quân Mỹ) và khoác lác rằng “chiến thắng đã ở trong tầm tay” thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân và dân miền nam nổ ra như sấm vang, chớp giật. Cuộc tổng tiến công đã đánh thẳng vào các thành thị và trung tâm đầu não chỉ huy cuộc chiến tranh của Mỹ- ngụy, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về người và phương tiện chiến tranh. Dư luận Mỹ cho rằng, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, quân đội Mỹ đứng trước nguy cơ bị thua trong một cuộc chiến tranh (!). Thất bại đó đã được Tổng thống Johnson thừa nhận trong bài phát biểu trên Ðài Truyền hình Mỹ đưa 31-3-1968. Ông ta tuyên bố đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, cam kết “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa.

Thế là nhân dân ta đã giành được thắng lợi quyết định. Ý chí xâm lược của Mỹ đã bị lung lay. Trong tình thế thay đổi có lợi cho ta, bằng một đòn tiến công ngoại giao mới, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ.

II- Cuộc “hòa đàm thế kỷ”

Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bắt đầu tại Paris và gần sáu tháng sau đã đi đến thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31-10-1968, đồng thời thỏa thuận về việc triệu tập tại Paris một hội nghị để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Ngày 25-1-1969, Hội nghị Paris về Việt Nam (bốn bên) họp phiên đầu tiên, đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam: đọ sức trên mặt trận ngoại giao đồng thời với đọ sức trên chiến trường; với Việt Nam là tạo cục diện “vừa đánh vừa đàm”. Hội nghị Paris về Việt Nam là mũi nhọn và tiêu điểm của mặt trận ngoại giao của ta thời chống Mỹ, cứu nước.

Thế giới gọi Hội nghị Paris về Việt Nam là “cuộc hòa đàm thế kỷ”. Bởi đó là cuộc đàm phán để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20, cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước, nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, giữa hòa bình và chiến tranh.

Cuộc đấu tranh này tiêu biểu cho cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao đối lập nhau. Một bên là nền ngoại giao cách mạng, trưởng thành qua đấu tranh thực tiễn của hai cuộc kháng chiến cứu nước, dựa vào chính nghĩa và sức mạnh của dân tộc, kế thừa truyền thống ngoại giao của dân tộc mấy nghìn năm văn hiến. Một bên là nền ngoại giao của một đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực dồi dào, có quan hệ quốc tế rộng, nhiều kinh nghiệm, mưu mô, thủ đoạn và luôn luôn muốn thương lượng trên thế mạnh.

Cả ta và đối phương đều đến Hội nghị với những mục đích và đòi hỏi đối lập nhau. Ta đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền nam… Mỹ nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn; có nghĩa là tiếp tục duy trì chế độ thực dân mới ở miền nam, chia cắt lâu dài Việt Nam.

Chính vì những đòi hỏi khác nhau đó mà đàm phán vừa mở ra mấy tháng đã dẫm chân tại chỗ. Ðể khai thông, ngày 8-5-1969, Ðoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam đưa ra Giải pháp toàn bộ 10 điểm về việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Ðáp lại, ngày 14-5-1969, Tổng thống Mỹ R.Nixon, qua diễn văn đọc trên truyền hình Mỹ, đã đưa ra 8 điểm của giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Giải pháp của hai bên vẫn đối chọi nhau như nước với lửa.

Ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam thành lập. Ngày 8-6, Tổng thống Nixon công bố chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, chủ trương tìm một con đường khác chứ không phải thông qua đàm phán để rút được quân Mỹ ra khỏi chiến tranh mà vẫn giữ được chính quyền và quân đội Sài Gòn.

Thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ triển khai một kế hoạch toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế, trong đó quan trọng nhất là chuyển giao vũ khí hiện đại cho quân đội Sài Gòn, củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ngăn chặn mọi âm mưu đảo chính. Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào ngăn chặn tiếp tế của miền bắc vào miền nam, cô lập lực lượng cách mạng miền nam từ bên ngoài. Về ngoại giao, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới trong khuôn khổ “học thuyết Nixon”, tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô-Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo điều kiện có lợi cho Mỹ.

Chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” đã thật sự đẩy cuộc đàm phán Paris vào chỗ bế tắc. Những năm 1969 – 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường cũng như tại bàn đàm phán.

Ngoại giao của ta lúc này vẫn kiên trì vận dụng sách lược “vừa đánh vừa đàm”, kết hợp đàm phán với vận động dư luận thế giới, phối hợp với chiến trường để củng cố thế trận đàm phán, vận động ba nhân tố: chiến trường, hậu phương quốc tế và đàm phán trực tiếp với Mỹ để cải thiện so sánh lực lượng, tạo chuyển biến có lợi cho cuộc chiến tranh cách mạng.

Tại cuộc đàm phán Paris, ta vạch rõ: “Việt Nam hóa” không phải là giải pháp cho cuộc chiến tranh mà là kéo dài chiến tranh. Về việc Nixon công bố đợt rút quân đầu tiên gần 25.000 quân Mỹ vào tháng 6-1969, ta lên án Mỹ “rút quân nhỏ giọt” và đòi họ rút nhanh, rút hết. Ðến mùa thu năm 1970, khi Mỹ đã đơn phương rút 140.000 quân, Chính quyền Cách mạng lâm thời đưa ra “tám điểm nói rõ thêm”, trong đó đòi Hoa Kỳ định thời hạn rút hết quân Mỹ trước 30-6-1971 và lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu – Kỳ – Khiêm. Ðến giữa năm 1971, sau khi Mỹ đã rút được 300.000 quân, tại cuộc gặp riêng ngày 20-6-1971 giữa Lê Ðức Thọ và Kissinger, phía Việt Nam đã đưa ra “Ðề nghị hòa bình 9 điểm” và ngày 1-7-1971, Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa “Ðề nghị hòa bình 7 điểm”. Hai đề nghị đó có cùng nội dung: Ðòi Mỹ định thời hạn rút hết quân trước ngày 31-12-1971 và lập ở Sài Gòn chính quyền không có Thiệu. Ðề nghị 7 điểm còn nêu rõ: “Thời hạn rút hết quân Mỹ cũng là thời hạn thả hết tù binh”, một vấn đề mà dư luận Mỹ đặc biệt quan tâm thời bấy giờ. Sau đó, còn có những đề nghị khác của cả hai bên.

Ðàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận được thất bại của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhất là sau thắng lợi của ta ở Ðường 9 – Nam Lào và trong chiến dịch Ðông Xuân 1971 – 1972, giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn.

