Chiến dịch Huế – Đà Nẵng – Bước nhảy vọt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

36 năm qua, khí thế thắng lợi hào hùng của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đỉnh cao của chủ nghĩa yêu nước vẫn vang mãi trong lòng người dân Việt Nam và các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Quân giải phóng tiến vào Huế – Ảnh: T.L

Ngày 22-2-1975, chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng, năm tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức được giải phóng. Tin thắng trận dồn dập bay về Bộ Tổng Chỉ huy. Không kể sớm khuya, nhân viên thông tin, cơ yếu được phân công trực trong Tổng hành dinh (khu A) đã nhận và dịch ngay những bức điện để chuyển ngay đến trực ban tác chiến bất cứ lúc nào. Trước đó, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, tối tối lại qua đường Hoàng Diệu vào hướng cửa Tây (Hoàng thành Hà Nội) và ở đó đến khuya. Những ngày này, ông ăn ngủ luôn trong phòng họp của Quân ủy Trung ương. Tại cuộc họp Bộ Chính trị, chiều ngày 24-3-1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, thay mặt Bộ Tổng Tham mưu báo cáo khả năng sớm dứt điểm đánh chiếm Trị Thiên-Huế. Ông nhấn mạnh, với việc tiêu diệt 3 đến 4 trung đoàn và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại, thu toàn bộ trang bị nặng của địch, đây sẽ là một chiến thắng lớn. Lực lượng địch co cụm về Đà Nẵng gồm 2 sư đoàn (Sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn 3), 2 đến 3 liên đoàn biệt động quân. Tất cả tương đương 10 trung đoàn, chúng có thể co cụm về Đà Nẵng nhanh hơn. Ta phải nhanh chóng tiến công Đà Nẵng, diệt 2-3 sư đoàn địch nữa trong tháng 4 mới phá được ý đồ co cụm của địch về hướng Sài Gòn… Cuối cùng, Bộ Chính trị khẳng định: “Thời cơ chiến lược lớn đã tới” và đề ra quyết tâm mới: “Nắm vững thời cơ chiến lược, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp dự kiến, không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa”. Muốn vậy, cần thực hiện 2 trận quyết chiến chiến lược nữa là Huế- Đà Nẵng và Sài Gòn.

Theo quyết định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Đây là đòn chiến lược lớn thứ 2 của ta đánh vào quân đội Sài Gòn. Huế là cố đô và Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp rất mạnh, nơi đặt sở chỉ huy của vùng chiến thuật I, thuộc quân khu I do tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Viên tướng này đã từng tuyên bố: “Tử thủ Đà Nẵng”. Trong tình hình hết sức khẩn trương, Bộ Tư lệnh chiến dịch Huế-Đà Nẵng được thành lập: Tư lệnh Lê Trọng Tấn; Chính ủy Chu Huy Mân; Phó tư lệnh Giáp Văn Cương, Nguyễn Bá Phát; Phó chính ủy Bùi Hữu nghĩa. Do được thành lập trong điều kiện các thành viên chưa có điều kiện gặp mặt nhau để nắm tình hình, chỉ đạo tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến dịch, Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu) phải trực tiếp chủ trì tổ chức cơ quan chiến dịch, gồm các cán bộ đã quen thuộc chiến trường này.

Chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng mở ra từ ngày 21-3 đến ngày 29- 3-1975 với lực lượng: quân đoàn tăng cường; diễn ra trong 2 đợt: Đợt 1 (21 đến 26-3-1975), ta tiến công chia cắt Huế-Đà Nẵng, tiêu diệt sư đoàn bộ binh 1, lữ 147 thủy quân lục chiến, liên đoàn biệt động quân của địch, giải phóng Thừa Thiên –Huế. Tiếp đó, quân ta phát triển về hướng Nam uy hiếp Bắc Đà Nẵng; Sư đoàn bộ binh 2 của ta sau khi giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi uy hiếp Đà Nẵng từ hướng Nam. Hướng Trị Thiên: các Sư đoàn 325, 324 thực hành chia cắt Đường 1A, đập vỡ hệ thống phòng ngự phía Nam Huế, phát triển vào Huế, truy kích địch về cửa biển Thuận An, Tư Hiền, cùng lực lượng địa phương chặn đánh địch ở Thuận An, Tư Hiền. Hướng Bắc: các lực lượng Quân khu Trị-Thiên đánh địch trên tuyến phòng thủ Mỹ Chánh, đánh chiếm quận lỵ Hướng Điền, phát triển về Huế, ngã ba Sình. Hướng Tây Huế (Đường 12): Trung đoàn bộ binh 6, trung đoàn 271 (Quân khu 4) theo Đường 12 B tiến về Đồng Môn, Kim Ngọc vào khu Tam giác Huế. Trên các hướng tiến công của ta, địch chống cự yếu ớt, rút chạy nhanh, nhưng ta đã chặn hết các ngả đường nên toàn bộ sư đoàn 1, lữ đoàn 147, các liên đoàn biệt động quân 14, 15, lữ kỵ binh thiết giáp 1, các tiểu đoàn bảo an, lực lượng phòng vệ dân sự cùng bộ máy ngụy quân, ngụy quyền địch từ tỉnh đến xã đều bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 25-3-1975, thành phố Huế được giải phóng; ngày 26-3-1975, toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng hoàn toàn.

Hướng Nam Quảng Ngãi: Sư đoàn bộ binh 2 tiến công tiêu diệt sư đoàn 2 ngụy, giải phóng thị xã Tam Kỳ ngày 25-3-1975. Hướng Quảng Ngãi: 7 giờ ngày 24-3-1975, các lực lượng tại chỗ nổ súng tiến công và sáng ngày 25-3-1975, ta giải phóng thị xã Quảng Ngãi, truy kích địch bỏ chạy, tiêu diệt và bắt sống các lực lượng của liên đoàn biệt động quân 11, thiết đoàn 4, trung đoàn 6 (Sư đoàn 18) địch và tiểu khu Quảng Ngãi.

