Linh hoạt sử dụng phương pháp bắn pháo binh

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Đại đội 26, Tiểu đoàn 2 (Đoàn Pháo binh 75 Nam Bộ) nhận nhiệm vụ dùng hỏa lực bắn kiềm chế sân bay Biên Hòa nhằm hạn chế khả năng hoạt động, tiến tới làm tê liệt hoàn toàn sân bay địch, góp phần bảo đảm cho các đơn vị chủ lực của ta cơ động triển khai trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong điều kiện khó khăn, thời gian gấp, Đại đội 26 đã tập trung lực lượng, thực hiện tốt công tác chuẩn bị để bước vào chiến đấu thắng lợi.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm sân bay Biên Hòa. Ảnh tư liệu.

Tuy mọi mặt công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, nhưng đại đội chưa thể khai hỏa vì thông tin liên lạc giữa đài quan sát và trận địa vẫn chưa thông suốt. Mặc dù chưa bắt được liên lạc với đại đội trưởng ở đài quan sát luồn sâu, song chấp hành lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, ngày 14-4-1975, chỉ huy Đại đội 26 quyết định thay đổi phương pháp bắn từ có quan sát và sửa bắn (qua bắn thử) sang bắn không quan sát thấy (bắn hiệu lực ngay), chỉ bắn một thước tầm và hướng bắn hỏa lực tập trung. Mục tiêu bắn đầu tiên, với số đạn bắn 24 viên trên 3 khẩu, theo phương pháp gấp bắn, ngay loạt đạn đầu đã trúng mục tiêu. Sân bay Biên Hòa bị tê liệt, sau 10 phút, trực thăng vũ trang của địch trong sân bay mới cất cánh cùng với máy bay trinh sát, phản lực chiến đấu từ sân bay khác đến quần lượn, ném bom, bắn rốc két xuống khu vực xung quanh trận địa pháo của ta. Pháo binh của địch ở gần sân bay cũng bắn dồn dập nhiều giờ vào những nơi nghi ngờ ta đặt trận địa pháo. Nhờ ngụy trang kín đáo bằng các trận địa giả, khéo nghi binh, sử dụng phương pháp bắn linh hoạt, Đại đội 26 vẫn giữ được bí mật, an toàn.

Sau một ngày tạm ngừng bắn, ngày 16-4, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào 3 mục tiêu khác trong sân bay kéo dài suốt ngày, với 52 viên đạn làm cho sân bay của địch bị tê liệt trong nhiều giờ. Bị đánh phá mạnh, địch phản ứng quyết liệt. Chúng cho máy bay nhiều lần ném bom vào trận địa pháo của ta và các khu vực xung quanh. Để bảo vệ trận địa pháo, Bộ chỉ huy chiến dịch điều thêm các khẩu đội pháo phòng không và đại đội bộ binh tăng cường bảo vệ, điều một đại đội ĐKZ của Đoàn Pháo binh 75 về tham gia chế áp pháo binh địch, hỗ trợ cho Đại đội 26 hoàn thành nhiệm vụ “khóa chặt sân bay Biên Hòa”. Các ngày tiếp theo, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào các mục tiêu khác trong sân bay, làm cho sân bay Biên Hòa hoàn toàn bị tê liệt, gây thiệt hại nặng nề cho địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Xuân Vũ

qdnd.vn

Advertisements

Tận dụng thế, bảo đảm tốt hậu cần cho cơ động nhanh, giành thắng lợi lớn

QĐND Online – Sáng 30-4-1975, Tổng thống ngụy Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh Sài Gòn, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi. Để giành được thắng lợi to lớn đó, chúng ta đã huy động một lượng lớn lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật vượt trội so với kẻ thù, hạn chế các bất lợi trong điều kiện tác chiến ở chiến trường có “không gian rộng”, “thời gian ngắn”… Đóng góp vào chiến thắng lịch sử vẻ vang đó có một phần rất lớn của công tác bảo đảm hậu cần.

Thế mới trong công tác bảo đảm hậu cần

Sau chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung, ngày 25-3-1975 Bộ Chính trị chủ trương, “Tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), binh khí, kỹ thuật và vật chất giải quyết xong Sài Gòn – Gia Định trước mùa mưa”. Tiếp đó vào ngày 30-3 và 14-4, Bộ Chính trị đã chính thức hạ quyết tâm mở chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn kết thúc chiến tranh.

Trong chiến dịch này ta chủ trương sử dụng lực lượng tiến công giải phóng Sài Gòn trên 5 hướng: Tây Bắc (hướng tiến công chủ yếu), hướng Bắc; hướng Đông Nam, hướng Đông, hướng Tây và Tây Nam. Lực lượng chủ lực gồm các Quân đoàn 1, 2, 3, 4; Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 8 và các đơn vị của các binh chủng, bộ đội địa phương của các tỉnh Bình Dương, Bình Phước cùng nhiều lực lượng khác được tăng cường phối thuộc hiệp đồng tác chiến. Do vậy nhu cầu bảo đảm vật chất hậu cần, kỹ thuật phục vụ chiến dịch  rất lớn, vừa phải bảo đảm cho quân ta chiến đấu tại chỗ, giữ vững các vùng giải phóng, vừa bảo đảm hành quân cơ động tác chiến trên khắp các chiến trường.

Trước tình hình đó, công tác hậu cần đã chủ động tận dụng “thế” chiến thắng của quân và dân ta; huy động tối đa nguồn nhân lực, vật lực hậu phương lớn miền Bắc, tập trung khai thác triệt để nguồn cung cấp hậu cần tại chỗ; hậu cần chiến lược và chiến dịch kết hợp chặt chẽ, thọc sâu, vươn xa, bảo đảm nhanh, đầy đủ và kịp thời để các lực lượng chủ lực tiến quân thần tốc, đập tan sào huyệt cuối cùng của chính quyền ngụy Sài Gòn.

Đoàn xe vận tải vượt Trường Sơn bảo đảm cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

“Mạng nhện” chiến lược

Để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh, trước đó ta đã làm thêm hàng nghìn ki-lô-mét đường chiến lược, chiến dịch; kéo dài đường ống dẫn dầu vào miền Đông Nam Bộ. Mạng đường cơ động chiến lược, chiến dịch chằng chịt, đan xen được ví như mạng nhện bao vây, chia cắt quân ngụy và sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn.

Tuyến vận tải quân sự đông Trường Sơn được nhanh chóng xây dựng từ đường số 9 qua các khu vực hậu phương của Trị Thiên, Khu 5, Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ. Với nỗ lực phi thường, trong hai năm (1973 và 1974) chúng ta đã xây dựng thêm 3.480 km đường ô tô (lớn hơn tổng chiều dài đường giao thông xây dựng trong 13 năm trước đó), đưa chiều dài mạng đường vận tải chiến lược lên 16.790km, với sáu trục dọc ở cả đông và tây Trường Sơn. Để đưa bộ đội cơ động áp sát mục tiêu chiến dịch, ta đã chủ động mở thêm mạng đường chiến dịch (ước khoảng 4.000km) nối liền với đường chiến lược. Như vậy, tính đến thời điểm trước khi diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã có mạng đương cơ động chiến lược và chiến dịch trên 20.000km nối liền hậu phương với chiến trường.

Mạng đường vận tải chiến lược ngày càng hoàn chỉnh, các lực lượng vận tải đã chuyển sang hình thức vận chuyển lớn theo đội hình trung đoàn tập trung trên cung độ dài để nâng cao hiệu suất. Trước khi bắt đầu chiến dịch ta đã có khoảng 6.770 ô tô làm nhiệm vụ vận chuyển chiến lược vào chiến trường. Chỉ đơn cử, ngày 25-3-1975, Quân đoàn 1 nhận lệnh hành quân gấp từ Tam Điệp (Ninh Bình) và có mặt tại Dầu Tiếng (Tây Ninh) ngày 20-4. Ngày 5-4, Quân đoàn 2 nhận lệnh cơ động ở Đà Nẵng, vừa hành quân vừa chiến đấu đập tan tuyến phò

Đoàn 125 Hải quân chở bộ đội tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Ảnh tư liệu.

Để bảo đảm nhiên liệu cho các phương tiện tham gia chiến dịch, ta đã hoàn chỉnh một hệ thống đường ống dài 4.490km từ hậu phương miền Bắc đến các chiến trường miền Nam theo hai trục đông và tây Trường Sơn, gồm 250 trạm bơm đẩy và hút, 46 kho dự trữ với 270.000 m3 nhiên liệu. Theo thống kê, từ năm 1973 đến giữa năm 1975, bộ đội hậu cần đã vận chuyển vào các chiến trường hơn 303.000 tấn nhiên liệu (gấp 2-3 lần kết quả vận chuyển từ năm 1965 đến năm 1972), riêng mấy tháng đầu năm 1975 đã vận chuyển được 100.000 tấn xăng dầu vào chiến trường, đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển cơ động binh khí, kỹ thuật trên các hướng.

Tính đến khi bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần chiến dịch đã tập trung lực lượng đưa vào miền Nam 115.000 quân và 90.000 tấn hàng, trong đó có 37 tấn vũ khí, 9.000 tấn xăng dầu. Riêng từ ngày 15 đến 26-4-1975, đã khai thác, vận chuyển được 24.000 tấn vũ khí, 25.000 tấn lương thực, thực phẩm, 1.000 tấn thuốc, tổ chức 5 trạm trung tu, 10 trạm sửa chữa pháo và xe tăng, phục vụ cơ động cho chiến dịch.

Tăng cường hậu cần tại chỗ

Song song với bảo đảm hậu cần chiến lược, ta chủ trương điều chỉnh bố trí các căn cứ hậu cần trong các vùng giải phóng trên các hướng chiến dịch. Quân khu Trị Thiên đã triển khai các căn cứ hậu cần trên hướng tiến công vào Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Quân khu 5 đã đã xây dựng căn cứ hậu cần phía sau của chiến trường, đồng thời triển khai các căn cứ hậu cần phía trước trên các hướng tiến công vào Quảng Nam – Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định và phát triển xuống Phú Yên và hướng lên Tây Nguyên.

Các quân khu thuộc B2 cùng các căn cứ hậu cần: Quân khu 6 trên hướng tiến công vào Phan Thiết, Hàm Tân. Quân Khu 7 trên hướng tiến quân vào ven đô và Sài Gòn, Mỹ Tho và lộ 4. Quân khu 9 trên hướng tiến quân vào đô thị, trọng điểm là Cần Thơ. Riêng ở chiến trường miền Đông Nam Bộ đã triển khai 8 căn cứ hậu cần liên hoàn (5 ở phía trước và 3 ở phía sau), hình thành thế trận hậu cần quanh Sài Gòn. Tính đến trước thời điểm diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần đã dự trữ được khoảng 250.000 tấn hàng các loại, thành lập 15 bệnh viện dã chiến, 17 đội điều trị với trên 10.000 giường bệnh để phục vụ bộ đội chiến đấu. Hậu cần miền Nam đã huy động lực lượng vận chuyển hàng hóa, vũ khí vào các kho, trạm của chiến dịch và tập trung sửa chữa, mở đường, bắc cầu, ưu tiên cho những tuyến đường trọng yếu cho các binh đoàn chủ lực tiến công cơ động, nhanh chóng, kịp thời, tạo một thế trận hậu cần liên hoàn, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch.

Ngày 22-4-1975, sau khi duyệt lại mọi mặt chuẩn bị, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định, thời cơ tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi và kết luận: “Ta đã hoàn thành việc tập trung lực lượng, tập trung khí tài kỹ thuật và các cơ sở vật chất khác đạt ưu thế áp đảo quân địch. Đã triển khai xong thế trận bao vây, chia cắt chiến dịch, cô lập Sài Gòn đến cao độ. Chiến dịch lịch sử này đã có những cơ sở đảm bảo chắc thắng”.