Một sự kiện đặc biệt quan trọng đã diễn ra ngày 8-10-1972. Ngày đó, trong một phiên họp tại diễn đàn đàm phán bí mật, cố vấn đặc biệt Lê Ðức Thọ đã trao cho H.Kissinger bản dự thảo Hiệp định về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, thực chất là giải quyết vấn đề ngừng bắn, Mỹ rút quân, trao trả tù binh hai bên còn về chính trị thì giữ nguyên hiện trạng. Bản dự thảo đó đã đặt cơ sở cho một văn bản được thỏa thuận sau đó gọi là “Hiệp định 20 tháng Mười năm 1972”.

Nhưng rồi do sự lật lọng của phía Mỹ và sự phá hoại dữ dội của chính quyền Sài Gòn, phải tiếp tục trải qua một thời gian đàm phán gay go nữa, nhất là sau trận “Ðiện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới buộc phải chấp nhận ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” vào ngày 27-1-1973. Hiệp định này được sự công nhận và bảo đảm của một Hội nghị quốc tế về Việt Nam, thông qua Ðịnh ước quốc tế ký ngày 2-3-1973 cũng tại Paris.

Hội nghị Paris về Việt Nam, nếu kể từ cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ (tháng 5-1968) cho đến khi ký được Hiệp định đã kéo dài trong 4 năm 9 tháng, qua 202 phiên họp công khai và 24 phiên họp riêng.

III- Hiệp định Paris với đại thắng mùa Xuân 1975

Nội dung cơ bản của Hiệp định Paris và các nghị định thư kèm theo là:

– Mỹ và các nước khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

– Chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Mỹ chống lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Rút hết quân Mỹ và đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền nam. Không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền nam Việt Nam, để nhân dân miền nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình.

– Hai bên trao trả tù binh và những người bị bắt trong chiến tranh.

– Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội và hai vùng kiểm soát.

– Mỹ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam.

Hiệp định Paris về Việt Nam đáp ứng những yêu cầu cơ bản, có tính nguyên tắc của Việt Nam đã nêu lên trong đàm phán.

Việc ký Hiệp định là thắng lợi tổng hợp của cuộc chiến tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao; là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại.

Với việc ký Hiệp định Paris, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, tạo ra so sánh lực lượng mới, thuận lợi cho việc thực hiện tiếp mục tiêu “đánh cho ngụy nhào” hoàn thành giải phóng miền nam. Ðiều chủ yếu nhất trong các điều khoản về quân sự là Mỹ phải rút quân nhưng Việt Nam vẫn giữ nguyên lực lượng chính trị và vũ trang ở miền nam.

Sau gần 20 năm xâm lược và sa lầy ở Việt Nam, ngày 29-3-1973, đội quân viễn chinh Mỹ đã phải lặng lẽ cuốn cờ về nước, không có khúc khải hoàn như người Mỹ cầm đầu Nhà trắng và Lầu năm góc từng mơ tưởng. Ðây là lần đầu tiên từ hơn một trăm năm, sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài đã chấm dứt trên đất nước ta.

Nếu như việc ký kết Hiệp định Paris là thắng lợi to lớn của nhân dân ta thì đó lại là thất bại nặng nề của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chính vì vậy, ta kiên quyết đấu tranh để Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh, trước hết là Mỹ phải thực hiện các điều khoản về ngừng bắn, rút hết quân và chấm dứt dính líu. Ta cũng đấu tranh để chính quyền Sài Gòn nối lại bàn đàm phán với Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị La Xen Xanh Clu để giải quyết các vấn đề chính trị ở miền nam. Còn Mỹ và chính quyền Sài Gòn tuy buộc phải ký kết Hiệp định nhưng vẫn tìm mọi cách phá hoại việc thi hành.

Mỹ rút hết quân nhưng vẫn tiếp tay cho chính quyền Sài Gòn tiếp tục các hành động chiến tranh, lấn chiếm các vùng giải phóng, mưu toan xóa bỏ thực tế ở miền nam đã được Hiệp định thừa nhận, đẩy lùi các lực lượng cách mạng, giành giật lại những gì chúng đã mất. Do đó, cuộc đấu tranh của nhân dân ta để thi hành Hiệp định Paris thực chất là cuộc đấu tranh để tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền nam đã tiếp diễn quyết liệt và kéo dài hơn hai năm nữa mới kết thúc được.

Tháng 6-1973, năm tháng sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tại Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương, Ðảng ta đã nhận định tình hình miền nam có thể phát triển theo hai khả năng: Một là, ta từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định. Hai là, xung đột quân sự ngày càng tăng cường và mở rộng, ta phải tiếp tục chiến tranh cách mạng một thời gian nữa để đánh bại Mỹ – ngụy, giành thắng lợi hoàn toàn.

Hội nghị chỉ rõ: Dù tình hình phát triển theo khả năng nào cũng đều phụ thuộc vào thực lực và sự đối phó của ta, và điều quyết định trước hết là cách mạng miền nam chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực, dựa vào sức mạnh chính trị và sức mạnh vũ trang của nhân dân, tận dụng và phát huy những nhân tố mới, thuận lợi mới do Hiệp định Paris đưa lại.

Thực tế tình hình miền nam đã diễn ra theo khả năng thứ hai.

Cuối năm 1973 đầu năm 1974, phối hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao, ta kiên quyết phản công và tiến công, đập tan những âm mưu và hành động lấn chiếm của địch, tạo được thế mạnh mới trên nhiều mặt: giành quyền chủ động trên khắp các chiến trường; củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ bắc vào nam; xây dựng các binh đoàn chủ lực cơ động ở rừng núi, cải thiện tình hình nông thôn ở đồng bằng. Ta cũng phát động được phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi trong các thành thị dưới khẩu hiệu “hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc”, đồng thời tiếp tục tranh thủ thêm được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Tháng 10-1974, Bộ Chính trị Trung ương Ðảng ta họp bàn nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước trong hai năm 1975 – 1976. Kết thúc đợt I của Hội nghị, Bộ Chính trị nhận định: “Ðây là thời cơ thuận lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ…” Bộ Chính trị quyết định: “Ngay từ giờ phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975, 1976”.

Tình hình phát triển hết sức nhanh chóng. Ba tháng sau, ngày 7-1-1975, kết thúc đợt II của Hội nghị, Bộ Chính trị nêu quyết tâm: “Tranh thủ thời cơ lớn, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975”.