Đợt 2, từ ngày 27 đến 29-3-1975. Ta phát triển tiến công tiêu diệt sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn 3, Bộ Tư lệnh quân đoàn 1 và lực lượng còn lại của quân khu 1 địch, giải phóng Đà Nẵng. Hướng Bắc có Sư đoàn 325, Tây Bắc có Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304), hướng Tây Nam có Sư đoàn 304 (thiếu trung đoàn 9), hướng nam có lực lượng vũ trang Quân khu 5… Cả 4 hướng đồng loạt tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, kết hợp với thọc sâu. Đến 15 giờ ngày 29-3-1975, ta đã đánh chiếm toàn bộ các mục tiêu quan trọng trong thành phố Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Kết hợp với đòn tiến công quân sự, lực lượng địa phương phát động quần chúng nổi dậy, diệt ác, phá kìm, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng vào lúc 17 giờ, ngày 29-3-1975.

Chiến dịch Huế- Đà Nẵng là chiến dịch tiến công lớn, hình thành từ chiến dịch tiến công tổng hợp của 2 quân khu địa phương (4 và 5), có Quân đoàn 2 (binh đoàn cơ động chiến lược) làm nòng cốt, thực hành tiến công trong hành tiến với nghệ thuật bao vây, chia cắt, vu hồi, thọc sâu trên quy mô chiến dịch phá thế co cụm chiến lược của đối phương. Nghệ thuật tạo lực, tạo thế bằng hai phương thức tiến hành chiến tranh (Binh đoàn cơ động và chiến tranh nhân dân) đã tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo, kịp thời giáng những đòn quyết định tiêu diệt những tập đoàn chủ yếu của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và mục tiêu của chiến lược. Chiến dịch này là một bước nhảy vọt mới của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Hà Thành

Đại Đoàn Kết

Advertisements

Bao vây Sài Gòn

Sau một ngày tấn công quyết liệt nhưng gặp sự kháng cự khá mạnh của địch tại căn cứ Nước Trong, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 chỉ đạo Sư 304 thay đổi cách đánh vỗ mặt bằng cách cho xe tăng đánh vào cạnh sườn và sau lưng địch. Thế trận bị vỡ, đến 17 giờ ngày 28-4, toàn bộ quân địch tại căn cứ Nước Trong bị tiêu diệt.

Ngày 28-4, pháo của ta từ Hiếu Liêm bắn dữ dội vào sân bay Biên Hòa, địch phải di tản máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất. Cùng thời điểm này, quân ta tấn công quyết liệt vào cụm phòng thủ của địch tại Hố Nai. Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy bỏ Biên Hòa chạy về Gò Vấp.

15 giờ 40 phút cùng ngày, phi đội Quyết Thắng gồm 5 máy bay A37 (tịch thu của địch) do phi công Nguyễn Văn Lục chỉ huy, phi công Nguyễn Thành Trung (người đã bỏ bom Dinh Độc Lập ngày 8-4) dẫn đường đã cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) bay về đánh bom sân bay Tân Sơn Nhất.

Phi đội đã ném bom chính xác vào khu vực để máy bay ở sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 24 máy bay, diệt 200 binh lính và nhân viên ngụy trực chiến ở sân bay. Tiếng bom nổ làm rung chuyển cả Sài Gòn và báo hiệu sắp đến giờ chấm dứt của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Đến chiều 28-4, ta đã phá vỡ các khu vực phòng thủ bên ngoài của địch, cắt đứt đường số 4, tăng cường vây ép Sài Gòn trên các hướng. Cũng vào thời điểm này, tổng thống ngụy Trần Văn Hương mới lên chức có 7 ngày đã phải nhường ghế cho Dương Văn Minh.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Bộ Chính trị chỉ đạo: Thời cơ mở cuộc tổng tấn công đã chín muồi

Sáng 22-4-1975, Bộ Chính trị đã họp nghe Quân ủy Trung ương báo cáo về tình hình mặt trận và kế hoạch tác chiến của ta. Bộ Chính trị đã nhận định: “Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch đã không thể hiện ý đồ cố thủ Sài Gòn, mà giữ cho được hành lang đường số 4 từ Sài Gòn về Cần Thơ.

Mỹ ngụy đã lập chính phủ mới, đưa ra với ta đề nghị ngừng bắn, đi đến giải pháp chính trị, hòng cứu vãn tình thế thất bại hoàn toàn của chúng. Tất cả tình hình nói trên đang gây rối loạn lớn trong ngụy quân, ngụy quyền. Phong trào quần chúng nhân dân có thể có bước phát triển mới.

Thời cơ để mở cuộc tổng tấn công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị”.

Trong ngày này, Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh duyệt lại lần cuối cùng kế hoạch chính thức của chiến dịch Hồ Chí Minh. Ta sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn từ năm hướng: Tây Bắc, Bắc-Đông Bắc, Đông-Đông Nam, Tây và Tây-Tây Nam.

Để thực hiện đánh nhanh, tiêu diệt địch, bảo vệ dân và các cơ sở kinh tế, văn hóa, cách đánh của ta là: thực hiện chia cắt, bao vây tiêu diệt địch phòng thủ ở vòng ngoài, không cho chúng co cụm về nội thành.

