Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 1)

“Đã ra quân là đánh thắng” – câu nói đã ngấm vào máu, khắc vào xương, là niềm tự hào đồng thời cũng là trách nhiệm cao cả của những người lính xe tăng đã viết lên những bản hùng ca 52 năm qua.

Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Năm 1968, lần đầu tiên xe tăng Việt Nam xuất kích, địch đã hoàn toàn bị bất ngờ, hoảng loạn chỉ còn biết tháo chạy. Chiến thắng vang dội ở Tà Mây – Làng Vây, góp phần vào chiến thắng chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, đi vào lịch sử Binh chủng Tăng – Thiết giáp như một mốc son chói lọi, mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”.

Ngày 5/8/1967, sau gần 8 năm thành lập, Bộ Tư lệnh thiết giáp được lệnh sử dụng 2 đại đội xe tăng vào Nam chiến đấu. Hai đại đội PT-76 (đại đội 3 và đại đội 9) của Trung đoàn xe tăng H03 được lựa chọn và tổ chức thành tiểu đoàn mang phiên hiệu 198. Ngày 1/10/1967, tiểu đoàn 198 bắt đầu Nam tiến.

Sáng tạo táo bạo

Hơn 2 tháng hành quân bằng bánh xích, vượt trên 1.000 km đường Trường Sơn, toàn tiểu đoàn đến vị trí tập kết với 100% trang bị chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân phải đảm bảo tuyệt đối bí mật ấy, những người lính xe tăng đã có nhiều sáng tạo đến táo bạo. Theo thiếu tướng Lê Xuân Tấu, nguyên trưởng xe tăng 555, đơn vị di chuyển chủ yếu vào ban đêm bằng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng.

Những đêm mù sương, các trưởng xe phải đi bộ trước mũi xe, khoác dù trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi phủ lên ống xả, vừa ngăn được tiếng ồn, vừa tránh bụi lửa phóng ra từ ống xả. Một bộ bánh xích chỉ cho phép chạy được từ 400 đến 500km trong điều kiện đường tốt. Lần này, do xe tăng của ta phải vượt đoạn đường với địa hình phức tạp, nhiều đá to, ngầm, sông… đặc biệt là phải đi dưới làn bom, đạn pháo địch, nên hơn 90% bánh đỡ nặng và gần 50% mắt xích bị hỏng.

Mắt xích và bánh chịu nặng của xe PT-76 đã vượt hơn 1.000km đường Trường Sơn vào tham gia trận đánh Làng Vây năm 1968. Ảnh: Hà Dương.

Các kíp xe đã đảo xích bên phải sang bên trái và ngược lại, đồng thời, lắp xen kẽ mắt xích lành với mắt xích hỏng để đảm bảo hành quân – cái sáng tạo chỉ có ở người lính xe tăng Việt Nam. Tới điểm tập kết, đơn vị đã nhanh chóng ổn định trú quân an toàn, khắc phục các sự cố của xe, sẵn sàng chiến đấu.

Hằng ngày, máy bay trinh sát địch luôn vè vè trên đầu, máy bay B-52 chốc chốc lại giội bom bừa bãi xuống những nơi nghi vấn, nhưng chúng không thể phát hiện ra hàng chục xe tăng nằm chình ình hơn 10 ngày ngay sát cứ điểm, trên đồi không có lấy một bóng cây chỉ bạt ngàn cỏ tranh. Vì xe đã được phủ bằt các sọt cỏ tranh được trồng và tưới nước hằng ngày.

Nguyên Đại đội trưởng Đại đội tăng 9 Ngô Xuân Nghiêm, cho biết, trong từng trận chiến đấu, tính sáng tạo của lính tăng cũng được thể hiện hết sức sinh động. Câu chuyện kíp xe 569 là ví dụ. Lái xe Phạm Văn Hương bị thương ở chân. Vì không có lái xe thay thế, kíp xe đã sáng kiến Hương lái, còn pháo thủ dùng chân đạp cần lái. Nhờ đó, xe tăng 569 vẫn cùng đồng đội lao về phía trước tiêu diệt địch. Hay chuyện chiếc kính ngắm của xe 565 bị hỏng, pháo thủ đã trực tiếp ngắm qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu… Những sáng tạo đó đã góp phần làm nên chiến thắng.