Ngày 4-3-1975, Quân giải phóng mở đầu cuộc Tổng tiến công bằng chiến dịch Tây Nguyên; ngày 11-3, giải phóng Buôn Ma Thuột. Giữa tháng 4-1975, đại quân ta hình thành thế bao vây Sài Gòn. Ngày 16-4, Ủy ban quân lực Thượng nghị viện Mỹ bác bỏ viện trợ bổ sung cho Thiệu. Ngày 18-4, Xuân Lộc thất thủ, Tổng thống Pho ra lệnh di tản người Mỹ khỏi miền nam. Và ngày 23-4, Tổng thống Pho tuyên bố cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ. Thế là: “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản”!

Ngày 30-4-1975, với một cuộc tiến công và nổi dậy chưa từng có, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã đánh đổ toàn bộ quân đội và chính quyền Sài Gòn cùng chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã toàn thắng!

IV- Ý nghĩa quốc tế của Hiệp định

Thắng lợi của việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam không chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mà còn có ý nghĩa quốc tế to lớn.

Như sách “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000” (1) nhận định:

Hiệp định Paris 1973 phản ảnh được ở mức cao thắng lợi và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”.

Hiệp định Paris và việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Lào và Campuchia – giải phóng về Lào gần như đồng thời với Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 2-1973. Hiệp định Paris mở đường cho thắng lợi của Campuchia tháng 4-1975.

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra cục diện mới ở Ðông-Nam Á, quân đội Mỹ rút khỏi khu vực; khối SEATO giải tán; xu thế hòa bình, trung lập trong khu vực phát triển.

Từ Hội nghị Genève về Ðông Dương (1954) đến Hội nghị Paris về Việt Nam (1968 – 1973), ta có bước tiến lớn trên con đường xây dựng nền ngoại giao độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế. Ðó là một thành tựu nổi bật của ngoại giao ta trong Thời đại Hồ Chí Minh.

————————–

(1) Sách do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002.

Hà Đăng

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch phản kích thất bại

Binh lính ngụy bị bắt và giao nộp vũ khí

Ngày 13-3, hai trung đoàn 66 và 28 (Sư đoàn 10) từ Đức Lập hành quân đến Đông-Bắc thị xã Buôn Ma Thuột hỗ trợ các đơn vị bạn đánh địch phản kích. Trong ngày này, lực lượng ta đã đánh quân phản kích chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong khi đó, ở phía Bắc Tây Nguyên và trên chiến trường Trị-Thiên, Khu 5, bộ đội ta đẩy mạnh tác chiến phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, tạo thế chia cắt buộc Quân đoàn 2 ngụy phải phân tán lực lượng đối phó.

Sư đoàn 968 bộ binh đánh chiếm hai chốt địch ở Tây-Nam Pleiku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, pháo kích sân bay Cù Hanh, Kon Tum. Bộ đội địa phương Gia Lai và Kon Tum hoạt động mạnh ở Đông-Nam thị xã Pleiku. Sư đoàn 3 và trung đoàn 95 A chốt giữ các vị trí đã chiếm được Đường số 19, phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang và hướng Vườn Xoài.

Trung đoàn 25 bộ binh diệt một bộ phận quân địch từ Khánh Dương lên và tiếp tục chia cắt đường 21. Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 14 đặc công đánh chiếm một số ấp vùng ven, áp sát sân bay Nhơn Cơ (Quảng Đức).

Ở Trị-Thiên, lực lượng vũ trang gia tăng hoạt động tại vùng giáp ranh uy hiếp thành phố Huế từ phía Tây và Tây Bắc. Ở khu 5, Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 đã diệt chi khu quân sự Tiên Phước, chia cắt đường số 1, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ.

Thắng lợi lớn của ta ở Buôn Ma Thuột và hoạt động phối hợp ở các chiến trường khác đã làm địch lúng túng.

Q.A tổng hợp

sggp.org.vn

Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng

Tại mặt trận Tây Nguyên, sau nhiều ngày truy kích địch và giải phóng các tỉnh, ngày 24-3 được đánh dấu là ngày toàn thắng của chiến dịch Tây Nguyên. Khởi đầu chính thức từ ngày 4-3, bằng ba trận chiến then chốt (tấn công Buôn Ma Thuột; đánh địch phản kích; tiêu diệt địch tháo chạy trên đường số 7) lực lượng ta đã đánh tan Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, các lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung bộ.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Tại Quảng Nam, sau hơn một ngày tấn công, ta đã giải phóng thị xã Tam Kỳ vào lúc 10 giờ 30 ngày 24-3-1975. Tại Quảng Ngãi, 7 giờ sáng quân ta tiến đánh thị xã. Sau một ngày chiến đấu, địch bỏ chạy cùng với một đoàn xe trên 200 chiếc chạy theo đường số 1 về hướng Chu Lai.

Trước đó, lực lượng ta đã tiến công các vị trí phòng thủ của liên đoàn 11 biệt động quân, cắt đường số 1, đoạn từ Sơn Tịnh đi Bình Sơn, chặn đường rút về Chu Lai của địch. Địch lọt vào trận địa phục kích của ta đã thiệt hại nặng nề: 550 tên bị diệt, 3.500 tên bị bắt sống, 206 xe quân sự bị phá hủy.

Nhờ đó, ta đã uy hiếp thế phòng thủ của địch tại phía Nam Đà Nẵng. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lại phải kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng”. Nếu không giữ được Đà Nẵng thì phải cầm cự 1-2 tháng để bố trí lại thế phòng thủ chiến lược và di tản một triệu dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao ép buộc ta ngừng tấn công.

Vào ngày này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và khẳng định thời cơ chiến lược lớn đã đến. Bộ Chính trị quyết định: Hành động nhanh chóng, táo bạo bất ngờ đánh địch, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

N.T.H.H tổng hợp

sggp.org.vn

Chiến dịch 12 ngày đêm giải phóng Long Khánh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Đồng Nai đã kiên cường bám trụ, chiến đấu oanh liệt làm nên chiến thắng Xuân Lộc – Long Khánh tháng 4/1975 vang dội, đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

020512ngaydem1160Sau khi tỉnh lỵ Phước Long được giải phóng, đặc biệt là với thắng lợi của chiến dịch Buôn Ma Thuột (3/1975), Mỹ và chế độ tay sai Sài Gòn đã nhìn thấy trước mắt viễn cảnh sụp đổ. Để cứu vãn tình thế, với suy nghĩ “phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”, cuối tháng 3/1975, Mỹ – nguỵ quyết định xây dựng một phòng tuyến phòng ngự ở phía đông với Xuân Lộc làm tâm điểm. Tuyến phòng ngự này được xác định trên một chính diện khá rộng: từ Túc Trưng đến Dầu Giây- Thị xã Long Khánh – ngã ba Tân Phong (Quốc lộ I) và Tân Phong – Suối Râm – Núi Con Rắn (liên tỉnh lộ số 2), án ngự quốc lộ I, quốc lộ 20, liên tỉnh lộ 2 là vị trí quan trọng bảo vệ vùng ngoài khu liên hợp Long Bình, quân đoàn 3, sân bay Biên Hòa và cả sài Gòn ở phía Đông. Tại đây địch tập trung toàn bộ sư đoàn 18, 7 tiểu đoàn bảo an, trung đoàn 5 thiết giáp và 1500 nguỵ quyền, cảnh sát tại chỗ. Mục đích của Mỹ ngụy khi xây dựng phòng tuyến này là nhằm ngăn chận chủ lực quân giải phóng miền Nam, kéo dài sự tồn tại của chế độ tay sai, mong chờ sự can thiệp của Mỹ.