Như vậy, tính đến trước thời điểm diễn ra chiến dịch Hồ Chí Minh, ta đã giải quyết tốt vấn đề chiến trường có “không gian rộng”, “thời gian ngắn”, “lượng vật chất lớn”. Có được kết quả ấy là do ta có “thế” mới trên nền “thế” cũ đã được chuẩn bị từ nhiều năm trước, kịp thời phát huy “lực” sẵn có, kết hợp chặt chẽ giữa tuyến hậu cần chiến dịch và hậu cần chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho quân chủ lực của ta bao vây, truy kích thần tốc, tiến tới giành thắng lợi nhanh chóng và trọn vẹn trong trận đánh cuối cùng, lập nên chiến công vĩ đại.

Mạnh Thắng

qdnd.vn

5 cánh quân giải phóng Sài Gòn (Bài 3)

“Quả đấm thép” – ngày ấy… bây giờ

Được mệnh danh là “Quả đấm thép”, trong những ngày tháng 4 lịch sử, hòa chung với khí thế hừng hực của quân đội nhân dân Việt Nam, Binh đoàn Tây Nguyên – mũi tiến công thứ 3 trong 5 mũi tiến công của quân ta – đã đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu của ngụy và phi trường Tân Sơn Nhất, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

  • Chuyện kể của vị Đại tá

Tuy đã bước vào tuổi 62 nhưng Đại tá Phạm Chào – nguyên Cục trưởng Cục Chính trị – Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) vẫn rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Gương mặt ông như sáng bừng lên khi nghe chúng tôi hỏi về những ngày cùng với các đơn vị thuộc Binh đoàn Tây Nguyên tham gia vào các trận đánh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

9 giờ 30 ngày 30-4-1975, quân Giải phóng chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh tư liệu

Tháng 3-1975, chúng ta mở chiến dịch Nam Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột. Bằng nghệ thuật lừa địch, ta đã cắt rời địch thành hai mảng Nam và Bắc Tây Nguyên với các chiến trường khác, Quân đoàn 3 đã bí mật và bất ngờ tấn công Buôn Ma Thuột, tiêu diệt Sư đoàn 2, Sư đoàn 3 và toàn bộ lực lượng địch ở Buôn Ma Thuột; tiếp đó giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa và một phần tỉnh Bình Định. Ngày 10-3-1975, Buôn Ma Thuột hoàn toàn được giải phóng, chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng. Tây Nguyên được giải phóng hoàn toàn vào ngày 25-3-1975.

Sau khi chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam. Để đáp ứng yêu cầu, hoàn thành sứ mệnh cách mạng, ngày 26-3-1975, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Binh đoàn Tây Nguyên, từ những đơn vị chủ lực của Mặt trận B3. Ngày 12-4-1975, Binh đoàn Tây Nguyên hành quân về Đông Nam bộ mở chiến dịch mới.

Đồng chí Phạm Chào cho biết, dẫu sau chiến thắng ở chiến trường Tây Nguyên quân ta chưa được nghỉ ngơi, nhưng tất cả chiến sĩ của binh đoàn rất hồ hởi, khi được đóng góp sức mình vào chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng thống nhất đất nước, tất cả cùng hô to khẩu hiệu truyền miệng: “Thời cơ thôi thúc, nhiệm vụ vinh quang, xốc tới vươn lên, quyết giành toàn thắng”. Ngày 18-4-1975, Sư đoàn 470, 471 (thuộc Binh đoàn Tây Nguyên) hành quân đến Dầu Tiếng, vào rừng cao su củng cố lực lượng, chuẩn bị quân trang, quân dụng sẵn sàng chiến đấu. Ngày 24-4-1975, Binh đoàn Tây Nguyên được phổ biến chuẩn bị mở chiến dịch và sẽ đảm nhận một mũi thọc sâu vùng Tây Bắc Sài Gòn.

5 giờ 30 phút sáng 29-4-1975, từ vị trí tập kết ở rừng cao su Củ Chi, các đơn vị thuộc Binh đoàn Tây Nguyên đi vòng theo các đường 1 và đường 15 tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất theo 2 mũi, quân địch chống cự rất ác liệt nhằm ngăn chặn thế tấn công của bộ đội ta. Suốt một ngày chiến đấu (từ 5 giờ 30 phút sáng đến 14 giờ chiều), chúng ta với khí thế chiến đấu cao, vừa đi vừa đánh đã bắn cháy 5 xe tăng, 1 tiểu đoàn của địch, quét sạch hết mọi kháng cự của địch ở, trại huấn luyện Quang Trung, cầu Bông, kênh Xáng.

21 giờ 30 phút ngày 29-4-1975, ta chiếm luôn ngã tư Bảy Hiền, tiến sát đến cổng số 5 của sân bay Tân Sơn Nhất. 7 giờ sáng ngày 30-4-1975, quân ta với 2 mũi tấn công: Trung đoàn 24 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, Trung đoàn 28 đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu của ngụy, đến 9 giờ sáng chiếm Sở Chỉ huy không quân và Sư đoàn 5 không quân của địch, bắt sống được 3 đại tá. 11 giờ 30 phút, Trung đoàn 24 chiếm được toàn bộ sân bay Tân Sơn Nhất và Trung đoàn 28 phối hợp cùng đơn vị bạn chiếm Bộ Tổng tham mưu của địch. Sư đoàn 10 với nhiệm vụ thọc sâu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng cả nước hoàn thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

  • Binh đoàn Anh hùng

Hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Binh đoàn Tây Nguyên tiếp tục giúp các địa phương vùng giải phóng giữ vững chính quyền, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân khu vực Sài Gòn – Gia Định, Thủ Dầu Một, Củ Chi. Tháng 6-1976, binh đoàn về đứng chân ở miền Trung – Tây Nguyên làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tham gia xây dựng củng cố cơ sở chính trị tại địa phương và truy quét lực lượng Ful-rô, giữ vững an ninh, chính trị vùng giải phóng.

Đất nước vừa yên tiếng súng, hòa bình chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra, từng bộ phận và sau đó cả đội hình của Binh đoàn Tây Nguyên lên đường ra biên giới. Binh đoàn đã tổ chức nhiều chiến dịch, đánh hàng trăm trận, trừng trị và tiêu diệt nhiều đơn vị chủ lực của tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêngxari, bảo vệ chủ quyền biên giới Tây Nam của Tổ quốc, đồng thời giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Tháng 6-1979, binh đoàn hành quân ra phía Bắc làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Liên tục từ tháng 9-1985 đến tháng 7-1986, binh đoàn tiếp tục chiến đấu ở Vị Xuyên. Gần 10 năm ở đất Bắc, binh đoàn đã nỗ lực phấn đấu và đã trưởng thành về nhiều mặt.

Chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc kết thúc, năm 1987 từ miền Bắc, binh đoàn nhận nhiệm vụ trở lại Tây Nguyên. Vượt lên những khó khăn riêng tư, 100% cán bộ, chiến sĩ chấp hành mệnh lệnh lên đường. Đã 23 năm kể từ ngày trở lại Tây Nguyên, được sự đùm bọc, sẻ chia của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ binh đoàn đã nêu cao phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống bộ đội Tây Nguyên, đoàn kết một lòng, chủ động, sáng tạo vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng binh đoàn tiến bộ toàn diện.

ĐỨC TRUNG

Sau khi Sở Chỉ huy Quân đoàn 3 từ Tây Nguyên chuyển về Củ Chi, ngay trong đêm 28-4, Bộ Tư lệnh quân đoàn do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh và Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm chính ủy đã đề ra kế hoạch tấn công. Bộ Tư lệnh quân đoàn đã quyết định – đánh chiếm Cầu Bông, cầu Xáng và bàn đạp Hóc Môn để Sư đoàn 320A siết chặt vòng vây căn cứ Đồng Dù, nhốt chặt Sư đoàn 25 ngụy và bắt đầu cuộc tiến công của Binh đoàn Tây Nguyên theo hướng Tây Bắc vào Sài Gòn và hiệp điểm cùng các đơn vị khác tại Dinh Độc Lập.

Theo hiệp đồng chung, Sư đoàn 320A chỉ được phép dứt điểm căn cứ Đồng Dù trong thời gian từ 5 giờ 30 đến 10 giờ 30. Đồng Dù là một căn cứ lớn được Sư đoàn 25 ngụy, một đơn vị mạnh của địch trấn giữ nên để thực hiện yêu cầu – chỉ được phép đánh thắng trong thời gian ngắn là không dễ nên Bộ Tư lệnh quân đoàn phân công đồng chí Nguyễn Kim Tuấn, Phó Tư lệnh Quân đoàn trực tiếp chỉ huy trận đánh này. Đúng 5 giờ 30 ngày 29-4, Sư đoàn 320A nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù. Trong thời điểm Sư đoàn 320A đánh Đồng Dù thì Sư đoàn 316 đã tiến công chiếm chi khu Trảng Bàng.

Các cánh quân khác của Quân đoàn 3 đã liên tiếp chiếm các vị trí chiến lược theo kế hoạch: Sau 50 phút đánh áp sát, Tiểu đoàn 20 Đại đội 10 đã tiêu diệt địch đánh chiếm Cầu Bông. Sau 30 phút chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn đặc công 198 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64) đã làm chủ cầu Xáng. Trong ngày 29-4, theo tiêu lộ do công binh cắm sẵn hai trục đường 5 và 6, xe ủi đất đi trước húc tung các bờ ruộng, ụ đất mở đường cho xe tăng và xe chở quân đi vào Sài Gòn. 347 xe các loại chở Sư đoàn 10 tươi lá ngụy trang, cắm cờ Tổ quốc, cờ hai màu xanh – đỏ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đội hình hàng dọc nối nhau băng băng đi qua những cánh đồng Củ Chi, theo hướng Sài Gòn mà xốc tới.

17 giờ ngày 29-4, đội hình thọc sâu binh chủng hợp thành Trung đoàn 24 vượt cầu Tham Lương và tiến về áp sát ngã tư Bảy Hiền. Đến 21 giờ ngày 29-4, Trung đoàn 24 là mũi thọc sâu vào Sài Gòn sớm nhất của cánh quân hướng Tây Bắc.

Ngày 30-4-1975. 9 giờ 30 Sư đoàn 10 đã đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. 11 giờ đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) và Đại đội 6 (Tiểu đoàn 2) Trung đoàn 48 đã làm chủ Sở Chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy trong căn cứ Đồng Dù. Các điểm khác, Quân đoàn 3 đã tiến chiếm theo kế hoạch và họ cùng tiến về Sài Gòn.

Sau 1 ngày tiến công quyết liệt, Quân đoàn 3 đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở hướng Tây Bắc Sài Gòn với chiều dài 40km.

Đường vào Sài Gòn từ hướng Tây Bắc đã mở.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Hải – Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên cho biết, ra đời và lớn lên từ cao nguyên hùng vĩ, mang sức mạnh của Tây Nguyên, binh đoàn đã làm nên những chiến công hiển hách, những chiến thắng vang lừng từ Nam ra Bắc. Từ ngày trở lại Tây Nguyên, Binh đoàn Tây Nguyên đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương chủ động triển khai nhiều hình thức, biện pháp dân vận đạt hiệu quả tốt. Binh đoàn đã đưa hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ, hàng ngàn tổ, đội công tác về với các buôn, làng tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống mới. Từ đây mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân dân ngày càng bền chặt, tô thắm thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng người dân Tây Nguyên, như lời câu thơ:

Tây Nguyên ai một lần qua đó
Suốt cuộc đời nghĩ lại vẫn thương nhau.