Đánh chiếm các cầu lớn mở đường cho các đơn vị đột kích cơ giới mạnh đánh thẳng vào 5 mục tiêu chủ yếu (Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và Dinh Độc Lập). Phối hợp với các quân đoàn là lực lượng đặc công, tự vệ thành phố…

Một kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy phối hợp đòn tiến công quân sự đã được chuẩn bị dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

Đập vỡ tuyến phòng ngự Phan Rang

Sau 2 ngày giằng co với địch tại Phan Rang, ngày 16-4-1975, Trung đoàn 101 Sư đoàn 325 tiến theo đường 1 đánh thẳng vào thị xã từ hướng Bắc. Dẫn đầu đội hình tiến công là Tiểu đoàn 1 với 20 xe tăng, thiết giáp mở đầu. 2 tiểu đoàn đi ô tô tiếp cận sau.

Pháo nòng dài 85mm và pháo cao xạ 37mm trong đội hình cơ động bắn vào các cứ điểm và máy bay địch. Lữ đoàn 164 pháo binh đi sau làm nhiệm vụ chi viện hỏa lực cho đội hình thọc sâu.
Sư đoàn 3 và Trung đoàn 25 có nhiệm vụ đánh địch, phối hợp với mũi đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2. Trước đoàn tiến công dũng mãnh của ta, địch rối loạn bỏ chạy.

Sau 2 giờ chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn thị xã. Tiếp đó, Trung đoàn 101 và hỏa lực tăng cường tiến ra chiếm cảng Tân Thành và Ninh Chữ, bịt đường rút ra biển của địch.

Một bộ phận tiến theo đường số 1 về phía Nam, chiếm cầu Đạo Long và quận lỵ Phú Quý, khóa chặt đường bộ, không cho địch chạy về phía Nam.

Quân địch đã huy động hàng chục lượt máy bay ném bom vào đội hình ta trên đường số 1 và đưa quân dù từ sân bay Thành Sơn ra phản kích. Trung đoàn 101 và Sư đoàn 3 đã anh dũng đánh lui các đợt phản kích của địch và đánh chiếm sân bay Thành Sơn (cách thị xã 10 km).

Toàn bộ quân địch ở Phan Rang gồm hơn 10.000 tên đã bị tiêu diệt và tan rã. Hai tướng ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang cùng nhiều sĩ quan và binh lính bị bắt làm tù binh. Quân ta thu 36 máy bay, 37 khẩu pháo lớn; giải phóng hoàn toàn thị xã Phan Rang và tỉnh Ninh Thuận.

22 giờ ngày 16-4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen toàn thể cán bộ, chiến sĩ đã chiến thắng tại Phan Rang. Đại tướng chỉ đạo các đơn vị khẩn trương củng cố lực lượng, phát triển tiến công thần tốc, táo bạo bất ngờ, giành những chiến thắng mới và chỉ thị dùng máy bay đưa gấp tướng ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang ra Hà Nội để khai thác thông tin.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Bộ Chính trị đồng ý: Lấy tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là chiến dịch Hồ Chí Minh

Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh (ngồi từ trái qua: Đại tướng Văn Tiến Dũng, đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Phạm Hùng)

Ngày 14-4-1975, thể theo lời đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch Sài Gòn – Gia Định và nguyện vọng của đồng bào, chiến sĩ cả nước, trong bức điện số 37 TK, Bộ Chính trị đã đồng ý lấy tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là chiến dịch Hồ Chí Minh.

4 giờ 30 sáng 14-4-1975, hải quân ta bất ngờ đổ bộ nhanh chóng tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng đảo Song Tử Tây, kéo cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ của đảo, khởi đầu cho việc đánh chiếm các đảo Trường Sa do quân ngụy đóng giữ.

Tiếp đó vào ngày 25-4, quân ta đánh chiếm đảo Sơn Ca. Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng.

Cùng ngày 14-4, quân ta nổ súng đánh Phan Rang. Trận tiến công diễn ra quyết liệt. Được không quân hỗ trợ, dựa vào hệ thống công sự và địa hình thuận lợi, quân địch ngoan cố chống cự. Trong hai ngày đầu tiên ta chỉ đánh chiếm được một số vị trí ngoại vi của Phan Rang.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Ngày 29/4/1975

Tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận

(VOV) – Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu

Ngày 29/4/1975, tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận, ngăn chặn và tiêu diệt các tập đoàn chủ lực bên ngoài, thọc sâu vào bên trong, cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn quan trong ở vùng ven, làm tê liệt hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất.

Bộ đội Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất (Ảnh: Báo ảnh Việt Nam)

Ở hướng đông, ta tiếp tục phát triển tiến công căn cứ Nước Trong, nam căn cứ Long Bình, đánh chiếm phần lớn thị xã Vũng Tàu. Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến tới cầu xa lộ Đồng Nai.

Quân đoàn 4 đánh chiếm căn cứ Yên Thế, tranh chấp Hố Nai, sân bay Biên Hòa.

Ở hướng bắc và tây bắc, Quân đoàn 1 tiến tới Bắc Lái Thiêu, Quân đoàn 3 chiếm căn cứ Đông Dù, Trảng Bài phát triển tiến công trại huấn luyện Quang Trung, Bà Quẹo.

Ở hướng tây nam và nam, Đoàn 232 chiếm chi khu Đa Huệ thị xã Hậu Nghĩa, có đơn vị tiến vào được Bà Quẹo, Bà Lác.

Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

VOV News

Trận đánh giải phóng Quảng Trị

Ngay từ ngày 1-5-1972, quân và dân ta đã đồng loạt tiến công giải phóng Quảng Trị. Tuy nhiên, bằng những nỗ lực điên cuồng, địch vẫn cố chiếm giữ một phần đất đai máu thịt của Quảng Trị là huyện Hải Lăng.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị về việc chớp thời cơ giải phóng miền Nam trong năm 1975, tại Quảng Trị, từ 0 giờ ngày 8-3-1975, lực lượng vũ trang của ta đã đồng loạt tập kích các cao điểm: 122, 180, 90, dùng pháo cối áp chế trận địa pháo của địch ở Dốc Dầu, Tân Điền, cao điểm 367, 235, Động Ông Do…

Du kích và bộ đội địa phương Hải Lăng truy kích địch ngày 18-3-1975.