Trước tình hình đó, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng nhận định quân địch đã bị tổn thất nặng và đang rất hoang mang, thời cơ thực hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy để giải phóng miền Nam đã xuất hiện và quyết định dốc toàn lực giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Nắm chắc ý đồ của địch, đánh giá vị trí quan trọng của Xuân Lộc, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chỉ đạo : “Cần có kế hoạch tức khắc tập trung pháo lớn, phần nào xe tăng và bộ binh, nhân lúc địch hoang mang, diệt bọn bại binh mới chạy về, tiêu diệt một bộ phận sư đoàn 18, đánh chiếm Xuân Lộc, áp sát Biên Hòa. Khống chế được sân bay Biên Hòa thì không quân địch mất tác dụng, địch ở Sài Gòn sẽ hoang mang to”. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, Quân ủy, Bộ Tư lệnh miền Nam quyết định tập trung lực lượng gồm Quân đoàn 4 (có sư đoàn 1, sư đoàn 7, sư đoàn 6, trung đoàn độc lập 95b) phối hợp cùng các lực lượng vũ trang ở địa phương mở chiến dịch Xuân Lộc. Để tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực thực hành tiến công, quân dân địa phương Xuân Lộc – Long Khánh đã kết hợp tiến công vũ trang với tiến công chính trị, binh vận đã giải phóng hầu hết các xã ven Thị xã, phối hợp cùng các đơn vị hậu cần chuẩn bị lương thực, thuốc cứu thương phục vụ chiến dịch và có phương án sơ tán dân trong Thị xã ra nơi an toàn. Đến cuối tháng 3 đầu tháng 4/1975, công cuộc chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn thành.

020512ngaydem2160Rạng sáng ngày 9/4/1975, chiến dịch Xuân Lộc mở màn bằng những loạt pháo liên tiếp vào các mục tiêu trong thị xã Long Khánh. Tới 7 giờ 30 phút, sư 341 và sư 7 của ta tiến công hai hướng đông bắc và tây bắc Thị xã, chiếm lĩnh và treo cờ Mặt trận trên hầu hết các căn cứ của địch như trại biệt động quân, trụ sở tình báo CIA Mỹ, tòa hành chính, tỉnh đoàn bảo an. Với sự chi viện tối đa của không quân và quân nhảy dù (lữ đoàn I) ngụy cùng với quân địch từ các hầm ngầm phản kích dữ dội. Nhưng với sức chiến đấu mưu trí, anh dũng kiên cường, quân và dân ta đã từng bước bẻ gẫy các mũi tấn công của địch, phá hủy nhiều công sự địch trong thị xã đồng thời các cơ sở cách mạng trong nội ô tiến công binh vận làm tan rã các đơn vị bảo an, dân vệ địch. Đêm ngày 20/4, đại quân ta mở đợt tiến công cuối cùng trên 4 hướng đông-tây-nam-bắc. Xe tăng và pháo binh quân giải phóng tiến vào thị xã. Hầu hết các căn cứ quân sự và cơ quan địch đều tung bay cờ Mặt trận. Vào lúc 22 giờ, hơn 220 xe cơ giới địch rút chạy theo liên tỉnh lộ số 2 về Bà Rịa. Đến sáng ngày 21-4-1974, “tuyến phòng thủ thép” của địch ở Xuân Lộc đã bị đập tan. Thị xã Long Khánh được hoàn toàn giải phóng đúng vào lúc 8 giờ cùng ngày, cửa ngõ tiến quân vào Sài Gòn đã mở.

Chiến dịch tiến công Xuân Lộc thắng lợi đã đập tan “ Cánh cửa thép”, cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở xung quanh Sài Gòn; là đòn tiến công chiến lược làm rệu rã tinh thần và ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai; đập tan ý đồ co cụm, mong chờ sự can thiệp của Mỹ hòng tìm một giải pháp chính trị cho chế độ tay sai ở miền Nam. Ngày 23/4/1975, tổng thống Giê-ran Pho của Mỹ đã tuyên bố cuộc chiến ở miền Nam đã chấm dứt với người Mỹ. Thắng lợi của chiến dịch Xuân Lộc đã tạo một địa bàn tập kết thuận lợi, cho các binh đoàn chủ lực tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông, một thế trận mới rất có lợi làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà vào ngày 30/4/1975.

Liên Hương (Tổng hợp)

Bản anh hùng ca của “bảy cô gái Quang Trung”

(Ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn: Internet)

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng câu chuyện về bảy cô gái Quang Trung, Phủ Lý, Hà Nam anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẫn được nhiều người dân truyền tai nhau qua nhiều thế hệ.

Họ đều là những cô gái chưa đến tuổi 20 nhưng ý chí quyết chiến quyết thắng luôn cháy bỏng, từng ngày từng giờ mong muốn đánh đuổi quân xâm lược. Câu chuyện về họ xứng đáng là những bản hùng ca về tuổi trẻ của thị xã Phủ Lý thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Bảo vệ Tổ quốc, tiếc gì tuổi xanh

Vào những năm 1960, địa bàn Phủ Lý được xác định là điểm huyết mạch trên bản đồ quân sự vì có đường sắt, Quốc lộ 1A chạy qua, lại là ngã ba để đi tới vùng tản cư Bút Sơn và kho vũ khí Ba Sao của quân đội ta. Do đó, máy bay Mỹ ngày đêm đánh phá thị xã Phủ Lý rất ác liệt.

Khi đó, hầu hết thanh niên trai tráng của thị xã đều đi theo tiếng gọi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” ở nhà toàn phụ nữ và trẻ em. Trong tình thế cấp bách đó, tháng 5/1964 phố Quang Trung, Phủ Lý đã thành lập đội tự vệ tình nguyện gồm bảy chị em.