Bài 1: Quân đoàn 1 mở cửa hướng Bắc
Bài 2: Quân đoàn 2 tiến về Sài Gòn từ hướng Đông Nam

SGGP Online

Thắng lợi của chính nghĩa và giá trị nhân văn

Tái hiện niềm vui ngày thống nhất đất nước 30/4/1975

(baodautu.vn) Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh cao là thắng lợi lịch sử 30/4/1975 đã mở ra kỷ nguyên mới – hoàn toàn độc lập, thống nhất, hòa bình, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngày 30/4 hàng năm đã trở thành ngày Quốc lễ – ngày hội thống nhất non sông – ngày hội hòa bình. Nhân Quốc lễ năm nay, Thiếu tướng, PGS.TS Vũ Quang Đạo, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam dành cho Báo Đầu tư cuộc trao đổi xung quanh trận đánh cuối cùng – trận đánh đem lại ngày hội hòa bình cho dân tộc.

Thưa Thiếu tướng, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được ghi nhận là một trong những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Vậy những điểm mang tính chất quyết định và những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự Việt Nam thể hiện trong chiến dịch này như thế nào?

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh không chỉ đứng ngang hàng với những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa… vĩ đại trong lịch sử, mà do tính chất của thời đại, chiến dịch còn có tiếng vang và sức lan tỏa lớn đối với lực lượng cách mạng và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Tính quyết định của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử trước hết do vị trí, vai trò của nó trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là trận quyết chiến cuối cùng, đem lại thắng lợi cuối cùng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sắc bén, sự nỗ lực tuyệt vời của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Chiến dịch hội tụ đầy đủ những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong Thời đại Hồ Chí Minh. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử dụng sức mạnh chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương với các đòn chủ lực ở các hướng trọng yếu; đúng đắn, sáng tạo trong nắm bắt và tận dụng thời cơ; táo bạo và cơ động trong sử dụng lực lượng…

Nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam còn thể hiện trong ý đồ chiến lược, chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật tổ chức chiến dịch, thể hiện trong việc xác định đúng mục tiêu chiến lược trong toàn bộ cuộc Tổng tiến công và mục tiêu của từng giai đoạn. Chúng ta đã thực hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh: trước hết là “đánh cho Mỹ cút”, ghi dấu bằng Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, tiến lên “đánh cho Ngụy nhào” – mà thực chất là quá trình “Mỹ cút” hoàn toàn – không thể can thiệp vào tình hình Việt Nam, với mốc son ngày 30/4/1975.

Thưa ông, chiến dịch cuối cùng giải phóng Sài Gòn – Gia Định được Bộ Chính trị quyết định lấy tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh” vào ngày 14/4. Việc chọn đặt tên như vậy có ý nghĩa như thế nào?

Chúng ta biết, chiều 14/4, ngay sau phiên họp của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn gửi bức điện số 37/TK tới Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định với nội dung: Bộ Chính trị đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Quyết định của Bộ thống soái tối cao thể theo đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch, nhưng đồng thời, nó đáp ứng được ý nguyện thiết tha, thiêng liêng của đồng bào, chiến sĩ cả nước. Trận quyết chiến chiến lược kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm được vinh dự mang tên lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Điều đó có ý nghĩa rất lớn, chẳng những thể hiện quyết tâm chiến lược giành thắng lợi cuối cùng, mà còn có tác dụng khích lệ, động viên khí thế của quân và dân ta tiến lên hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Là nơi chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước – nơi kết thúc hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do, vẹn toàn non sông gấm vóc Việt Nam, Sài Gòn – Gia Định đã trở thành TP.HCM trong kỷ nguyên hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo toàn quân vào trận cuối với tinh thần “thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam”. Đầu tháng 4/1975, Trung ương Cục miền Nam cũng ra chỉ thị cho quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ hãy “táo bạo đánh các điểm then chốt khi có thời cơ”. Thưa ông, vì sao trong bối cảnh đó, chúng ta đặt vấn đề và nhấn mạnh phải “táo bạo”? Thực tế thì chúng ta đã thể hiện sự “táo bạo” đó như thế nào và đạt những kết quả cụ thể ra sao?

Phải thấy rằng, ý nghĩa chủ yếu của “táo bạo” chính là việc chớp “thời cơ”, tận dụng thời cơ. Thời cơ được tạo nên từ nhiều nhân tố và chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, bởi vậy phải hành động rất “táo bạo”. Đó là, táo bạo để địch bị bất ngờ, không kịp co cụm, phòng thủ; táo bạo để các thế lực khác không thể can thiệp vào cuộc chiến; táo bạo trong điều động, sử dụng lực lượng, mở đòn thọc sâu vào sào huyệt của đối phương.

Cần nói thêm rằng, vào thời điểm đó, táo bạo thể hiện tinh thần kiên quyết tiến công địch, trên cơ sở tính toán đầy đủ mọi khả năng để giành thắng lợi cuối cùng. Một trong những minh chứng sinh động cho sự “táo bạo” đó là trường hợp Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang. Các đơn vị của Quân đoàn đã thực hiện “đánh địch trong hành tiến”, vượt qua 6 con sông lớn trong lúc nhiều cầu đã bị phá hủy, đập tan phòng tuyến Phan Rang, tập kết lực lượng đúng thời điểm quy định để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

Như vậy, có thể nói, khi “thời gian là lực lượng”, thì phương châm hành động phải là “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” và nhịp độ của cuộc tiến công được tính “một ngày bằng hai mươi năm”.

Khi thời cơ đã nối tiếp thời cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị xác định, “từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân, dân ta đã bắt đầu”. Theo dư luận nước ngoài, vào thời điểm đó, người ta thấy có những toan tính về kết cục của cuộc chiến tranh thông qua thương lượng. Thực chất của những “động thái” ấy là muốn làm chậm bước tiến của quân ta, ngăn trở thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp cách mạng mà nhân dân ta đã đổ bao máu xương mới giành được. Nói cách khác, họ muốn giữ cho chế độ Việt Nam cộng hòa không sụp đổ. Từ góc độ của một nhà nghiên cứu, ông có thể cung cấp thêm những thông tin, đánh giá khách quan của những người phía bên kia chiến tuyến, cũng như của dư luận thế giới về cục diện cuộc chiến khi đó?

Đúng là đã có sự can dự của các thế lực bên ngoài nhằm cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Ngụy quyền Sài Gòn. Họ muốn đưa những quan chức cũ của Sài Gòn lên nắm quyền hòng tìm kiếm một giải pháp chính trị có lợi cho họ thông qua thương lượng. Tuy nhiên, khi mà nước Mỹ đã tỏ ra bất lực, quốc hội Mỹ vào giữa tháng 4/1975 chỉ thông qua khoản ngân sách 300 triệu USD theo họ là vào những mục đích nhân đạo, cùng với việc cho phép quân đội tham gia việc di tản người Mỹ; ngày 17/4, Kissinger (ngoại trưởng Mỹ) bình luận: “Cuộc tranh luận về chiến tranh Việt Nam đã xong” và mấy ngày sau đó, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố một điều đã trở nên rõ ràng: “Cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”, thì dường như, mọi toan tính nhằm ngăn trở bước đường giành thắng lợi cuối cùng của nhân dân ta đều trở nên vô nghĩa.

Chúng ta đã có những nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, khách quan về nguyên nhân thành công của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nói riêng, cũng như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung. Vậy giá trị cốt lõi để làm nên chiến thắng oanh liệt đó của dân tộc ta là gì, thưa Thiếu tướng?

Mấy thập niên qua, chúng ta đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá, nhiều góc độ tiếp cận về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nói riêng, về cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung. Có thể thấy rằng, thắng lợi đó xuất phát từ nhiều yếu tố, trước hết là đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, từ khi lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đến cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược, và đến cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mỹ; đó là kết quả của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam; đó là kết quả của tinh thần đại đoàn kết dân tộc…

Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trước hết là thắng lợi của chính nghĩa, của những giá trị nhân văn, cội rễ văn hóa của dân tộc.

Trong lịch sử, Nguyễn Trãi từng nêu “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói, “lấy chính nghĩa để thắng phi nghĩa”.

Chúng ta đã chủ trương “táo bạo”, “thần tốc”, rút ngắn thời gian, giành thắng lợi theo cách tránh tối đa sự hao tổn xương máu. Mục tiêu đầu tiên là chúng ta giành thắng lợi để cứu rất nhiều con người – không chỉ của dân tộc Việt Nam mà cả các dân tộc khác – khỏi ách đô hộ đế quốc, thực dân. Do đó, chính cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đã làm nên nét đẹp cho “văn hóa giữ nước” của dân tộc Việt Nam, tô điểm thêm hình tượng của quân đội nhân dân, của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Nhiều kẻ vì động cơ cá nhân, mục tiêu tư lợi đã lên tiếng phê phán cuộc chiến là “nồi da, xáo thịt”, rêu rao sẽ có cuộc “tắm máu” khi cuộc chiến kết thúc… Thực tế lịch sử đã minh chứng, sau thắng lợi Xuân 1975 không có chia cắt, chỉ có thống nhất; không có “tắm máu”, chỉ có hòa hợp dân tộc, thống nhất và hòa bình cho đất nước. Và điều đó càng chứng tỏ giá trị nhân văn nằm trong cội rễ văn hóa Việt Nam, là mục tiêu và là động lực để cuộc kháng chiến thần thánh của chúng ta đi đến thắng lợi vĩ đại cuối cùng.

Huy Hào thực hiện

baodautu.vn

Thơ ngày Chiến thắng

QĐND Online – Ngày toàn thắng 30-4-1975 trở thành một dấu mốc quan trọng trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Miền Nam yêu dấu được giải phóng, đất nước Việt Nam thống nhất “từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Mở ra một trang sử mới tươi đẹp và thiêng liêng của dân tộc. Trong không khí hân hoan của giờ phút lịch sử ấy, nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại những xúc cảm không thể nào quên:

Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa.

Cho chúng con giữa Vui này được khóc
Hôn mỗi đứa em, ôm mỗi mẹ già
Như lòng Bác, mỗi khi Bác đọc
Đồng bào miền Nam, mắt kính bỗng nhoà.
(Toàn thắng về ta)

Nếu như những thước phim tư liệu, những tác phẩm nhiếp ảnh, báo chí… ghi lại từng khoảnh khắc chân thực của ngày chiến thắng thì thơ ca lại gợi cho người đọc niềm cảm xúc hân hoan như thể ta đang được đi dưới màu cờ hoa rực rỡ của ngày 30-4 ấy. Chính cảm xúc đã giúp cho những hình ảnh kia luôn có sức sống, tạo ra một sự chuyển động như thể đang diễn ra trước mắt, xoá nhoà khoảng ngăn cách của thời gian.

Xe tăng húc đổ cổng rào và tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu/internet.

Hình ảnh đoàn quân chiến thắng tiến vào thành phố Sài Gòn được nhà thơ tái hiện như một cuộc gặp gỡ của một gia đình ấm cúng. Những “em”, những “mẹ” trong vòng tay của những người con miền Bắc đã nói lên tất cả: Ngày đoàn tụ thiêng liêng nhất của dân tộc là đây. Thời khắc mà vị Cha già kính yêu đã từng mong mỏi, đã từng nhoà nước mắt khi nhắc đến “Đồng bào miền Nam” ruột thịt thân thương.

Cũng với niềm cảm xúc ấy, nhà thơ Bằng Việt, với đôi chân của người phóng viên chiến trường đã theo sát những bước tiến của cuộc Tổng tiến công mùa xuân lịch sử. Dường như không kìm nén được những xúc cảm anh đã thốt lên những câu thơ mộc mạc mà sâu lắng trong đêm 30-4 năm ấy:

Đi giữa phố, khóc cười như trẻ nhỏ…
Cái giây phút một đời người mới có
Thật đây rồi, vẫn cứ nghĩ như mơ.