Tại vùng Hải Lăng, Tiểu đoàn 8 (bộ đội địa phương tỉnh) mở đầu trận tập kích vào phân chi khu quân sự Hải Nhi. Cùng lúc, các đội vũ trang, du kích phối hợp với bộ đội địa phương tiến công Chi khu quân sự Hải Kinh, Hải Văn, Hải Vĩnh, Hải Lệ, Hải Lâm, Hải Phú…

Vừa tấn công địch, lực lượng ta vừa phát động quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ ở từng địa phương. Trước sức tấn công, nổi dậy đồng loạt và bất ngờ của quân và dân ta, ngày 9-3-1975, địch buộc phải rút bỏ 21 chốt ở phía Tây Hải Lăng.

Các đơn vị còn lại của chúng (trong đó có lực lượng Thủy quân lục chiến tinh nhuệ) ở giáp ranh Hải Lăng bắt đầu co cụm án binh bất động. Đêm 17-3, Bộ chỉ huy quân sự Quảng Trị được lệnh mở đợt tấn công quân sự lần thứ 2.

Bắt đầu từ đêm 18, rạng ngày 19-3-1975, các lực lượng vũ trang ta một lần nữa bất thần tấn công vào toàn tuyến phòng thủ cuối cùng của địch ở Mỹ Thủy, Thâm Khê cùng các cứ điểm quan trọng tại thị xã Quảng Trị. 3 giờ ngày 19-3, tiểu đoàn 14 đã cắm lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lên cột cờ Thành cổ Quảng Trị.

Cùng lúc ở phía Tây Hải Lăng, du kích các xã Hải Vĩnh, Hải Xuân, Hải Tân cùng một bộ phận của tiểu đoàn 8 quân giải phóng tấn công địch đang co cụm ở Sông Nhùng, phát triển về Trường Thọ, Mỹ Chánh. Tiểu đoàn 812 của Quân khu Trị – Thiên – Huế từ Tây Hải Lăng truy kích địch ở Dốc Dầu, sau đó đánh địch co cụm ở Hải Kinh, Hải Nhi, Hải Văn.

Tiểu đoàn 10 đặc công đánh địch ở Tây – Nam điểm cao 367, sau đó phát triển vào khu vực Hồ Lầy… Đúng 18 giờ ngày 19-3-1975, Hải Lăng, vùng đất cuối cùng của tỉnh Quảng Trị, đã hoàn toàn giải phóng. Sau thắng lợi vang dội này, quân và dân Hải Lăng đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng 2 Huân chương Thành đồng Tổ quốc.

ĐẠI DƯƠNG

SGGP Online

Chiến thắng 30-4: Nhìn lại và đi tới

(ANTĐ) – Phải trở thành một nước anh hùng, giàu mạnh và văn minh

Thời khắc lịch sử trước cửa Dinh độc lập 30-4-1975

– Đấy là kết tinh của truyền thống yêu nước, kiên cường, đoàn kết một lòng của nhân dân Việt Nam được đúc kết qua 4.000 năm lịch sử…

Giây phút hạnh phúc

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy hai cuộc kháng chiến: Chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh đi đến thắng lợi cuối cùng. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam chất chứa trong chiếc lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries ngày 7-5-1954 và trên dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, trong gương mặt hạnh phúc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại, vào cái buổi trưa lịch sử ngày 30-4-1975, sau khi ra nốt những mệnh lệnh cuối cùng để giải quyết chiến trường, ông đã rời tổng hành dinh, lặng lẽ đi bộ ra bờ hồ. Có lẽ đó là những giây phút hạnh phúc nhất của ông.

Đại tướng từng nói: “Tôi là một người lạc quan. Dù trong tình huống nào tôi cũng không thấy buồn phiền”. Những người sống và làm việc nhiều năm với ông đều có nhận xét như vậy. Nhà văn Hữu Mai nói: “Ngay cả khi sóng gió nhất, ông vẫn bình thản như không”.

Trong một lần về quê vào năm 1983, ông đi bộ ra chợ Tréo ở huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Đến giữa chợ, ông hỏi: “Bún chợ Tréo chấm ruốc, giờ có còn ngon không?”. Mấy người dân quê nghe, òa khóc.

Cao hơn cả mọi nghi lễ, người dân đón ông bằng tất cả lòng ngưỡng mộ khôn tả. Lòng ngưỡng mộ, chắc chắn không chỉ của một thế hệ…

Minh Hằng (Sưu tầm)

…Ngày nay, kiên định trong mọi tình huống, phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, nhân dân ta đoàn kết, đại đoàn kết, sẽ biến những ước mơ trở thành hiện thực, tiến lên tiếp tục đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giành những thắng lợi mới, phát triển với nhịp độ nhanh và bền vững.

Phải làm cho nước ta, một nước anh hùng nhưng còn nghèo nàn lạc hậu sớm khắc phục tình trạng tụt hậu, trở thành một nước anh hùng giàu mạnh và văn minh.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh

Đức nhân, trí, dũng: Ngày ấy và bây giờ

– Trong kháng chiến chống Mỹ, người Việt Nam thể hiện 3 đức tính ưu việt: nhân, trí, dũng. Cái nhân thì không đổi. Cái trí đang được phát huy mạnh, nhất là trong lĩnh vực học hành của giới trẻ. Bây giờ cũng đòi hỏi cái dũng lớn nhưng không phải cái dũng trong chiến tranh.