Người cao tuổi nhất là Tiểu đội trưởng Bùi Thị Hường mới 19 tuổi, nhỏ nhất là chị Bùi Thị Cường 16 tuổi, còn lại các chị Hời, Chính, Oánh, Hồng, Định đều độ tuổi 17, 18. Đội lấy tên “Bảy cô gái Quang Trung” với nhiệm vụ chính là cộng tác với đội pháo 37 ly trực tiếp tham gia chiến đấu và cứu tải thương.

Bà Đặng Thị Hồng, hiện trú tại xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, một thành viên trong đội bồi hồi kể về trận đánh ác liệt nhất vào sáng ngày 1/10/1966. Mặc dù đã xác định trước máy bay Mỹ sẽ bắn phá ác liệt nhưng các chị vẫn bị ngợp bởi sự khủng khiếp của nó.

Vào lúc 5 giờ 30 phút, các vị trí chiến đấu đã sẵn sàng, bảy chị em được giao nhiệm vụ cố thủ một ụ pháo 37 ly trên đê sông Đáy. Khoảng một tiếng sau, bầu trời chợt tối sầm lại, gần 20 máy bay Mỹ ập đến gầm rú trên bầu trời trút xuống hàng tấn bom. Bên dưới, pháo phòng không kiên cường bắn trả.

Tiếng máy bay địch gầm rú, tiếng bom nổ, tiếng pháo phòng không nhả đạn hòa lẫn vào tiếng người kêu rú, tiếng rên của người bị thương tạo nên một thứ âm thanh hỗn độn rất khó tả, vẫn còn ám ảnh đến bà cho đến tận bây giờ.

Không cầm được nước mắt, bà Hồng nói trong sự nghẹn ngào: “Lúc đó, hai ụ pháo 37 ly gần đó đã bị hạ. Quay sang nhìn, chỉ thấy xác của hai đồng chí bộ đội đã bị phạt mất đầu vẫn trong tư thế tay ôm ghì ụ pháo. Còn ụ bên kia đã bị nổ tung. Nòng pháo, thây người, chân tay đứt lìa và máu hòa lẫn vào nhau thật hãi hùng. Tiểu đội phó Đặng Thị Oánh chỉ kịp trấn tĩnh chị em: ‘Một sống hai chết các cậu. Chiến đấu!’ Và chúng tôi ôm ghì ụ pháo nhằm máy bay địch mà nã.”

Đâu cần chị em có, đâu khó có chị em

Sự tàn khốc của chiến tranh vẫn còn được ghi rõ trong cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam: Quý 3 năm 1965, Mỹ cho 1662 tốp máy bay thâm nhập, đánh phá vào các trọng điểm kinh tế, quốc phòng, trong đó có 16 lần đánh vào các tuyến giao thông vận tải. Tháng 11/1965, Mỹ cho 303 tốp máy bay đánh phá Quốc lộ 1A và đường 21, rồi đến ngày 01/8/1966, không quân Mỹ thả trên 1.000 quả bom xuống thị xã Hà Nam.

Nguy hiểm luôn rình rập như thế vẫn không ngăn nổi ý chí của những cô gái chưa đến tuổi 20. Những chiến công mà các chị lập nên thật đáng nể, nơi địch bắn phá ác liệt nhất, nơi nguy hiểm nhất là các chị có mặt. Các đoạn đường, cầu vừa bị máy bay địch bắn phá, liền được sửa chữa ngay.

Địch cứ bắn phá, các chị cứ sửa chữa. Bao nhiêu đoạn đường đã được nối lại, bao nhiêu chiếc cầu được vá lại các chị cũng không nhớ rõ. Những nơi chiến sự xảy ra ác liệt nhất, bảy chị em lại lao đến cứu tải thương. Đêm đến, các chị làm “cọc tiêu sống” chỉ dẫn cho từng chiếc xe men qua miệng hố bom, bờ sông để nối nhau vào tiền tuyến.

Mỗi lần cứu tải thương là mỗi lần cái chết rình rập mà bà Bùi Thị Cường cùng các đồng đội không thể nào quên. Bà  Cường nhớ lại, sau trận đánh rạng sáng 1/10/1966, bảy chị em được lệnh rút lui về để cứu tải thương.

Sáng 2/10/1966, khi máy bay Mỹ ném bom ác liệt, nhận được tin báo có một đồng chí bộ đội thông tin liên lạc bị trọng thương cần đưa về hậu phương để chữa trị khẩn cấp, bảy chị em cùng nhau cáng đồng chí bộ đội thông tin ra bờ sông để lên thuyền sang sông. Lúc này máy bay Mỹ đang thả bom rất dày, đặc biệt cầu Hồng Phú và sông Đáy đang là mục tiêu bắn phá của địch.

Khi ra đến bờ sông, rất nhiều chiếc thuyền ba lá đã bị bom dội nổ tung, giữa lòng sông bom giặc thả dày đặc, từng cột nước tung lên trắng xóa, khiến đứng ở bờ bên này không thể nhìn rõ sang bờ bên kia. Tình thế nguy kịch nhưng không thể chần chừ, các chị đã quyết định đưa người bị thương lên thuyền sang sông về hậu phương. Tính mạng của người chiến sĩ đang “ngàn cân treo sợi tóc,” bảy chị em người trèo, người bơi đẩy đưa chiếc thuyền băng qua từng cột nước.

Nhớ lại tình cảnh đó bà Hồng vẫn chưa hết bàng hoàng: “Thuyền đi đến giữa sông cũng là lúc nguy hiểm nhất, các chị em không dám ngẩng đầu nhìn lên trời mà chỉ biết nhìn thẳng bờ bên kia mà lái thuyền. Nếu nhìn lên trời có cảm tưởng mưa bom đang trút thẳng xuống đầu mình. Có những đoạn bom dội cách thuyền mấy chục mét, nuớc bắn rát cả mặt. Sang đến bên kia, vừa đưa chiến sĩ bị thương lên bờ đi được một đoạn thì chiếc thuyền ba lá bị trúng bom nổ tan tành.”

Cũng nhờ sự mưu trí, dũng cảm của các chị mà không ít đồng chí bộ đội được chữa trị kịp thời. Sau này, khi ra mặt trận không ít chiến sĩ viết thư về cảm ơn mà các chị còn không nhớ là ai.

Thành tích của các chị đã được thiếu tướng Hồng Thanh tặng bằng khen năm 1966. Sau này, các chị được sáp nhập vào đơn vị Quyết Tiến vừa tham gia chiến đầu vừa tham gia sản xuất.