Niềm vui của người phóng viên trẻ khi được kết tinh trong một câu thơ đầy hứng khởi: “Cái giây phút một đời người mới có”. Giây phút ấy quý giá vô ngần, bỗng dưng lại được trở về hồn nhiên như trẻ nhỏ, bỗng dưng không tin nổi những gì đang chứng kiến bởi chiến thắng ấy kì vĩ như một huyền thoại, lung linh như một giấc mơ.

Nhưng bên cạnh gam màu vui tươi, thơ viết trong ngày toàn thắng còn mang một gam màu trầm lắng, suy tư của thế hệ những người lính luôn ý thức được sứ mệnh của lịch sử:

Ta vào Sài Gòn… theo lời Di chúc
Vào nội ô sáng rực tên Người
Sài Gòn nhìn ta bằng đôi mắt
Ba mươi năm trông ngóng Sài Gòn ơi!
(Nguyễn Bá)

Nhà thơ nhìn thành phố Sài Gòn hoa lệ bằng cái nhìn xuyên thấm của chiều sâu nội cảm. Nhìn thấy đôi mắt của Sài Gòn mỏi mòn trông ngóng từ độ Mậu Thân, đôi mắt chờ mong của nhưng người dân yêu nước và yêu chuộng hoà bình. Ba mươi năm đồng bào ta đã phải chịu bao nhiêu hi sinh vất vả. Giờ đây tất cả đã bừng sáng với tên gọi thiêng liêng: Thành phố Hồ Chí Minh yêu dấu.

Nhắc đến thắng lợi ấy, còn phải nhớ về những gian lao, vất vả, những hi sinh trên chặng đường tiến vào giải phóng Sài Gòn . Nhà thơ Ngô Thế Oanh nhớ đến những đồng đội đã anh dũng ngã xuống không được chứng kiến ngày toàn thắng:

Quân phục đẫm mồ hôi bụi đất
Chiếc bi-đông chuyền tay cứu khát
Những vòm sao cao vút trên đầu
Cụm mây trắng tinh di động về đâu.
Đồng đội của tôi, đồng đội của tôi
Nói gì được nữa đây trong buổi mai toàn thắng.
(Khoảng lặng yên tháng tư)

Người con của miền Bắc hân hoan được gặp những “mẹ”, những “em” của miền Nam ruột thịt bởi niềm vui đất nước được toàn vẹn, niềm vui được nhân lên. Trong khí ấy, những người con miền Nam nghẹn ngào cảm xúc khi được trở về mảnh đất quê hương sau bao ngày xa cách:

Chúng con đi mờ khuất dãy Trường Sơn.
Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương
Như hôn người yêu sau ngày xa cách
Tôi không khóc nhưng bỗng trào nước mắt
(Con đã về với mẹ quê hương)

Hình ảnh nước mắt trào lên đôi mắt người chiến sĩ miền Nam thật cảm động và giàu sức gợi. Đó là những gì đã kìm nét suốt ba mươi năm lịch sử để mong ngày đoàn tụ. Là một tinh thần bi tráng được thể hiện trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc. Đã bao lần giặc tàn phá quê hương miền Nam, nhưng người chiến sĩ đã biết kìm nén đau thương để biến nó thành một sức mạnh quật khởi. Và cũng chính sức mạnh ấy đã làm nên một chiến thắng vĩ đại như thế.

Hơn ba mươi năm đã trôi qua. Đọc lại những vần thơ chiến thắng trong ngày 30-4 này chúng ta như được sống lại với cảm xúc và không khí của thời khắc ấy. Những vần thơ đã được khắc ghi trong lòng bạn đọc và sẽ mãi còn được ngân vang như một khúc khải hoàn dưới màu cờ hoa rực rỡ.

Bùi Việt Phương

qdnd.vn

Yêu nước

“Tình yêu nước ban đầu là tình yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu dãy phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu…”, câu văn ấy từng đọng lại trong tâm hồn một thế hệ học sinh kháng chiến những năm 50, để rồi vì tình yêu ấy mà họ “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”. Vì tình yêu nước, nhiều thế hệ trẻ VN đã hiến dâng đời mình cho Tổ quốc, có vậy mới có ngày 30 tháng 4 lịch sử hôm nay.

Đương nhiên, không một dân tộc nào sống trên quả đất này mà lại không yêu đất nước của mình. Nhưng tùy theo sự hình thành quốc gia, dân tộc trên những vùng lãnh thổ khác nhau, trong những điều kiện không giống nhau, tính thường trực và nhạy cảm của lòng yêu nước cũng sẽ không có những biểu hiện như nhau.  Arnold Toynbee, nhà sử học lớn nhất của thế kỷ XX, qua nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới từng đưa ra nhận định: “thành công của con người thường là kết quả sự chống trả đối với thách thức”.  Điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc ta trong một vị thế địa-chính trị “trứng nằm dưới đá”, triền miên phải đối diện với các thế lực xâm lược luôn lớn hơn mình gấp bội, “sự chống trả đối với thách thức” ấy quả là khốc liệt. Nhưng cũng chính vì thế, lòng yêu nước trở thành một đặc điểm nổi bật trong tính cách VN. Chạm vào điểm nhạy cảm bậc nhất này trong nỗi niềm VN sẽ rung lên những cung bậc hết sức mãnh liệt và đa dạng trong bản giao hưởng tình cảm và hành động VN, đặc biệt là trong thế hệ trẻ, nguồn sinh lực sung sức nhất của dân tộc.  Với ngày 30.4.1975, lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc như trỗi dậy, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc trường chinh cứu nước gần một phần ba thế kỷ của mấy thế hệ VN, non sông đã quy về một mối. Rồi hơn một phần ba thế kỷ nữa trôi qua, cao trào của bản giao hưởng nỗi niềm dân tộc, sự sục sôi của tình cảm yêu nước trong mọi trái tim VN ở mọi cung bậc khác nhau ấy của đủ mọi tầng lớp xã hội vẫn là nét đẹp nhất của đời sống tinh thần VN.

Từ đỉnh cao chiến thắng, mấy ai lường hết được những gì rồi sẽ xảy ra. Điều ấy là thường tình. Những khó khăn dồn dập, thế nước có lúc chung chiêng bên bờ vực của cuộc khủng hoảng kéo dài, nhưng rồi sức sống VN trỗi dậy, tạo ra bước ngoặt quyết định của Đổi Mới, đưa đất nước bứt lên. Và chính trong bối cảnh ấy, là đồng tác giả của Đổi Mới, các tầng lớp nhân dân đã biểu thị lòng yêu nước của mình trong vô vàn những trạng huống cực kỳ phong phú.

Khi có độ lùi về thời gian để tỉnh táo suy tư về dòng chảy của những sự kiện mới thấy hết ý nghĩa lạ lùng của nó. Chẳng hạn như, sức quật khởi cứu nước dạo nào vào lúc cam go trước Đổi Mới lại biểu hiện ra trong sự “phá rào” để “khoán chui” của người nông dân vừa buông tay súng để nắm lại tay cày, tháo gỡ thế bế tắc, đẩy cuộc sống đi tới. Chính sức năng động tự thân của cuộc sống, một dạng biểu hiện thầm lặng của truyền thống yêu nước, đã “cứu một bàn thua trông thấy” trong nông nghiệp nông thôn để rồi tác động đến công nghiệp và đô thị, khởi động sự nghiệp Đổi Mới do Đảng lãnh đạo, mà nếu không có nó, thì không có được những thành tựu như đã có.

Tuổi trẻ hôm nay đang được thử thách trong một nhiệm vụ mà xem ra cũng gian nan không kém so với cha anh. Họ phải đưa đất nước bứt lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu để bước vào quỹ đạo của phát triển mà do một thời “bút nghiên phải xếp lại” đã bị lạc hậu, không những thế, có lĩnh vực đã lạc điệu trong quỹ đạo đó. Người ta ngày càng nhận ra rằng, “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn to đẹp hơn” khó khăn không kém, thậm chí trên nhiều khía cạnh còn nghiệt ngã hơn nhiều, so với đấu tranh giành lại nước từ tay quân thù.

Khi “sơn hà nguy biến” trước giặc ngoại xâm thì phải bằng súng gươm để hóa giải, nhưng khi đất nước đối diện với nghèo nàn và lạc hậu, với tham nhũng và thoái hóa của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức quyền, thì phải bằng bản lĩnh và trí tuệ của tuổi trẻ để giúp nước. Cuộc chiến đấu này không có gươm súng, không dàn thành trận tuyến nhưng “là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra cái mới mẻ tốt tươi” như Bác Hồ đã chỉ ra. Bác gọi đây là “cuộc chiến đấu khổng lồ” mà muốn giành thắng lợi thì phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

Trong “lực lượng vĩ đại” đó, tuổi trẻ phải là lực lượng xung kích. Chính vì không dàn thành trận tuyến nên bản lĩnh cá nhân trên từng chỗ đứng của mình có ý nghĩa quyết định sự thành bại.

Biết đánh thức sức mạnh của tình yêu nước trong bầu nhiệt huyết của thanh niên, điểm nhạy cảm nhất trong tâm thức VN, đánh thức tiềm lực trong những trái tim thế hệ trẻ, mới tạo ra được những biến chuyển mang tính đột phá, đưa đất nước bứt lên trong nhịp phát triển của thời đại.

Tương Lai

thanhnien.com.vn

Mặt trận nam Đà nẵng 1975

So sánh lực lượng

Thế bố trí của địch năm 1975, nếu bị đánh mạnh trên toàn miền Nam thì rõ ràng địch không có khả năng tăng viện cho nhau. Với lực lượng tại chỗ tại đồng bằng khu 5, khả năng cao nhất của địch tập trung vào một khu vực nóng là 4-5 trung đoàn bộ binh và 1-2 chi đoàn xe tăng, thiết giáp.

Trong trường hợp buộc phải rút quân dù chi viện cho nơi khác thì khả năng đó còn thấp hơn. Đó là chưa kể yếu tố tâm lý khi “vắng” quân dù, quân đồn trú sẽ rất lo ngại.

Về ta, sau khi sư đoàn 3 vào đánh cắt đường số 19 phối hợp với chiến dịch Tây Nguyên, quân khu 5 đã giao nhiệm vụ đánh địch ở từng chiến trường, chủ lực còn lại gồm 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 1 trung đoàn và phần lớn binh khí kỹ thuật đều tập trung vào khu trọng điểm chiến dịch (tây Tam Kỳ). Như vậy so sánh lực lượng bộ binh khi bước vào chiến dịch, trên hướng trọng điểm sẽ là ta 1/ địch 1.

Lực lượng quân Ngụy Sài Gòn năm 1975 ở đồng bằng ven biển miền Trung có 4 sư đoàn, 3 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp, 16 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo (không kể không quân). So sánh lực lượng địch-ta thì về bộ binh, địch 1,9/ta 1; về pháo và xe tăng thiết giáp, địch từ 3-5/ta 1. Nếu tính riêng chiến trường trọng điểm Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi thì về bộ binh, địch 2,2/ta 1. Vấn đề đặt ra làm thế nào để có ưu thế chiến dịch, nhất là phải có ưu thế lực lượng hơn hẳn địch trong các trận đánh then chốt để giành thắng lợi nhanh và gọn.