Cái dũng bây giờ là dám lao vào những địa hạt khó khăn. Nếu nhìn thấy khó khăn không dám nhảy vào thì khó mà vươn lên được. Chiếm đỉnh cao khoa học, sản xuất, kinh doanh đòi hỏi dũng khí rất lớn.

PGS Bùi Đình Thanh, Viện khoa học xã hội Việt Nam

(nhân Hội thảo khoa học “30 năm Đại thắng mùa xuân 1975 – Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” ngày 30-4-2005 với sự tham gia của nhiều tướng lĩnh từng tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975)

Việt Nam đang vững bước

– Ba thập niên sau chiến tranh, Việt Nam đang vững bước trên con đường đổi mới, cam kết hội nhập cộng đồng quốc tế, với đầy đủ khả năng và trách nhiệm của mình.

Thời báo Washington (ngày 29-4-2005)

Chuyện kể về “đường mòn Hồ Chí Minh” trên biển: Huyền thoại những con tàu

Cửa biển Thạnh Phong - đường vào các bến tiếp nhận vũ khí Bắc - Nam năm xưa

Trong 10 năm từ 1962 đến 1972, tại bến Đồ Sơn (Hải Phòng) đã có gần một trăm lượt con tàu bí mật của Đoàn 125 xuất phát, vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, phương tiện và hàng trăm cán bộ chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần làm nên nhiều chiến công vang dội. Bến Đồ Sơn còn được gọi mật danh là “K.15”.

Nơi xuất phát những con tàu bí mật vào Nam

Ngày 18/8/1960, một con tàu gỗ gắn máy thủy động cơ xuất phát từ Cồn Tra (xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, Bến Tre) mở đường đầu tiên (thời kỳ chống Mỹ) ra Bắc để xin chi viện vũ khí. Trên tàu này gồm có 8 đồng chí, do ông Lê Công là Bí thư chi bộ kiêm thuyền trưởng. Mật khẩu vượt biển vào lãnh hải miền Bắc xã hội chủ nghĩa là: “Đơn vị 106B đi tìm anh 3D”. Sau 4 ngày đêm vượt trùng dương, tàu của ông Lê Công đến miền Bắc an toàn, cuộc hải hành trên được hoàn toàn giữ kín. Sau khi ở lại Bắc gần hai năm để học đường lối, chủ trương của Đảng các thành viên trên tàu Lê Công được đưa đến bến Đồ Sơn (K.15) chờ bố trí tàu vận chuyển vũ khí vào Nam.

Vàm Khâu Băng - Thạnh Phong (Thạnh Phú, Bến Tre) - nơi bà Nguyễn Thị Định xuống tàu, xuất phát đầu tiên ra miền Bắc (năm 1946) xin chi viện vũ khí

Tại Cà Mau, ngày 20/7/1961, ông Bông Văn Dĩa (người Cà Mau) được Khu ủy Khu 8 và Tỉnh ủy Cà Mau cử ra Bắc cũng bằng con đường biển trên để liên hệ Trung ương chở vũ khí vào Cà Mau. Cũng giống như tàu của ông Lê Công, số chiến sĩ trên tàu của nhà cách mạng Bông Văn Dĩa được bố trí đến bến Đồ Sơn, chờ lệnh xuất phát về Nam.

Tại bến Đồ Sơn, đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy mang tên “Phương Đông 1” chở 30 tấn vũ khí do thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy, xuất phát lên đường vào Nam. Trước khi xuất phát, đích thân các nhà lãnh đạo Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà đến bến cảng Đồ Sơn động viên cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Đồng chí Phạm Hùng nói: “Các đồng chí là những người đầu tiên mở ra con đường biển Bắc – Nam này. Nó cũng giống như trên Trường Sơn kia, các đồng chí là những người tiên phong đi khai sơn phá thạch”. Sau 5 ngày vượt biển Đông, ngày 16/10/1962, tàu đến cửa Bồ Đề và cặp bến Vàm Lũng (xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) an toàn. Đây là chuyến chở vũ khí đầu tiên vào Nam bằng đường biển và con đường vận tải chiến lược trên biển Đông chính thức ra đời. Sau này, ông Bông Văn Dĩa được tuyên dương Anh hùng các LLVT Nhân dân.

Kế đến, ngày 11/11/1962, tàu của ông Lê Công được lệnh trở vào Nam, chở theo 75 tấn vũ khí. Ngày 18/11/1962, tàu cặp bến an toàn tại Vàm Lũng (Cà Mau). Đây là chuyến thứ hai chở vũ khí vào Nam thành công sau chuyến đầu tiên “Phương Đông 1” của ông BôngVăn Dĩa. Tàu trên còn có mật danh là “Phương Đông 2”.

Sau những chuyến tàu chở vũ khí đầu tiên do chính các chiến sĩ từ miền Nam xin chi viện, từ cuối năm 1962 đến 1972, tại Đồ Sơn (Hải Phòng) đã có gần 100 lượt tàu của Đoàn 125 HQ xuất phát “chở hàng” chi viện cho chiến trường miền Nam. Điểm đến là các bến: Tân Ân (Cà Mau), Thạnh Phong (Bến Tre), Vũng Rô (Phú Yên), Lộc An (Xuyên Mộc, Bà Rịa-Vũng Tàu), Đức Phổ, Sa Kỳ, Ba Làng An (Quảng Ngãi). Tất cả đã vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí và hàng trăm cán bộ cốt cán; góp phần làm nên nhiều chiến thắng vang dội. Hiện nay, di tích còn lại của bến Đồ Sơn (K.15) là 15 trụ bê-tông cầu cảng, cách mép bờ khoảng 30m. Còn trên bờ còn lại là một số nền móng kho hàng, bể nước.