Ông Trần Hồng Quân, nguyên là trưởng đài phòng không, thị đội Hà Nam, mỗi khi nhắc đến bảy cô gái Quang Trung vẫn không giấu được vẻ thán phục: “Thật là một điều kỳ diệu. Trải qua bao mưa bom bão đạn khốc liệt của chiến tranh, các chị vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà không ai bị thương, hình ảnh của các chị mãi là niềm tự hào của người dân Hà Nam.”

Giờ đây, đội tự vệ bảy cô gái Quang Trung người còn, người mất, nhưng tình đồng chí vẫn vẹn nguyên. Cuộc sống thời bình nhiều lúc bon chen khiến mỗi người đi theo mỗi ngả, nhưng mỗi khi bùi ngùi nhớ lại những ngày cùng nhau sát cánh mỗi chị đều không giấu được niềm xúc động trào dâng.

Các chị dân quân tự vệ năm nào nay đều đã “lên ông lên bà” vẫn luôn có một ước nguyện được cùng nhau sum họp một lần để cùng cười, cùng khóc ôn lại những kỷ niệm một thời./.

Đức Phương-Đặng Hưng (Vietnam+)

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo chiến lược sắc bén, huy động sức mạnh cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Đánh giá về sự kiện lịch sử trọng đại này, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trông qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Có được thắng lợi này, một trong những nguyên nhân, đồng thời cũng là một bài học sâu sắc nhất về sự lãnh đạo của Đảng, đó là Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo chiến lược sắc bén, huy động được sức mạnh của cả nước thực hiện quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có thể thấy sự chỉ đạo chiến lược sắc bén của Đảng và Hồ Chủ tịch thể hiện trên nhiều nội dung, trong đó nổi bật ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận rõ kẻ thù, đánh giá đúng tương quan lực lượng địch – ta, có chủ trương, quyết sách phù hợp với từng thời điểm lịch sử cụ thể, đánh bại địch từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Ngay từ trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954) về chấm dứt chiến tranh và lập lai hòa bình ở Đông Dương được ký kết, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (từ 15 đến l8-7- 1954), Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương và đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Thực tiễn đã diễn ra đúng như vậy. Với đã tâm chiếm Đông Dương, đùng Đông Dương làm bàn đạp mở rộng chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng ở miền Nam. Chỉ tính từ tháng 7-1955 đến tháng 2-1956, Mỹ – Diệm đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên. Giữa năm 1956, chúng tuyên bố từ chối Hiệp thương Tổng tuyển cừ theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ và công khai hô hào “lấp sông Bến Hải” để “Bắc tiến”. Những hoạt động của Mỹ ở miền Nam rước ta đã bộc lộ rõ dã tâm của chúng muốn biến miền Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ để chuẩn bị chiến tranh xâm lược mới nhằm đánh chiếm cả miền Bắc Việt Nam, đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc và ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội (CNXH) – mà chúng gọi là “làn sóng đỏ” – ở khu vực Đông Nam Á.

Phân tích tình hình trên, nhận rõ kẻ thù, Hội nghị lần thứ 15 (năm l959) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) chỉ rõ: Mỹ, Diệm chẳng những là kẻ thù của nhân dân miền Nam đang bị chúng thống trị mà còn là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam, của nhân dân miền Bắc đã được giải phóng. Trong Diễn văn khai mạc Đại hội lần thứ III của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân ta từng chịu đau khổ vì bọn đế quốc và ngày nay còn bị bọn Mỹ – Diệm chia cắt đất nước, giày xéo miền Nam. Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon ngủ yên”. Cùng với việc sớm nhận điện rõ kẻ thù, nhất là âm mưu, thủ đoạn, chính sách cơ bản của chúng đối với nước ta, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn hết sức sáng suốt, dựa trên cơ sở quan điểm cách mạng, khoa học đánh giá đúng tương quan lực lượng địch – ta, từ đó có chủ trương, quyết sách phù hợp với từng thời điểm lịch sử cụ thể, đánh bại địch từng bước, tiến lên giành thắng lơi hoàn toàn.

Đồng chí Lê Duẩn – cố Tổng Bí thư của Đảng đã từng nói: “Thành bại của một cuộc cách mạng, nói cho cùng là do lực lượng so sánh quyết định. Trong chiến tranh, kẻ nào mạnh thì thắng, kẻ nào yếu thì thua. Song nói mạnh yếu là nói theo quan điểm cách mạng, quan điểm phát triển, là căn cứ vào sự đánh giá tổng hợp cả quân sự và chính trị, cả thế, lực và thời cơ, cả điều kiện khách quan và nghệ thuật lãnh đạo, là xem xét yêu cầu trong quá trình vận động, trong không gian và thời gian nhất định”. Đồng thời sự đánh giá so sánh tương quan lực lượng địch ta lai phải đặt trong bối cảnh quốc tế phức tạp khi đó. Thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1960), nếu chỉ so sánh đơn thuần về diện tích, dân số cũng như trình độ khoa học kỹ thuật, tiềm lực kinh tế, quân sự giữa ta và Mỹ rồi lấy đó làm cơ sở để đánh giá mạnh yếu thì sẽ hết sức sai lầm, phiến diện. Bởi lẽ khoảng cách đó của hai bên khá xa: về diện tích, nước ta chỉ bằng 1/20, dân số bằng 1/6, giá trị tổng sản lượng hằng năm (tính ở miền Bắc) chỉ bằng 1/1000 nước Mỹ. Song, với quan điểm xem xét khoa học, biện chứng và cách mạng, Đảng ta đã căn cứ vào tổng thể các yếu tố và khẳng định: Mỹ và tay sai có quân đông nhưng không có cơ sở chính trị sâu rộng và vững chắc, tuy quân sự chúng còn mạnh, nhưng chính trị của chúng lại rất yếu mà yếu nhất là ở nông thôn. Từ nhận định này, Đảng ta xác định: ”Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân». Với chủ trương đúng đắn đó, phong trào đồng khởi ở miền Nam Việt Nam đã nổ ra và nhanh chóng phát triển thành cao trào, khởi nghĩa từng phần và giành thắng lợi, đưa cách mạng miền Nam vượt qua thử thách sống còn, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Đây là sự mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước rất độc đáo, sáng tạo của Đảng ta.

Khi Mỹ tiến hành chiến tranh đặc biệt, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương chỉ đạo phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ của quần chúng ở nông thôn; phát triển nhanh các lực lượng quân sự và kết hợp đẩy mạnh đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; thực hiện đánh địch bằng hai chân (chính trị, vũ trang), ba mũi (chính trị, quân sự, binh vận), trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị). Chiến tranh nhân dân ở miền Nam từ đó từng bước phát triển đến đỉnh cao.