Hai biện pháp lớn

Để tạo ra ưu thế hơn hẳn địch ở hướng trọng điểm chiến dịch, quân khu đã cho thực hiện hai biện pháp lớn:

Một là, do bị uy hiếp mạnh bởi thế trận của ta tạo ra sau hè – thu 1974, lực lượng chủ lực địch ở ba tỉnh nam quân khu 1 địch buộc phải giãn ra đối phó với ta ở Thượng Đức (Quảng Đà), tây Quế Sơn (Quảng Nam), Nghĩa Hành – Minh Long (Quảng Nghãi) và trên vành đai bảo vệ Đà Nẵng. Quân khu đã chủ động mở trước các chiến dịch tiến công tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương để nghi binh, kiềm giữ, buộc chủ lực địch phải đối phó với các lực lượng địa phương ta ngay tại khu vực đang đứng chân, tạo điều kiện cho chủ lực ta tập trung trên hướng chủ yếu và bất ngờ tiến công địch.

Hai là, sử dụng các trung đoàn tập trung của Quảng Ngãi tổ chức khu chiến đánh cắt giao thông trên đoạn Đốc Sỏi (giữa Chu Lai và Quảng Ngãi) với nhiệm vụ lức đầu giữ chặt không cho sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra ứng cứu cho Tam Kỳ, sau đó theo mệnh lệnh của quân khu mở cửa cho từng trung đoàn địch đi vào khu chiến theo ý định của chiến dịch.

Dùng các tiểu đoàn tập trung của Quảng Nam thọc xuống vùng đông Thăng Bình diệt địch, giành quyền làm chủ, kéo trung đoàn 2 của sư đoàn 3 ngụy xuống và treo chân địch lại ở đó.

Trung đoàn tập trung của Quảng Đà mở khu chiến ở Gò Nổi và đường số 100 diệt địch, tiếp tục kiềm chân sư đoàn 3 (thiếu) của địch tại địa phương.

Tình hình đã diễn ra đúng như ý định chiến dịch của ta: Từ đầu tháng 3 năm 1975, chiến dịch tiến công tổng hợp của các địa phương bắt đầu. Chủ lực địch bị kiềm giữ tại chỗ, ta triển khai lực lượng chiến dịch trên hướng chủ yếu hoàn toàn bí mật bất ngờ.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, trong khi ở nam Tây Nguyên ta tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, thì chủ lực của quân khu 5 với ưu thế lực lượng hơn hẳn địch đã tiến công tiêu diệt và phá vỡ hoàn toàn cụm phòng ngự, cơ bản Tiên Phước – Phương Lâm, lá chắn trực tiếp bảo vệ cho thị xã Tam Kỳ; chiếm giữ và khống chế toàn bộ các điểm cao phía tây Tam Kỳ, hình thành thế trận sẵn sàng đánh tiêu diệt từng trung đoàn chủ lực ngụy vào ứng cứu.

Quân địch hốt hoảng vội vã điều lực lượng về ứng cứu. Nhưng theo đúng kế hoạch, sau khi “thả” cho trung đoàn 5 đi qua, lực lượng địa phương Quảng Ngãi đã khoá chặt lực lượng còn lại của sư đoàn 2 ngụy tại chỗ. Ở Quảng Nam, trung đoàn 2, sư đoàn 3 ngụy vừa rục rịch cơ động cũng bị lực lượng ta kéo xuống vùng đông và giam chân tại đó. Trong lúc đó sư đoàn 3 (thiếu) cũng bị lực lượng Quảng Đà giữ chân lại.

Ngoài trung đoàn 5, sư đoàn 2, quân địch chỉ đưa thêm được đến tây Tam Kỳ liên đoàn 12 biệt động quân. Giờ đây, so sánh lực lượng tại khu trọng điểm chiến dịch trong thời điểm này, về bộ binh, ta 2,5/địch 1. Ta khống chế được địa hình có lợi và dựa vào ưu thế binh lực hơn hẳn địch, ta chủ trương tập trung lực lượng đánh tiêu diệt hoặc đánh thiệt hại nặng làm mất sức chiến đấu từng trung đoàn chủ

lực, tiêu diệt và đánh cạn lực lượng chủ lực cơ động ngụy đi ứng cứu, tạo ra thời cơ trực tiếp giải phóng Tam Kỳ – Quảng Ngãi, thực hiện chia cắt địch về chiến lược đồng bằng ven biển.

Tiến công áp đảo

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, sau hơn 6 giờ tiến công áp đảo, ta đã đánh thiệt hại nặng cả trung đoàn 5 và liên đoàn 12 biệt động quân ngụy. Quân địch lại phải vét lực lượng

tăng cường phòng thủ Tam Kỳ nhưng chúng cũng chỉ có thêm được một trung đoàn, vì “cánh cửa” bắc Quảng Ngãi của ta đã khoá chặt sau khi cho trung đoàn 4 ngụy đi qua, trong lúc các đơn vị khác vẫn bị giam chân tại chỗ.
Lúc này tình hình tác chiến chung đang phát triển như vũ bão và rất thuận lợi cho ta. Toàn bộ lực lượng ở Tây Nguyên đã bị tiêu diệt, chủ lực ta từ phía tây đang tràn xuống các tỉnh phía nam quân khu. Ở phía bắc, ta đã giải phóng Quảng Trị và đang từ ba mặt bao vây tiến công địch ở Thừa Thiên Huế.

Tuy chủ trương đánh tiêu diệt lực lượng cơ động ngụy mà chủ yếu là sư đoàn 2 ngụy, mới được thực hiện một phần, nhưng thời cơ đã xuất hiện, việc giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi đã trở thành một khả năng thực tế và cấp bách. Toàn bộ lực lượng dự trữ của quân khu được tung vào chiến đấu.
Ngày 24 tháng 3, ở phía bắc sư đoàn 2 của ta đột phá vào Tam Kỳ, trung đoàn 36 đánh chiếm quận lỵ, Lý Tín, chia cắt giữa Tam Kỳ và Chu Lai. Hai tiểu đoàn tập trung của Quảng Nam từ đông Thăng Bình vòng về phía nam, hình thành mũi vu hồi lợi hại từ phía đông đánh lên. Ở phía nam, trong lúc lữ đoàn 52 (thiếu) cùng 3 tiểu đoàn đặc công và một bộ phận pháo binh, thiết giáp của quân khu phối hợp với hai tiểu đoàn tập trung tỉnh tiến công vào thị xã Quảng Ngãi thì trung đoàn địa phương 94 bao vây tiêu diệt các đơn vị cơ động còn lại của quân ngụy đang tìm đường tháo chạy về Chu Lai. Quần chúng khắp nơi nổi dậy giành quyền làm chủ và kêu gọi địch bỏ vũ khí về với nhân dân.

Thực hiện chia cắt

Trên thế áp đảo, đến 11 giờ ngày 24 tháng 3 ta đã hoàn toàn làm chủ thị xã Tam Kỳ và 23 giờ 30 cùng ngày giải phóng thị xã Quảng Ngãi, tiêu diệt sư đoàn 2, 2 liên

đoàn biệt động, 2 thiết đoàn của ngụy.Như vậy là với một lực lượng chủ lực ít hơn địch, nhưng do khéo tổ chức và kết hợp các lực lượng, các khu chiến của chủ lực và địa phương, ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, tạo được ưu thế lực lượng hơn hẳn địch trong các trận then chốt. Kết quả đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động của quân khu 1 ngụy, thực hiện chia cắt quân địch về chiến lược trên chiến trường đồng bằng, cô lập Đà Nẵng về phía nam, góp phần tạo ra thời cơ tiêu diệt lực lượng còn lại của quân khu 1 địch.

Chuyển hướng tiến công ra Đà Nẵng
Kiên quyết bỏ qua các mục tiêu thứ yếu, tiến thẳng đến mục tiêu chủ yếu.

Chiến dịch tiến công của quân khu 5 trên hướng Tam Kỳ – Quảng Ngãi lúc đầu mang tính chất địa phương, nhằm phối hợp chiến trường chung và giành một thắng lợi quân sự cục bộ, tạo lực tạo thế, tạo thời cơ cho các chiến dịch tiếp theo. Dựa vào thế tiến công chung trên toàn chiến trường miền Nam, chiến dịch đã phát triển thuận lợi, giành thắng lợi lớn trong thời gian ngắn, và cùng với thắng lợi chung, tạo ra thế bao vây chia cắt, cô lập căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng từ ba hướng bắc, tây, nam. Đà Nẵng trở thành mục tiêu phát triển tất yếu của chiến dịch giải phóng Thừa Thiên Huế ở phía bắc và chiến dịch giải phóng Tam Kỳ – Quảng Ngãi ở phía nam; chiến dịch tiến công của quân khu trên hướng Tam Kỳ – Quảng Ngãi mặc nhiên trở thành một bộ phận của chiến dịch lịch sử Huế – Đà Nẵng.

Đà Nẵng là căn cứ quân sự liên hợp lớn thứ hai của Mỹ ngụy ở miền Nam. Đến ngày 25 tháng 3, do tăng thêm đám tàn quân từ Trị – Thiên dồn vào, tổng quân số địch ở Đà Nẵng lên đến 10 vạn tên, trong đó có 15 tiểu đoàn quân chủ lực và 15 tiêu đoàn bảo an. Tuy nhiên trong quân ngụy tư tưởng thất bại tràn lan, phần lớn bọn sĩ quan chỉ lo cứu bản thân và gia đình, hàng ngũ địch bắt đầu hỗn loạn.

Tranh thủ và tận dung thời cơ, phát triển tiến công trong hành tiến với tốc độ cao là thành công lớn của quân khu trong nghệ thuật chỉ huy ở cánh phía nam của chiến dịch này.

Chiếu 24 tháng 3, khi trận tiến công giải phóng Tam Kỳ còn chưa kết thúc, quân khu đã ra mệnh lệnh sơ bộ cho các đơn vị phát triển về hướng Đà Nẵng, và ngay đêm đó hạ quyết tâm giải phóng Đà Nẵng, theo cách đánh tiến công phát triển nhanh để phối hợp với hai cánh quân phía bắc và phía tây của Quân đoàn 2. Bỏ qua các mục tiêu thứ yếu, tập trung lực lượng đánh thẳng vào Đà Nẵng, quyết tâm đó hoàn toàn phù hợp với ý định của trên. Ngày 25 tháng 3, quân khu nhận được điện của Bộ Tổng tham mưu: “Tiến công nhanh Đà Nẵng bằng lực lượng tại chỗ có thể huy động được, không chờ lực lượng trên tăng cường. Vấn đề mấu chốt là diệt quân đoàn 1 ngụy và sư đoàn lính thủy đánh bộ, không cho chúng rút lui co cụm về Sài Gòn”.

Mờ sáng ngày 28 tháng 3, cùng với hai mũi tiến công của quân đoàn 2, từ phía bắc vào và phía tây xuống, toàn bộ lực lượng chủ lực của quân khu ở hướng trọng điểm (sư đoàn 2, trung đoàn 36, lữ đoàn 52) và 2 trung đoàn tập trung tỉnh Quảng Đà hình thành một mũi tiến công mạnh, từ hướng nam theo trục đường 1 đánh ra Đà Nẵng.

Hòng làm chậm bước tiến của ta để quân của chúng có thêm thời gian tháo chạy, bọn chỉ huy quân ngụy vội vã cho máy bay đánh sập cầu Bà Rén và cầu Lâu, đồng thời hình thành nhiều chốt chặn dọc đường 1. Nhân dân ở hai bờ sông Thu Bồn đã huy động ngay hàng trăm thuyền chở bộ đội vượt sông nhanh chóng, an toàn. Nhân dân ở dọc đường số 1, kể cả nhân dân thành phố Đà Nẵng, đã huy động hàng trăm xe đủ loại để chở bộ đội tiến công. Các đơn vị được nhân dân giúp đỡ đã vượt qua bọn chốt chặn, thọc thẳng vào Đà Nẵng.