Những bến tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam ít được nhắc đến

Ngoài những bến đã được báo chí nhắc đến nhiều như Thạnh Phong (Bến Tre), Vàm Lũng (Cà Mau), Vũng Rô (Phú Yên)… thì bến đến Lộc An và các bến đến tại Quảng Ngãi vẫn lặng lẽ theo năm tháng dù rằng trước đó, các bến tiếp nhận này đã góp phần rất lớn vào các chiến công tại miền Đông Nam bộ và Khu 5.

Bia lưu niệm bến đến Thạnh Phong - đường Hồ Chí Minh trên biển - tại đầu Vàm Khâu Băng do Lữ đoàn 125 HQ xây dựng

Bến Lộc An nay thuộc xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu). Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đoàn 125 HQ đã tổ chức 3 chuyến tàu cặp bến thành công, vận chuyển 109 tấn vũ khí, kịp thời trang bị cho quân dân các tỉnh miền Đông, Khu 6 tham gia các chiến dịch, góp phần làm nên chiến thắng như trận Bình Giã, Đồng Xoài, Dầu Tiếng, Bầu Bàng (1965). Có thể kể đến” Chuyến 1: Ngày 26/9/1963, chiếc tàu gỗ mang số hiệu 41 gồm 12 chiến sĩ do thuyền trưởng Lê Văn Một (vào Nam lần hai) và Chính trị viên Đặng Văn Thanh chỉ huy, chở 18 tấn vũ khí vào bến Lộc An. 3 giờ sáng ngày 2/10/1963, tàu cặp bến an toàn, lực lượng địa phương (Đoàn 1500) đã chờ sẵn ở bến để bốc hàng. Lúc này thủy triều bắt đầu rút làm tàu mắc cạn, gần đó là đồn địch (đồn Phước Hải); nhưng cán bộ, chiến sĩ tàu 41 đã mưu trí, dũng cảm bảo vệ an toàn con tàu và bến bãi. Chuyến 2: Ngày 29/11/1964, tàu mang số hiệu 56, gồm 16 chiến sĩ do thuyền trưởng Nguyễn Quốc Thắng và chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Tàu 56 chở 44 tấn vũ khí, cặp bến Lộc An an toàn, và chuyến hàng chiến lược này đã kịp thời trang bị cho các đơn vị chủ lực miền Đông, Khu 6 tham gia mở đợt 2 chiến dịch Bình Giã (1/1965). Chuyến 3: Vẫn tàu 56. Tàu do thuyền trưởng Lê Quốc Thân và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy, chở 47 tấn vũ khí xuất phát vào ngày 27/1/1965 và cặp bến Lộc An an toàn vào đêm 1/2/1965. Số vũ khí chở vào lần này tiếp tục trang bị cho quân dân Khu 6 tham gia giai đoạn 3 chiến dịch Bình Giã. Ngày 7/3/1965, chiến dịch Bình Giã kết thúc thắng lợi đã làm thất bại cơ bản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ – ngụy, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng miền Nam.