Từ 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, đã xuất hiện một số người biểu hiện tư tưởng «sợ Mỹ”, hoặc đánh giá quá cao về sức mạnh của đế quốc Mỹ, tỏ ra thiếu lòng tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Nhưng Đảng ta sáng suốt nhận định: Mỹ là một đội quân mạnh nhưng vào miền Nam không phải trong thế mạnh, mà trong thế yếu, thế bị động. Chỗ yếu cơ bản nhất của chúng vẫn là về chính trị. Còn về phía ta lúc này không chỉ đã mạnh về chính trị mà cả về quân sự. Đây là cơ sở để Đảng ta hạ quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 của Đảng (12-1965) đã đề ra nhiệm vụ “Động viên lực lương cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào”. Ở miền Nam, Đảng ta đã chỉ đạo kiên quyết giữ vững thế chiến lược tiến công, đánh Mỹ, diệt ngụy, nhất là sau khi đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 càng đẩy chúng vào thế bị động. Ở miền Bắc, quân và dân ta đã đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trận “Điện Biên Phủ trên không”, kiên quyết bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH và chi viện tích cực cho tiền tuyến lớn miền Nam. Như vậy, so sánh lực lương giữa ta và địch phải xem xét cả quân sự và chính trị, cả số lượng và chất lượng, cả lực lượng và thế trận, cả ở chiến trường nước ta và tình hình chính trị nước Mỹ, cũng như tính năng động chủ quan trong điều hành chiến tranh của đôi bên. Thực tế đã chứng minh, quan điểm đánh giá so sánh lực lương của Đảng ta là hoàn toàn chính xác.

Sau Hiệp định Pa-ri (1-1973), quân Mỹ và chư hầu buộc phải rút khỏi miền Nam, cục diện chiến trường, so sánh lực lượng giữa ta và địch có sự thay đổi lớn. Vấn đề đặt ra lục này là liệu quân ngụy có thể thay thế quân Mỹ, quân chư hầu và liệu Mỹ có khả năng can thiệp trở lại không? Trước tình hình bọn ngụy tay sai được Mỹ tiếp sức tiến hành các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm lại nhiều vùng giải phóng của ta, Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết 21 (7-1973) chỉ đạo cách mạng miền Nam kiên quyết phản công, giữ vững vùng giải phóng, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ và đón thời cơ để tiến lên giành thắng lợi quyết định. Với chiến thắng Thượng Đức (7-1974), ta khẳng định, chủ lực ta hơn hẳn chủ lực ngụy. Đến chiến thắng Phước Long (1-1975), Đảng ta có cơ sở kết luận ít có khả năng Mỹ can thiệp trở lại và có can thiệp cũng không cứu vãn được tình hình. Tình thế phát triển mau lẹ, Đảng ta đã nhạy bén nắm bắt tình hình, đánh giá đúng sự so sánh lực lương địch – ta trong từng thời điểm cụ thể, kịp thời đề ra và điều chỉnh kế hoạch giải phóng miền Nam cho phù hợp, từ 2 năm theo xác định ban đầu rút xuống còn trong năm l975 và cuối cùng là trước mùa mưa, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mở đầu là trận then chốt Buôn Ma Thuột và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giành thắng lợi hoàn toàn trong vòng chưa đầy hai tháng.

Thứ hai, trong chỉ đạo chiến lược, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết tốt quan hệ giữa nhiệm vụ cách mạng miền Bắc và miền Nam, tạo sức mạnh to lớn để đánh bại kẻ thù.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã tạo ra cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Một trong những đặc điểm và là đặc điểm lớn nhất, bao trùm nhất sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là đất nước tạm chia làm hai miền, mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược riêng. Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, còn miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Song giữa cách mạng miền Nam và cách mạng miền Bắc có mối quan hệ hữu cơ gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng thực hiện một mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhân dân Việt Nam, kể cả miền Bắc và miền Nam đều chung một kẻ thù, chung một mục tiêu là hoàn thành cách mạng dân tộc, đần chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất rước nhà, mở đường đưa cả nước tiến lên con đường XHCN; sự nghiệp cách mạng vẫn do một Đảng lãnh đạo và do nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam và các lực lương vũ trang nhân dân Việt Nam tiến hành. Bởi lẽ như Chủ tịch Hồ Chí Mirth nói: ”Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Người còn khẳng định: “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, nên “31 triệu đồng bào hai miền Nam-Bắc là 31 triệu chiến sĩ diệt Mỹ”. Trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, mỗi miền thực hiện một chiến lược cách mạng trong những điều kiện khác nhau, việc xác định vị trí và mối quan hệ giữa nhiệm vụ cách mạng hai miền là điều quan trọng nhưng cũng không đơn giản. Nếu không giải quyết tốt quan hệ này, khó có thể tạo sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù xâm lược hùng mạnh. Cho nên, đây cũng là một trong những thành công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng ta.

Từ tháng 7-1954, Đảng ta đã xác định phải xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (8-1955), nhiệm vụ của hai miền được xác định rõ hơn: “Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà; miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng đần tộc dân chủ nhân dân”.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960), vị trí của cách mạng mỗi miền được Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiến hành cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà”. Còn “đồng bào ta ở miền Nam có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng để giải phóng miền Nam”. Đồng thời cũng là “theo yêu cầu của cả nước, góp phần bảo vệ miền Bắc và tạo điều kiện thuận lơi cho miền Bắc xây dựng CNXH”. Thực tế đã chứng minh, sự gắn bó của cách mạng hai miền đã tạo sức mạnh vô địch trên toàn đất nước. Đường Hồ Chí Minh chẳng những là đường vận tải chiến lược mà còn là một căn cứ, một chiến trường, một biểu tượng nổi bật của ý chí Việt Nam “xẻ đọc Trường Sơn đi cứu nước”. Cùng với đẩy mạnh chiến tranh xâm lước ở miền Nam, Mỹ đã tăng cường đánh phá miền Bắc nhằm hủy diệt, bóp nghẹt miền Bắc, cô lập miền Nam. Mặc dù vậy, chúng không thể ngăn cản nổi sự chi viện của miền Bắc cho miền Naln. “Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh giữ nước và cứu nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN và hoàn thành một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”. Còn nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục đã thể hiện vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng trong cuộc chiến đấu kiên cường, dẻo dai, vượt qua mọi thử thách ác liệt, tạo ra sức mạnh mới như đồng khởi, vành đai diệt Mỹ, đánh địch bằng hai chân, ba mũi, ba vùng… xứng đáng là Thành đồng của Tổ quốc.