Tốc độ tiến công nhanh, sức mạnh tiến công áp đảo, hành động thọc sâu kiến quyết táo bạo của lực lượng chủ lực quân khu, hiệp đồng chặt chẽ với hai cánh quân của binh đoàn cơ động của Bộ và hành động nổi dậy giành quyền làm chủ của nhân dân, đã làm cho quân địch không kịp đối phó và tan vỡ rất nhanh. Chỉ đến 12 giờ trưa ngày 29 tháng 3, ta đã đánh chiếm xong các mục tiêu then chốt: sân bay, sở chỉ huy quân đoàn 1, toà thị chánh, quân vụ thị trấn, đài phát thanh; đến 15 giờ chiếm xong quân cảng và các mục tiêu trên đỉnh Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng.

Từ thắng lợi chia cắt, tiêu diệt địch, lực lương ta ở hướng nam Đà Nẵng đã góp phần vào chiến thắng vẻ vang của chiến dịch thứ hai. Mở ra thời cơ chiến lược cho toàn chiến trường miềnNam.

TRẦN DANH BẢNG (Tổng hợp)

qdnd.vn

Vừa đi vừa đánh, thần tốc chiến dịch Hồ Chí Minh

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Chiếc Mi.4 lượn một vòng hẹp xác định vị trí rồi hạ cánh. Thiếu tướng Giáp Văn Cương đến sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 571 ở Bắc thành phố Đà Nẵng. Hoàng Trá bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột, anh đứng lên chào. Thiếu tướng Cương nói ngay:

– Tôi đến nắm tình hình lực lượng xe của sư đoàn hiện có tại đây và chuẩn bị khẩn cấp để cơ động Quân đoàn 2 vào Nam bộ.

– Tôi có thể báo cáo thực lực, thưa thiếu tướng!… Nhưng còn việc cơ động thì tôi chưa được lệnh của trung tướng Đồng Sĩ Nguyên.

– Đồng chí điện báo cáo với tư lệnh Trường Sơn được chứ?

– Có thể báo cáo ngay bằng máy 15 oát. Nhưng tôi làm sao có thể bỏ dở nhiệm vụ vận chuyển khẩn cấp 3.000 tấn vật chất bảo đảm sẵn sàng chiến đấu?

Sau mấy phút suy nghĩ, Thiếu tướng Cương khẽ phẩy tay:

– Thôi được. Đồng chí có thể cùng tôi về sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn chứ?

– Xin chậm mươi phút để tôi giao nhiệm vụ cho tham mưu.

– Được. Đồng chí làm đi.

Sau ít phút giao việc cho tham mưu trưởng, Hoàng Trá cùng tướng Cương lên máy bay ra bến Tắt. Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên cũng đã được Bộ Tổng thông báo chủ trương, nên nhanh chóng thống nhất quyết tâm sử dụng Sư đoàn 571 cơ động Quân đoàn 2 vào chiến dịch. Có điều sư đoàn đã tập trung hơn 1.000 xe tốt cơ động Quân đoàn Tiên phong đi Lộc Ninh, chỉ còn 9 tiểu đoàn xe thiếu làm nhiệm vụ vận chuyển hàng. Nay chở người, phải gia cố thùng bệ, nhiều chiếc quá rão phải vào đại tu. Cả một núi việc. Bộ chỉ huy sư đoàn cấp tốc họp cán bộ bàn cách khắc phục. Hội nghị thống nhất đưa hết vật tư kỹ thuật dự trữ để thay thế, dồn lắp, tập trung mọi khả năng vào sửa chữa, khôi phục xe chiến lợi phẩm để sử dụng. Sư đoàn phát động khí thế Tất cả cho chiến dịch lịch sử, khôi phục mỗi xe là diệt một đồn thù. Cán bộ kỹ thuật phân nhau xuống từng xưởng, từng phân đội sửa chữa. Áp dụng phương pháp luân phiên ca kíp, chạy máy suốt ngày đêm, điện sáng rực khắp bãi xe, phân xưởng, lái, thợ không một phút rảnh tay họ tranh thủ bảo dưỡng định kỳ sớm, để bảo đảm không xảy ra sự cố trên đường. Với tinh thần làm việc hết mình, ngày 6.4 đã dồn được hơn 700 xe và khôi phục gần trăm xe chiến lợi phẩm…

Với tư cách phái viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tôi đến cánh Duyên Hải đúng vào lúc Sư đoàn 571 đã tập kết đội hình từ Nam đèo Hải Vân đến sân bay Đà Nẵng. Xe chỉ huy cắm cờ lệnh, ở thành mỗi xe dán khẩu hiệu chữ đỏ tươi THẦN TỐC, TÁO BẠO. Các đơn vị bộ binh theo kế hoạch lên xe, Bộ tham mưu quân đoàn kiểm tra lần cuối. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Quân đoàn trưởng ra lệnh xuất phát. Đoàn xe rùng rùng lăn bánh, nhằm hướng phía Nam phóng đi. Được Quân khu 5 và các tỉnh vùng mới giải phóng bảo đảm an ninh trục đường 1 khá tốt. Quân đoàn 2 tiến như lốc qua Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vượt sông Đà Rằng. Cả hai cây cầu liên tiếp qua dòng sông chính và nhánh rộng gần 2.000m. Đi chừng 14km đến đèo Cả dài khoảng 10km lượn quanh dải Chư Hơ Mu cao ngất sát biển. Đại quân phải qua vùng đất nhiều chướng ngại hiểm trở, nơi phòng tuyến địch mới rút.

Dinh Thống Nhất ngày nayẢnh: An Thành Đạt

Cục Hậu cần bộ đội Trường Sơn cũng đã kịp triển khai mọi mặt đảm bảo quân cơ động. Phân viện Quân y 59 do bác sỹ Lê Văn Đính trực tiếp chỉ huy triển khai làm tuyến sau trực tiếp của cánh Duyên Hải. Nhanh chóng xử lý các ca bị thương nhẹ trả về đơn vị, tiếp nhận thương bệnh binh nặng, giảm khó khăn cho công tác đảm bảo của Quân đoàn cơ động. Nhờ việc tiếp tế vật chất, bổ sung kịp thời khẩn trương, Quân đoàn 2 tiếp tục đi ngay. Trung đoàn 812 – Quân khu 6 đang bám trụ ở Phú Long – cửa ngõ vào Phan Thiết, khi đại quân đến liền nhận nhiệm vụ tiên phong như mũi lao phóng đúng tử huyệt quân địch. Tuyến ngăn chặn của chúng bị vỡ toang. Mũi xung kích quân đoàn xốc tới quặp lấy quân giặc nghiền nát… Pháo hạm địch từ biển hối hả bắn chặn đường. Các khẩu tầm xa liền hạ càng, bắn dồn dập vào tàu địch. Một trận đối pháo dữ dội. Phi đội phản lực nhào xuống phóng bom, lập tức bị những khẩu đội cao xạ đánh trả quyết liệt. Những pháo thủ đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu với giặc lái Mỹ ở Trường Sơn, nhanh chóng loại ngay mấy tên giặc lái ngụy khỏi vòng chiến. Hai máy bay giặc tóe lửa, một chúi đầu xuống biển, chiếc còn lại cút thẳng. Phía biển, một chiến hạm bùng cháy, lật nghiêng chìm nghỉm, mấy chiếc thoát chết dông thẳng ra khơi.

Không để lỡ thời cơ, Quân đoàn trưởng phát lệnh mũi tiên phong thần tốc truy kích xuống Hàm Tân, không cho nó thoát về Bà Rịa – Vũng Tàu. Các đơn vị chỉnh đốn đội hình…Đội xe chở quân cơ động, nhân lúc ngưng chiến, tranh thủ nấu cơm. Phó tư lệnh đoàn đi kiểm tra thấy, liền quát:

– Ai chỉ huy ở đây?

– Báo cáo tôi! – Hồ Quang Hương – tiểu đoàn trưởng xe, đứng dậy.

– Sao đồng chí được cho phép nấu ăn?

– Báo cáo phó tư lệnh! Anh em đói bắt đầu run gối rồi.

Phó tư lệnh sững người. Suốt từ sáng, họ chưa có gì vào bụng. Một thực tế không thể cưỡng nổi là sức khỏe… Song một đòi hỏi cấp bách hơn lúc này… “nếu không cơ động hết sức nhanh thì quân địch sẽ chạy thoát, sẽ tập hợp lực lượng co cụm chống chọi… Bộ Tổng tham mưu ngụy và Mỹ đều muốn thế… Nó đang gắng thiết lập phòng tuyến dày đặc kiên cố quanh Sài Gòn để cố thủ đến mùa mưa. Chỉ cần đến lúc đó, thiên nhiên sẽ chặn đứng đại quân ta lại. Nước mênh mông sẽ chia cắt các cánh quân ta thành nhiều mảng, phải chôn chân trên những cù lao trong biển nước vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở các vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc… Cuộc chiến sẽ phải bắt đầu lại… Chính vào lúc không thuận lợi cho bộ binh cơ giới của ta, kẻ địch sẽ phát huy lợi thế hải quân, không quân phản kích ta khắp nơi, không chỉ ở nông thôn mà cả trong thành phố… Nhân dân ta và mọi thứ sẽ…” – Phó tư lệnh khe khẽ lắc đầu như gạt những ám ảnh, tỏ vẻ kiên quyết.

– Đồng chí có nghĩ vì dừng lại, ăn xong bữa cơm sẽ phải trả giá bằng máu hàng trăm ngàn chiến sỹ và nhân dân ta không?

Hồ Quang Hương giật chân đứng nghiêm.

– Tôi xin nhận khuyết điểm.

Phó tư lệnh dịu giọng:

– Năm phút nữa, chỉnh đốn xong tiếp tục hành quân.

Tiếng còi rúc lanh lảnh, tiểu đoàn trưởng thông báo mệnh lệnh. Các phân đội bộ binh nhảy ào lên xe, với xuống buồng lái:

– Yên chí. Bọn tớ có cách nấu ăn của lính Quang Trung hành quân thần tốc. Sẽ có cơm ngon, canh ngọt cho mà xem!

– Này anh bạn! Khi nào cánh này gõ ba tiếng trên nóc, thì một vị nhảy lên chén, một đứa trên này nhảy xuống làm phụ xế đấy.

Tiếng máy khởi động, chuyển bánh rồi tăng tốc phóng như bay trong nắng chiều vàng rực… 16h30 tiếp cận địch. Quân đoàn trưởng hạ lệnh: “Các đơn vị vừa ăn lương khô vừa dàn đội hình tiến công diệt địch. Không cho chúng tháo chạy vô Xuân Lộc, Bà Rịa”.

Đại đội tăng T54 xông lên, xích xe nghiến ken két. Những họng pháo tóe lửa đỏ rực. Tiểu đoàn ôtô Trường Sơn chở bộ binh bám sát đột phá, các cỡ súng liên thanh, B40 đều hướng nòng tưới đạn vào tuyến cố thủ của quân ngụy. Trước sức mạnh thác đổ, chúng cuống quýt bật khỏi công sự, tuông rào rẽ rừng chạy thục mạng… Bộ đội địa phương, dân quân truy lùng bắt sạch.