Nhưng các bến đến tại Quảng Ngãi mới thật mang nhiều ấn tượng. Tại đây, Đoàn 125 HQ đã tổ chức 4 chuyến (2 chuyến vào bến Đức Phổ, 1 chuyến vào bến Sa Kỳ, 1 chuyến vào bến Ba Làng An). Cả 4 chuyến đều gặp địch, cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã anh dũng chiến đấu, hủy tàu để không lọt vào tay địch và sau đó anh em thủy thủ vượt ngược Trường Sơn ra miền Bắc trở về đơn vị. Chuyến 1 (vào Đức Phổ – Quảng Ngãi): Ngày 19/11/1966, tàu mang số hiệu 41 được lệnh chở 59 tấn vũ khí vào Đức Phổ, trên tàu có 17 chiến sĩ, do thuyền trưởng Hồ Đắc Thanh và Chính trị viên Đặng Văn Thanh chỉ huy. Trên đường vượt biển, gặp thời tiết xấu nên tàu phải dừng lại nhiều lần trên biển. Đến đêm 23/11, tàu tiếp tục đi và đêm 26/11 tàu đến bến qui định, thả hàng trong điều kiện sóng to gió lớn. Rạng sáng 27/11, lúc tàu chuẩn bị quay ra thì bị mắc cạn. Để giữ bí mật, Chi ủy và chỉ huy tàu quyết định hủy tàu. Có điều tàu nổ không đúng thời gian đặt chất nổ làm 2 chiến sĩ hy sinh là Trần Nhợ và DươngVăn Lộc. Trong khi đó 15 thành viên còn lại, đã vào được đến bờ, sau đó tất cả đi bằng đường bộ, vượt dãy Trường Sơn và mãi đến 4 tháng sau mới trở về đơn vị an toàn. Chuyến 2 (vào Sa Kỳ): Ngày 14/3/1967, tàu 43 do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn, được lệnh chở 50 tấn vũ khí vào Sa Kỳ – Quảng Ngãi. 2 giờ sáng ngày 18/3/1967, khi tàu còn cách Sa Kỳ vài chục hải lý, anh em trên tàu thấy tàu địch bám theo tàu ta, còn trên không thì máy bay địch quần thảo, thả pháo sáng liên hồi, làm sáng rực cả một vùng biển đêm. Trước tình hình nguy cấp trên, anh em thủy thủ trên tàu quyết định phá vòng vây đưa tàu vào bến. Khi phá vòng vây, 3 tàu chiến địch bám theo, tàu 43 buộc phải nổ súng và cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra sau đó. Tàu chiến địch gọi điện cho nhiều máy báy đến yểm trợ. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra 3 giờ liền, tàu ta bị trúng đạn nặng, tình thế mỗi lúc thêm bất lợi, nếu tiếp tục chiến đấu, trời sẽ sáng và nhất định địch sẽ tăng cường lực lượng vây tàu ta. Nhận định vậy nên cấp ủy và chỉ huy tàu quyết định hủy tàu để không lọt vào tay địch. Hủy tàu xong, anh em thủy thủ bơi vào bờ an toàn rồi tìm đường trở ra Bắc. Chuyến 3 (vào Ba Làng An): Ngày 6/7/1967, tàu 148 gồm 18 đồng chí, do đồng chí thuyền trưởng Nguyễn Tấn Ích và Chính trị viên Huỳnh Ngọc Trạch chỉ huy, chở 56 tấn vũ khí vào Quảng Ngãi. Vào đêm 11/7, trên đường đi, tàu 148 gặp máy bay và tàu chiến địch bao vây, tàu 148 đánh trả và cơ động vào bến Ba Làng An. Địch đánh tàu ta bị thương nặng, Chính trị viên Huỳnh Ngọc Trạch và thuyền phó Phạm Chuyên Nghiệp hy sinh trong lúc chiến đấu. Ta không phá hủy được tàu và địch cho quân đến kéo tàu đi. Anh em thủy thủ còn lại bơi được vào bờ rồi đi bộ trở ra miền Bắc. Chuyến 4 (chuyến lần thứ hai vào Đức Phổ): Ngày 27/2/1968, tàu 43 gồm 16 đồng chí được lệnh chở 37 tấn vũ khí vào bến Đức Phổ (Đội tàu 43, sau chuyến đi lần trước đã chiến đấu anh dũng với địch, hủy tàu và trở lại miền Bắc anh em trong tàu được nhận một tàu mới, vẫn mang tên 43). Tàu 43 vẫn do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Ngày 29/2, khi tàu 43 đến gần bến Đức Phổ, cách bờ khoảng chục hải lý thì gặp cùng lúc 6 tàu địch và trực thăng tấn công tàu ta. Anh em trên tàu tổ chức đánh trả. Ta bắn rơi 1 trực thăng của địch, trong khi ta đã hy sinh 3 đồng chí: Vũ Văn Ruệ, Võ Nho Tòng và Phạm Văn Rai. Biết lực lượng địch đông, nếu tiếp tục chiến đấu địch có khả năng cướp tàu ta, nên chỉ huy lệnh cho anh em rút lên bờ và hủy tàu. Anh em còn lại trở về miền Bắc an toàn. Đây là lần thứ hai anh em chỉ huy, thủy thủ tàu 43 lại đi bộ, vượt Trường Sơn trở ra Bắc.

Đài kỷ niệm những con tàu không số tại ngã ba Thạnh Hải - Thạnh Phong

Từ năm 1968 đến 1972, Đoàn 125 HQ chuyển hướng, tập trung vận chuyển vũ khí Bắc – Nam vào sâu tận biển Nam bộ, chủ yếu đến bến Thạnh Phong (Bến Tre) và Tân Ân (Cà Mau). Đến ngày 21/11/1970, tàu 176 do đồng chí Lê Xuân Ngọc làm thuyền trưởng và đồng chí Trần Thành Trung là Chính trị viên chỉ huy bị lộ khi sắp vào bến Thạnh Phong (hủy tàu, ta hy sinh 10 đồng chí) từ đó, các tàu vận chuyển chuyển hẳn vào cặp bến ở các bến thuộc xã Tân Ân. Tại các bến ở Thạnh Phong và Cà Mau, còn là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt, anh dũng của cán bộ, chiến sĩ vận tải Đoàn 125 HQ anh hùng và quân dân địa phương với máy bay, tàu chiến, các cuộc hành quân qui mô lớn của địch để bảo vệ tàu và hàng. Các trận chiến đấu đó là những tấm gương cao đẹp về phẩm chất và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cán bộ, chiến sĩ Hải quân, đồng thời nói lên tính chất khốc liệt, đầy khó khăn nguy hiểm của công tác vận chuyển vũ khí bằng đường biển chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần đưa đến ngày đại thắng 30/4/1975.

Phan Lữ Hoàng Hà
(Nguồn: tư liệu thống kê của Đoàn 125 HQ)

Những ngày tháng không quên

Đầu năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết định bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Các đơn vị quân, dân, chính, đảng từ ngoài Bắc tiếp tục được chi viện miền Nam để tiếp quản vùng mới giải phóng. Không khí những ngày này thật sôi động, phấn chấn. Khi ấy, tôi phụ trách quản lý hậu cần cơ quan tỉnh bộ Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) Thái Bình .

Một ngày đầu tháng 4/1975, Chính ủy Lê Nguyên gọi tôi lên giao nhiệm vụ: “Bộ Tư lệnh cử đồng chí tham gia đoàn cán bộ CANDVT Thái Bình vào chi viện cho tỉnh Trà Vinh. Đồng chí phụ trách hậu cần cho đoàn quân chi viện. Đồng chí có ba ngày bàn giao công việc, thăm gia đình. Sáng ngày thứ tư có mặt theo đoàn hành quân”.

Tôi vội vã về Diêm Điền thăm gia đình rồi đưa con gái mới hai tuổi lên đơn vị chơi. Công việc bàn giao cũng thuận lợi. Tài sản, tài chính không thiếu thứ gì mà còn thừa hơn một tấn gạo. Các đồng chí lãnh đạo khen chưa bao giờ có việc bàn giao lại “đẹp” như thế. Ngay sau đó, tôi được thăng cấp từ Thượng sỹ lên Chuẩn úy, nhận nhiệm vụ phụ trách hậu cần, lo ăn uống, tài chính cho đoàn trên đường hành quân. Đoàn chúng tôi gồm 43 người. Hôm tôi đi, vợ tôi không về kịp. Tiễn tôi chỉ có cô em vợ, cô con gái nhỏ và nhiều bạn bè ở thị xã Thái Bình.