Thứ ba, giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời thực hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo nhằm tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong bối cảnh quốc tế phức tạp, vừa có nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn, nhất là sự bất hòa, thậm chí có cả khuynh hướng thỏa hiệp vô nguyên tắc. Kẻ thù của chúng ta là một đế quốc có tiềm lực vật chất, vũ khí, kỹ thuật đứng hàng đầu thế giới. Chúng âm mưu xâm chiếm miền Nam tiến tới xâm chiến cả Việt Nam; đồng thời thực hiện chia rẽ Bắc – Nam, chia rẽ phe XHCN. Cuộc đọ sức giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ xâm lược trở thành “cuộc đụng đầu lịch sử”, cuộc đọ sức điển hình và vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng. Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã luôn nêu cao tính độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của mình. Đường lối đó phản ánh đúng nguyện vọng và ý chí quyết tâm của nhân dân ta, dân tộc ta, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, con người Việt Nam và xu thế tiến bộ của nhân loại, tạo sự đoàn kết nhất trí, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em và sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ và thắng Mỹ. Do đó, một mặt chúng ta tập trung phát triển tiềm lực của chính mình, mặt khác thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, mà trước hết là sự đồng tình ủng hộ và đoàn kết hiệp đồng chiến đấu của hai nước Lào và Cam-pu-chia, sự giúp đỡ quý báu của các nước XHCN, nhất là Liên Xô, Trung Quốc, Cu Ba… Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, sắc sảo, sáng tạo lớn. Từ 1956, Người đã viết trên báo Sự thật của Liên Xô: “Trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi Đảng Cộng sản… và những vấn đề được đề ra cho đảng này hoặc đảng khác tuyệt thiên không phải là việc riêng của mỗi đảng mà có quan hệ thiết thân đến toàn bộ giai cấp vô sản quốc tế”. Với tầm nhìn chiến lược ấy, Người giải thích với bạn bè quốc tế rằng: “Việc dân tộc Việt Nam phải vạch ra những phương pháp và biện pháp riêng của lình để chống âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước cũng như để quá độ dần dần lên CNXH là điều thật lõ ràng, nhưng lúc này thì sự đoàn kết thực sự của phe XHCN và của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới đối với chúng tôi cũng cần thiết không kém gì hồi kháng chiến chống Pháp”.

Đến 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chỉ rõ: “Chúng ta cần nắm vững phương châm dựa vào sức mình là chính, nhưng đồng thời, chúng ta hết sức tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước XHCN, của các dân tộc Áá, Phi, Mỹ-La tinh và của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ”. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng rất coi trọng tăng cường đại đoàn kết dân tộc và xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân vững mạnh đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ, đứng vững trước mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và các “sóng gió” chính trị.

Đảng ta đặc biệt coi trọng độc lập, tự chủ trong xác định chủ trương, đường lối của mình, đồng thời cũng nhấn mạnh tăng cường đoàn kết quốc tế. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 (7-1973) đã khẳng định: “Nhờ thực hiện đoàn kết quốc tế đến mức cao nhất và giữ vững độc lập tự chủ trong đường lối, chủ trương, chính sách của mình, khi tình hình thế giới thuận lợi cũng như lúc khó khăn, phức tạp, chúng ta đã được các nước XHCN anh em, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào độc lập dân tộc và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ ủng hộ và giúp đỡ, trong đó sự giúp đỡ của các nước XHCN là cực kỳ quan trọng”. Để tăng cường đoàn kết quốc tế, Đảng ta chủ trương tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, tận dụng mọi nhân tố tích cực có thể tận dụng được, hoan nghênh mọi sáng kiến vì hòa bình, kiên quyết một cách có nguyên tắc, đồng thời khôn khéo, mềm dẻo, kiên trì thuyết phục nhằm hạn chế những nhân tố tiêu cực trong quan hệ quốc tế.

Độc lập, tự chủ gắn liền với sự sáng tạo trong việc định ra và chỉ đạo thực hiện đường lối của Đảng ta, đó cũng là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc toàn thắng quá trình đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta có cơ sở để phát huy cao độ tiềm lực của cả nước, thực hiện dại đoàn kết 54 dân tộc anh em trong một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khắc phục mọi khó khăn, thoát la khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế, thực hiện đường lối đổi mới, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ và toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN. Bên cạnh những cơ hội lớn, chúng ta phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó, việc không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định của mọi thắng lợi. Những bài học về chỉ đạo chiến lược đúng đắn và sắc bén của Đảng ta trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vừng chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Để làm tốt cả hai nhiệm vụ chiến lược này, nhất là trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có nỗ lực lất lớn. Phải giữ vững ổn định về chính trị, tăng cường xây dựng lực lương vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh và đối ngoại, tập trung nâng cao chất lương tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của các lực lương vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân… theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) của Đảng về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thành hình mới. Đồng thời phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội bằng cả nội lực và hợp tác quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng cùng có lợi, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ, xóa bỏ thành kiến, hòa hợp dân tộc, hướng tới tương lai, chủ động hội nhập kinh tế thế giới.

Sau 30 năm chiến thắng, ngày nay đất nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, v.v., làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế trong thời kỳ mới. Sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng cường, tạo điều kiện củng cố vững chắc độc lập dân tộc và bảo vệ chế độ XHCN. Quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lơi đường lối đổi mới toàn diện, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đại hội Đảng lần thứ IX xác định và chuẩn bị tất mọi mặt cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng thành công rực rỡ.

Theo Đại tướng Phạm Văn Trà, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó bí thư đảng uỷ QSTƯ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Báo điện tử ĐCSVN

Ngày 22/4/1975: Thời cơ mở cuộc Tổng tiến công đã chín muồi

“Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn”.

Ngày 22/4/1975, đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị Trung ương Đảng từ Hà Nội điện cho Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh như sau:

“Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày, kịp thời phát động tiến công địch trên các hướng, không để chậm. Nếu để chậm thì không có lợi cả về chính trị và quân sự. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn.

Các anh chị ra chỉ thị ngay cho các hướng, hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Sự hiệp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động. Hiện nay, thời cơ thúc đẩy chúng ta phải có hành động nhanh nhất. Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định toàn thắng”.

Cũng trong ngày 22/4, Bộ Chỉ huy Chiến dịch duyệt lại lần cuối kế hoạch chính thức của Chiến dịch Hồ Chí Minh./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

VOV News