Ở phía trước các Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4 và Sư đoàn 6 Quân khu miền Đông đang đánh Xuân Lộc. Tin thông báo: ngày 10.4 ta sẽ cắm cờ lên nóc tỉnh đường và khu cố vấn Mỹ… Kẻ địch bị tổn thất nặng, vẫn kêu gào tử thủ… Hai hôm sau lại được thông báo nức lòng… “Chuẩn tướng Lê Minh Đảo đã chạy khỏi Xuân Lộc…, Sư đoàn 18 và hai lữ thủy binh cùng đám biệt động tan tác cả rồi…” Vậy là chặng đường tiến thẳng tới vị trí tập kết khá thuận lợi…

Lúc này nhân đà chiến thắng dồn dập, thế và lực của địch giảm sút rất nhanh, Quân khu miền Đông phát động toàn địa bàn nổi dậy. Các lực lượng kết hợp đánh địch, diệt tề ngụy, trừ gián điệp, đẩy mạnh binh vận làm rã hầu hết tổ chức bảo an dân vệ. Cục Hậu cần quân khu miền Đông nhận lệnh đón binh đoàn cơ động. Chủ nhiệm Sáu Kinh cùng cán bộ các ngành đi chuẩn bị nơi tập kết cho quân đoàn ở vùng núi Chứa Chan, địa thế rộng tương đối kín, suối Già Ui còn sẵn nước. Công binh rà mìn khắp khu rừng, lòng suối bảo đảm an toàn tuyệt đối…

Quân đoàn 2 sau khi chọc thủng phòng tuyến Phan Rang, Phan Thiết tiến nhanh xuống phía Nam. Chớm tới đất miền Đông đã thấy những anh chị đội mũ tai bèo cầm súng đứng dọc đường. Vậy là yên tâm rồi, lái xe ấn lút chân ga… Chừng non một giờ, đội xe dừng trước thanh chắn ngang đường. Một người nai nịt gọn gàng, đeo súng ngắn bước tới, chào hỏi:

– Có phải đội tiền trạm của cánh Duyên Hải không?

– Đúng! Xin cho biết trạm của đơn vị nào?

– Quân khu miền Đông đây.

– Báo cáo! Đoàn Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần đi chỉ đạo công tác hậu cần cánh Duyên Hải, đến làm việc.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện mở cửa xe bước xuống. Lương Văn Nho, Phó tham mưu trưởng Miền và các cán bộ quân khu ùa ra, tay bắt mặt mừng. Tuyền là anh em đã một lần quen biết ở hội nghị hoặc ở chiến trường.

Ăn cơm xong, anh Đinh Thiện đề nghị làm việc ngay. Mọi người ngồi quanh tấm bản đồ trải rộng. Phó tham mưu trưởng Miền thông báo chiến sự ở các hướng bao quanh Sài Gòn phát triển thuận lợi, đánh thắng giòn giã, phong trào lên mạnh rất phấn khởi… Anh cười nói: – Điều đáng mừng, đến lúc này các đồng chí trong Bộ chỉ huy vẫn sung sức. Bộ Tư lệnh chiến dịch đóng ở Lộc Ninh, sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đã xuống Căm Xe, Tây Bến Cát. Anh Văn Tiến Dũng – Tư lệnh, anh Trần Văn Trà – Phó tư lệnh ở đó.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện cũng thông báo quá trình tiến công trong hành tiến của Quân đoàn 2 và tình hình trang bị hậu cần, vũ khí, phương tiện của quân đoàn, rồi nói:

– Do thời gian vận động thay đổi trong hoàn cảnh chiến đấu, nên quân đoàn bị thiếu gạo và nhiên liệu. Đề nghị quân khu cho mượn, Tổng cục sẽ thanh toán sau.

– Trách nhiệm hậu cần tại chỗ mà – Cục trưởng Phạm Kinh vui vẻ hỏi – Xin cho biết số lượng yêu cầu từng loại.

Trưởng phòng kế hoạch lật sổ:

– Xin bổ sung 15 ngày gạo.

– Tôi có thể cấp ngay 300 tấn tại đây. Nếu thiếu xin nhận ở Mây Tần hoặc Cẩm Mỹ – Sáu Kinh trỏ bản đồ – Nó nằm trên đường đại quân đi qua. Còn thực phẩm bổ sung, anh Sáu Thịnh đã có sẵn 700 tấn.

– Xin cám ơn. Đơn vị đã chuẩn bị đủ.

– Còn xăng dầu thiếu bao nhiêu? – Sáu Kinh thật lòng: khoản này thì chúng tôi không sẵn ở đây.

– Quân đoàn cần được bổ sung 200.000 lít xăng – Cục phó vận tải Nguyễn Chúc lật sổ: … và 10.000 lít dầu máy, 15.000 lít ma-zút.

Sáu Kinh bảo trợ lý:

– Đồng chí làm giấy tờ đề nghị Sở Cao su Bình Sơn giải quyết ngay, quân khu chịu trách nhiệm thanh toán – Sáu Kinh ngước nhìn tham mưu trưởng Tổng cục –  Xin đừng ngại, cơ sở này rất tin cẩn. Chúng tôi đã chuẩn bị từ lâu, được phép tỉnh ủy cho vận động.

Hôm sau Quân đoàn 2 tới gọn, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị tập kết ở khu Chứa Chan để chỉnh đốn lực lượng, bồi dưỡng sức cho bộ đội. Tiếp nhận bổ sung vật chất hậu cần, củng cố kỹ thuật phương tiện.

Ngày 24.4 được Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh xác định cụ thể thời gian tấn công, thời điểm phải đoạt được các mục tiêu chủ yếu, tướng Lê Trọng Tấn chỉ đạo điều chỉnh lực lượng thực hiện lệnh tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh.

Quân đoàn 2 chia hai mũi tấn công. Mũi chặn địch tháo chạy ra biển do Sư đoàn 3 tiến xuống chiếm thị xã Bà Rịa và chi khu Đức Thạnh vây cắt Đất Đỏ, Xuyên Mộc. Bước tiếp theo đánh chiếm Vũng Tàu. Mũi hiệp đồng tiến công vào thành phố gồm các Sư đoàn 304, 325, Lữ đoàn tăng 203 đánh cụm cứ điểm Nước Trong, thành Tuy Hạ. Đập tan tuyến phòng thủ hướng đông nam của địch. Lập trận địa pháo nòng dài ở Nhơn Trạch bắn khống chế các mục tiêu quy định trong thành phố, đặc biệt kiềm chế sân bay Tân Sơn Nhất, sông Lòng Tàu và cảng Sài Gòn.

Mờ sáng 25.4, Quân đoàn xuất phát. Được hậu cần Quân khu miền Đông chuẩn bị chu đáo tuyến giao thông chiến dịch. Dựa vào đường be mở trục cắt ấp Rừng Lá, dẫn đường Sư đoàn 3 qua lối cầu Cỏ May tiến xuống thành phố biển rất nhanh gọn. Công binh mở đường tắt cho cánh quân thứ hai thọc tới lộ 320 liên huyện, lộ 15 tiếp cận mục tiêu Nước Trong, thành Tuy Hạ… Kịp thời gian quy định mở màn tổng tiến công Sài Gòn.

Quân đoàn 2 bước vào chiến dịch trong hoàn cảnh được bảo đảm đầy đủ, bộ đội dân quân giăng giăng trên đường càng nức lòng chiến đấu. Quân đoàn cứ theo phương án đã định, 17h ngày 26.4 mở màn thần tốc tiến công đập tan sức kháng cự của kẻ địch tại Bà Rịa, Vũng Tàu, Long Thành, cụm cứ điểm Nước Trong… Kẻ địch ngoan cố chống trả dữ dội nhưng đều bị nghiền nát cùng lúc với đòn đánh bẹp thành Tuy Hạ.

Những trận đánh trên hướng này, vấp kẻ địch như con thú giãy chết, tung hết sức mạnh cuồng nộ… Ta bị thương vong gần 300 chiến binh. Nhờ các đội cứu thương nhân dân hỗ trợ, kịp thời cấp cứu thương binh chuyển tới các đội phẫu, sau đó cáng tiếp về bệnh viện quân dân Xuân Lộc. Bác sỹ Việt – nguyên đội trưởng điều trị K23 hậu cần miền Đông rất tận tụy, anh chị em y tế không quản ngày đêm cứu chữa, nên hạn chế được tỷ lệ thương binh nặng bị chết. Việc chăm nuôi thương binh được các hội quần chúng địa phương lo liệu rất chu đáo. Mọi hậu quả của trận đánh lớn dài ngày không thành gánh nặng cho quân đoàn chủ lực trong quá trình tiến công vào hang ổ cuối cùng của giặc.

Bộ tổng tham mưu ngụy thấy rõ sức nặng áp đảo đã vào tận gan ruột Sài Gòn. Nó liều lĩnh tàn bạo cho lệnh phá sập hàng loạt cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc, Sài Gòn, Tân Cảng, Bình Triệu, Chữ Y… nhưng độc thủ này cũng không trót lọt. Trung đoàn 10 đặc công nước phối hợp đặc công nội đô và đặc công Miền phái xuống, tỏa đi đánh bắt, diệt hết những đứa sắp gây tội ác, rồi chốt giữ. Bộ đội đặc công thoắt trở thành người canh gác sự sống của con đường tiến vào kết thúc vận mệnh đám quỷ dữ Sài Gòn.

Chỉ sau 4 ngày, đạo quân binh chủng hợp thành đã bóc hết lớp vỏ ngoại vi, ung dung sẵn sàng chờ lệnh đột nhập đô thành, chiếm gọn mục tiêu chủ yếu Dinh Độc lập.

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1,1 triệu tên địch, làm tan rã toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự gồm hơn 1 triệu tên; tiêu diệt và làm tan rã 4 quân đoàn ngụy gồm 13 sư đoàn bộ binh, lính nhảy dù, lính thủy đánh bộ, 6 sư đoàn không quân, 22 trung đoàn hải quân, toàn bộ lực lượng pháo binh, thiết giáp, thu toàn bộ vũ khí, thiết bị và phương tiện chiến tranh của địch. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Theo Trường Sơn – Có một thời như thế
Đại tá NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
Ghi chép chiến dịch 4.1975

daibieunhandan.vn

Đại thắng mùa xuân 1975 trong ký ức các cựu chiến binh

Các cựu chiến binh ôn lại những thời khắc chói lọi của chiến thắng lịch sử 30-4-1975

Trong không khí tưng bừng của cả nước kỷ niệm 36 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng tôi đã vinh dự được gặp những cựu chiến binh (CCB) từng trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Kỷ niệm của các nhân chứng lịch sử ấy đã làm sống dậy hào hùng khí thế của mùa xuân đại thắng, những chiến công oanh liệt đã được ghi danh và những chiến công còn ít người biết đến hoặc do góc khuất của chiến tranh nay mới được nghe, được kể lại.

Bảo đảm công tác chuẩn bị chiến trường

Mùa xuân năm 1975, sau những thắng lợi to lớn, dồn dập, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta quyết tâm dồn sức giải phóng miền Nam. Để bảo đảm cho thắng lợi, Bộ Tư lệnh chiến dịch đặc biệt coi trọng công tác chuẩn bị chiến trường về vật chất, thông tin liên lạc, dẫn đường, triển khai khu vực tập kết…

CCB Trịnh Quốc Nở (Quế Tân, Quế Võ), nguyên Đại đội trưởng Đại đội 100, Đoàn 770, Cục Hậu cần Miền cho biết: “Đơn vị tôi đã chiến đấu ngày, đêm không quản hy sinh, gian khổ bám cầu, bám đường bảo đảm từng chuyến hàng để phục vụ chiến dịch”. CCB Đoàn Khắc Hoàn (Phú Hoà, Lương Tài), nguyên chiến sỹ đặc công Đại đội 20, Trung đoàn Đặc công 198, Quân đoàn 3 kể lại: “Tôi đã tham gia Chiến dịch Tây Nguyên rồi nhận nhiệm vụ cùng đơn vị đánh luồn sâu, chiếm giữ và bảo vệ cầu Bông, cầu Sáng cho cánh quân Tây Bắc tiến vào. Phải luồn sâu vào lòng địch nắm chắc địa hình tác chiến, quân số, quy luật hoạt động và bố trí hỏa lực địch tại căn cứ Đồng Dù. Thâm nhập bảo đảm bí mật, bất ngờ, mưu trí, sáng tạo để đánh từ trong đánh ra, đánh nở hoa trong lòng địch”. CCB Nguyễn Văn Thịnh (Đông Thọ, Yên Phong), nguyên trinh sát Trung đoàn Đặc công 116, Sư đoàn 2 nhớ lại: “Ngày 28-4-1975, đơn vị tôi chiến đấu quyết liệt để đánh chiếm cầu Đồng Nai. Đến sáng ngày 29-4 đã chiếm thành công và giữ vững cầu cho cánh quân phía Đông tiến vào an toàn”.

“Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương xác định phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của chiến dịch là “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Công tác bảo đảm chiến trường đã làm tốt, các cánh quân chủ lực từ 5 hướng tiến nhanh vào Sài Gòn. CCB Nguyễn Quang Tâm (Phú Lâm, Tiên Du), nguyên Đại đội trưởng Đại đội 1 pháo cao xạ, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 234, Quân đoàn 3 vẫn nhớ như in bước chân thần tốc của cánh quân Tây Bắc: “Sau khi giải phóng Tây Nguyên, cánh quân được lệnh đánh rẽ địch, vượt qua các ổ đề kháng, tiến quân thần tốc vào Sài Gòn. Trên đường tiến quân, ta vấp phải không ít khó khăn bởi sự chống cự ngoan cố của địch. Nhiều đồng đội ngã xuống ngay trước ngày chiến thắng… Với thế và lực áp đảo, quân ta tiến đến đâu giải phóng đến đó. Trong trận chiến ác liệt tại Đèo Phượng Hoàng, ta tiêu diệt 1 Lữ đoàn dù của địch, đánh bại cuộc nhảy dù quy mô lớn hòng chuẩn bị cho cuộc tái chiếm Buôn Ma Thuột. Khi tập kết tại Trảng Bàng (Tây Ninh), tất cả bỏ ngụy trang, thay quân phục mới tiến quân thần tốc đánh tan căn cứ Đồng Dù (Củ Chi), vượt qua Cầu Bông, Cầu Sáng… Sáng 30-4-1975 sau khi tiêu diệt lực lượng lớn quân địch chốt chặn tại ngã tư Bảy Hiền, cánh quân tiến đánh thành công sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng Tham mưu”.

Niềm vui ngày chiến thắng

Đã 36 năm trôi qua kể từ ngày chiến thắng, những chiến sỹ của đoàn quân giải phóng năm xưa nay đã tóc bạc, da mồi. Nhưng những kỷ niệm về không khí ngày chiến thắng như vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí mỗi CCB-nhân chứng lịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975. CCB Nguyễn Gia Tưởng (Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh), nguyên Trung đội trưởng Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 bồi hồi nhớ lại kỷ niệm: “Khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, nhân dân nô nức, hồ hởi đón chào. Niềm vui chiến thắng tràn ngập phố phường. Có bà mẹ đã túm tay tôi, ngắm nhìn thật kỹ và nói: Bộ đội giải phóng khỏe mạnh, rắn rỏi thế này mà bọn Mỹ, Ngụy lại tuyên truyền là Việt cộng đánh đu không gẫy cành đu đủ…”.

Gặp những người vinh dự có mặt trong những giờ phút chói lọi nhất của lịch sử dân tộc hôm nay, chúng ta càng hiểu hơn những cống hiến to lớn của họ vượt qua gian khổ cùng cả nước làm nên chiến thắng vẻ vang giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Bài, ảnh: Bảo Anh – Thanh Tú

baobacninh.com.vn

Ký ức mùa xuân đại thắng- chuyện trong Nhà Con Rồng bây giờ mới kể

Trưa 30/4/1975, khi được tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các ngụy quyền, từ Tổng hành dinh, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho gửi gấp vào Nam một bức điện nói rõ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương…

Thủ tướng gửi tặng khay quà

Các đồng chí trong Bộ Chính trị (BCT), thường trực Quân uỷ Trung ương (TTQUTƯ) sau các cuộc hội nghị tại Nhà Con Rồng (Tổng hành dinh trong khu A thành cổ Hà Nội) nghe báo cáo về tình hình chiến trường, rất quan tâm hỏi thăm sức khoẻ và muốn biết “anh em có được bồi dưỡng gì thêm”. Sau những chiến dịch thắng lớn ở chiến trường thì các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ… bao giờ cũng có quà tặng anh em. Lần này đang đại thắng, nên tối 27/3/1975, sau khi nghe báo cáo xong, đồng chí Sáu Thọ đã tặng 2 gói kẹo và tút thuốc lá Thăng Long: “Mình có chút quà tặng sớm cho anh em vì sáng mai lên đường vào chiến trường…”. Đến tối 28/4/1975, sau khi báo cáo xong tình hình, Cục trưởng Cục tác chiến BTTM nói vui với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Thưa anh, trước khi đi vào B2 anh Sáu Thọ đã có quà tặng”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cười rất vui: “Vậy là tôi chưa có quà chứ gì?”. Trước khi tan họp, Thủ tướng ghé tai Cục trưởng Lê Hữu Đức (nay là Trung tướng): “Tôi đã ghi vào sổ tay để nhắc đồng chí Bí thư quân sự rồi!”. Ngày 30/4, ngày đại thắng, sau khi báo cáo xong tại cuộc họp của BCT-TTQUTƯ thì một cán bộ giúp việc từ buồng bên cạnh xuất hiện, trên tay có một khay quà. Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới đỡ lấy khay quà trao tận tay đồng chí Cục trưởng Cục tác chiến, lại nói nhỏ: “Xin chúc anh em Cục tác chiến luôn khoẻ, luôn tiến bộ!”. Thật cảm động!

Tổng tư lệnh “chiêu đãi” cháo gà

Tối 29/4/1975, các đồng chí Cục trưởng và Cục phó Cục tác chiến cùng đồng chí Mai Xuân Tần là cán bộ tham mưu chiến trường đang trao đổi công việc thì có điện của Đại tướng Tổng tư lệnh gọi lên trao đổi kế hoạch. Khi tới phòng làm việc của Tổng tư lệnh trong Tổng hành dinh thì đã có mặt cả Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh, Phó văn phòng Bộ Quốc phòng Trần Đông. Trên bàn bày mấy bát cháo gà còn bốc khói và một đĩa thịt gà có cả lá chanh thái nhỏ… Đại tướng vui vẻ: “Nào, ta liên hoan đại thắng để có sức thức suốt đêm nay nữa…”. Bình thường, những lúc làm việc căng thẳng, thêm giờ… Tổng Tư lệnh cũng chỉ uống cốc sữa nóng hoặc ăn quả chuối. Còn lần này, cũng là lần duy nhất Tổng tư lệnh có bữa “liên hoan” chiêu đãi một số cán bộ gần gũi trong suốt 55 ngày đêm của cuộc Tổng tấn công.

Bộ trưởng Công an “liên hoan đại thắng” bằng trái cây

Các đồng chí trong BCT và TTQUTƯ họp hội nghị bàn về quân sự thường tổ chức tại phòng họp lớn trong Tổng hành dinh. Ở buồng nghỉ bên cạnh thường có một ít hoa quả, nước ngọt bày sẵn, nhưng ít ai đụng đến. Các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng khi nghỉ giải lao có đồng chí bảo vệ mang tới một cốc trắng bịt kín, đó là sữa đậu nành. Hoa quả không ai đụng đến, anh em cán bộ cơ quan cũng không ai dám đụng tới, do đó sau buổi họp đồng chí Trần Quốc Hoàn – Uỷ viên BCT – Bộ trưởng Công an thường ở lại sau và “làm nhiệm vụ” chia cho mỗi người một ít “mang về chia cho anh em trực ban nữa”. Trong ngày đại thắng 30/4/1975, số hoa quả có nhiều hơn mọi ngày nên Bộ trưởng chia cho anh em “mang về” cũng nhiều hơn, chứa đầy cả túi quần, mũ cối: “Liên hoan đại thắng nhé”. Vậy mà riêng đồng chí không bao giờ lấy một thứ hoa quả gì!

Chiến sĩ nữ cơ yếu chỉ còn biết ngây người đứng nhìn…

Cán bộ, nhân viên mã dịch Cục cơ yếu BTTM phục vụ Tổng hành dinh vinh dự làm nhiệm vụ mã dịch khi nhận – chuyển các chỉ thị, mệnh lệnh của BCT, QUTƯ. Đến cuối tháng 3 thì phòng đã tung hơn nửa số quân vào chiến trường, số ở nhà phần đông là nữ, do thiếu tá Lê Văn Ngoạn chỉ huy. Sáng 30/4/1975, chị Trọng cùng với hai anh Châu, Khôi đang tập trung mã hoá, giải mã các bức điện thì thấy xuất hiện nhiều xe Vonga nối đuôi nhau tới đậu trước nhà làm việc của QUTƯ sớm hơn thường lệ, không khí nói cười cũng nhộn nhịp khác hẳn mọi ngày. Đến khoảng 11 giờ thì nhận được bức điện số 10 từ Bộ chỉ huy cánh Đông gửi về: “10 giờ ngày 30/4 toàn bộ lữ 203, trung đoàn 9, trung đoàn 66BB, cao xạ của Quân đoàn 2 đã vào chiếm lĩnh dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu cùng nhân viên cao cấp nguỵ quyền Sài Gòn đang họp, bắt Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng (12 giờ – giờ SG)”. Vừa dịch xong, chuyển ngay điện cho các đồng chí trong QUTƯ, chị Châu vừa chạy ra tới cửa thì thấy bên hành lang nhà Quận uỷ như chật hẳn, tiếng reo: “Toàn thắng rồi!”, “Đại thắng rồi!”, “Đánh giỏi quá!” như bật ra cùng lúc và thấy mọi người cứ ôm nhau mà hôn, mà quay tròn… Chị Châu chỉ còn biết đứng ngây người ra sung sướng chứng kiến cảnh “vũ hội” mừng đại thắng của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đầu đã bạc trắng… rồi tự nhiên vỗ tay hoà theo lúc nào không biết…

Bộ Quốc phòng đốt pháo mừng đại thắng sau Bộ Ngoại giao

Trưa 30/4/1975, khi được tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các nguỵ quyền, từ Tổng hành dinh, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho gửi gấp vào Nam một bức điện nói rõ ý kiến chỉ đạo của BCT và QUTƯ: “Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí nhưng không phải với tư cách tổng thống mà chỉ với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân…”, và nhắc lại tin quân ta đã cắm cờ trên dinh Độc Lập rồi kết thúc bằng câu: “Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui…”.

Tại Nhà Con Rồng, lúc đó hơn chục bánh pháo đã được chuẩn bị, kết nối vào nhau treo sẵn lên cây cột. Cơ quan Bộ đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh cho đốt phào mừng đại thắng. Mấy sĩ quan văn phòng và chiến sĩ đã sẵn sàng chờ lệnh châm lửa thì Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh về gặp anh em chỉ thị: “Anh Văn bảo: Nhắc đài quan sát (bố trí trên đỉnh cột cờ ở khu bảo tàng quân đội) quan sát phía bên Bộ Ngoại giao. Khi nào thấy bên Bộ Ngoại giao nổ pháo thì Bộ Quốc phòng mới được châm lửa đốt pháo. Bộ Quốc phòng không được đốt pháo trước khi Bộ Ngoại giao nổ pháo”. Thế là, khi tiếng pháo bên Bộ Ngoại giao nổ ran, pháo bên Bộ Quốc phòng mới nổ tiếp theo. Sau này, khi có dịp hỏi nhỏ Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỉm cười: “Vì mình là Quân đội nhân dân thì không nên làm việc gì để người ta hiểu nhầm là mình tự nêu công trước…”.

Theo lời kể của các Trung tướng Cao Văn Khánh, Lê Hữu Đức

vov.vn