Mọi việc hoàn tất, đoàn trực chỉ phía Nam hành quân. Hết đường tàu hỏa chúng tôi chuyển sang ô tô. Cứ đến binh trạm là dừng lại ăn cơm và nhận thực phẩm khô. Đi cả ngày, lẫn đêm. Đến khuya, đoàn mới dừng chân, nghỉ tại chỗ mấy tiếng để cán bộ, chiến sỹ ngủ. Mọi người túa ra ven đường tìm chỗ tranh thủ ngả lưng. Tôi chứng kiến giây phút xúc động khi qua cầu Hiền Lương lịch sử. Thời gian này, một mũi quân ta đang tạm dừng ở phòng tuyến Xuân Lộc. Dọc đường đi, chúng tôi chứng kiến xe cộ, quân trang, quân dụng của địch vứt bừa bãi trên đường.

Ngày 27-4-1975, chúng tôi tập kết tại Trảng Bom (Đồng Nai). Vùng này vừa giải phóng, mùi khét lẹt của bom đạn vẫn chưa bay hết. Phía Sài Gòn, pháo đạn còn nổ ùng oàng. Một tuần liền, chúng tôi lập trại trong rừng cao su. Được nghe kể lại, nơi này đa phần là bà con giáo dân ngoài Bắc di cư. Trong trận chiến mấy bữa trước, bọn địch dựa vào các nhà thờ chống trả quyết liệt. Hai xe tăng T.54 và nhiều chiến sỹ ta đã hy sinh tại đây.

Ngày 5-5-1975, đoàn chúng tôi tiến thẳng vào Tổng nha Cảnh sát Quốc gia Sài Gòn qua cổng đối diện Ngã Sáu Cộng Hòa. Sài Gòn mới trải qua cuộc chiến nhưng không giấu được vẻ phồn hoa. Các công trình xây dựng không bị hư hại bao nhiêu. Đoàn ở đây hai ngày, ba đêm. Chúng tôi có dịp ngắm vài con phố quanh nơi đóng quân. Anh em có dịp đọc các báo, tạp chí của chế độ cũ chất đầy trong căn cứ của Tổng nha Cảnh sát ngụy. Nhiều tạp chí có hình ảnh sex làm anh em thấy lạ và ngượng.

Sáng 8-5-1975, Đoàn chúng tôi được lệnh xuống miền Tây Nam bộ, bảo vệ thành phố Cần Thơ, đề phòng địch phản kích. Đoàn ở trụ sở Sở An ninh Tây Nam bộ (Cần Thơ) một đêm rồi chuyển ra đóng quân ở ấp Đầu Sấu, thuộc huyện Cái Răng. Tôi và một sĩ quan nữa được phân công ở nhà má Năm. Gia đình má gồm 8 người, đều rất tình cảm với tôi. Hai ông bà rất hiền. Má Năm nhận tôi là con nuôi. Cô Tư hay… nhìn trộm tôi.

Hai tháng đóng quân ở Đầu Sấu, bà con Nam Bộ rất hiểu và yêu quý bộ đội miền Bắc. Trái cây, quà bánh, bà con thường xuyên dành cho anh em. Má Năm thấy tôi thích ăn cá lóc kho dừa, nên hay làm và trìu mến nhìn tôi ăn ngon lành. Đầu Sấu là cù lao trên sông nên chiều chiều thanh niên nam nữ cùng bộ đội tụ tập hát hò rất vui vẻ. Những tối sáng trăng, chúng tôi chèo ghe dọc sông thật thơ mộng. Có khi lại rủ nhau cả bầy sang Thị Trấn Cái Răng ăn hủ tiếu Nam Vang. Tình cảm quân dân gắn bó, khi chúng tôi đi, bà con khóc, ai cũng đỏ hoe đôi mắt.

Đầu tháng 7-1975, chúng tôi về Trà Vinh. Đây là một tỉnh nghèo của Tây Nam bộ, nằm sát biển (giáp Bến Tre, Sóc Trăng và Vĩnh Long). Sau này Trà Vinh nhập với Vĩnh Long thành tỉnh Vĩnh Trà. Tỉnh có đặc điểm là nhiều bà con người dân tộc KhơMe.

Đoàn tiếp quản căn cứ của lực luợng cảnh sát dã chiến nguỵ. Khu căn cứ nhìn thật thảm hại. Một ngôi nhà kiến trúc kiểu gôtic cũ kỹ, ba dãy nhà lợp tôn bao quanh, nóng như rang, trống trơn. Chẳng có bất cứ một thứ tài sản gì. Anh em phải trải chiếu nằm dưới đất. Đoàn nhập với lực lượng an ninh vũ trang Trà Vinh, mới từ trong rừng ra. Đơn vị được thành lập với tên gọi mới: CANDVT Trà Vinh. Tôi được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Hậu cần. Từ đó, dưới sự chỉ đạo của trên, chúng tôi triển khai các đồn biên phòng bờ biển, trung đội cơ động. Riêng tôi và phòng Hậu cần tích cực lo nơi ăn, chốn ở, tài sản, tài chính cho cơ quan và các đơn vị trực thuộc. Cuối năm 1975, mọi việc đã đi vào nền nếp…

Từ đó về sau, cứ mỗi dịp kỷ niệm giải phóng miền Nam, tôi lại rưng rưng nhớ lại những ngày đầu năm 1975 ấy. Những tháng ngày không thể nào quên trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Nguyễn Đức Đát