Tập kích bất ngờ

Thắng lợi Tà Mây – Làng Vây có vai trò rất lớn của việc bảo đảm bí mật, bất ngờ trong hành quân, trú quân và tập kết chiến đấu. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên của ta trên chiến trường và cũng không biết bằng cách nào ta có thể đưa được những chiếc xe tăng vượt qua núi rừng Trường Sơn điệp trùng hiểm trở.

Yếu tố bí mật đó thật sự tạo nên bất ngờ rất lớn trong trận Huội San (Tà Mây). Ngày 24/1/1968, đại đội xe tăng 3 đã tấn công cứ điểm này. Hai xe tăng 555 và 558 đã lao thẳng vào căn cứ của địch, bắn sập các lô cốt, hỏa điểm của địch. Bất ngờ trước sự xuất hiện của xe tăng ta, quân địch hoảng hốt tháo chạy tán loạn, quân ta làm chủ trận địa trong một thời gian ngắn.

Đoàn tiền trạm của Tiểu đoàn 198 chuẩn bị cho trận đánh Tà Mây – Làng Vây. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Đến khi đánh cứ điểm Làng Vây, yếu tố bất ngờ về sự xuất hiện của xe tăng không còn nữa, ta lại tạo ra sự bất ngờ mới về hướng tiến công. Để chuẩn bị tiến công, từ ngày 19/1/1968, đại đội tăng 9 đã nhiều lần cùng bộ đội công binh dùng mảng nứa, bí mật thăm dò lòng sông Sêpôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông và đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể.

Đại đội xe tăng 9 bơi xuôi theo dòng sông Sêpôn từ vị trí tập kết chiến đấu ở đồi Pê Sai vào tuyến điều chỉnh cuối cùng ở Làng Troài, cách địch gần 2km. Sông Sêpôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng, địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động theo dòng sông để tập kích vào hướng này.

Các chiến sỹ công binh đã bơi lặn trong dòng nước lạnh buốt đo mực nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm và phá những tảng đá to trên quãng sông nước cạn, để mở đường cho xe tăng đi bằng xích. Những đoạn có nhiều đá ngầm, các chiến sĩ công binh quấn dù trắng trên mình, đứng dọc hai bên để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng bơi. Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đến 23g cả 8 xe đều đến được vị trí cuối cùng ở khu vực cầu Bi Hiên cách cứ điểm địch khoảng 2km. Lúc này pháo binh địch từ Tà Cơn và hỏa lực địch trong căn cứ Làng Vây bắn mạnh ra trên cả hai hướng, máy bay địch cũng bắt đầu thả pháo sáng, bắn phá ngăn chặn ta tiến công.

Đúng 23g25, ngày 6/2/1968, Sở chỉ huy hạ lệnh và phát tín hiệu xung phong. Xe tăng của ta đồng loạt vượt cửa mở, dẫn bộ binh xung phong vào trong cứ điểm của địch. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao. Xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Advertisements

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 2)

Ở Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp, có một hiện vật không thuộc nhóm vũ khí khiến khách tham quan không khỏi rưng rưng. Đó chính là nắm cơm bị cháy.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Đầu năm 1972, chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch xuân – hè nhằm tiêu diệt căn cứ Đăk Tô – Tân Cảnh bằng trận chiến hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia, góp phần tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch.

Như mũi tên thép

Đăk Tô – Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của ngụy quân ở bắc Tây Nguyên, mà Mỹ – ngụy cho là vành đai thép án ngữ hành lang Trường Sơn, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng địch được bố trí ở dãy cao điểm phía tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum.

Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh là giải phóng 1/3 mạn bắc tỉnh Kon Tum, làm sụp đổ tuyến phòng thủ bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn. Sau khi vừa tham chiến ở Đường 9 – Nam Lào trở về, tiểu đoàn 297 tăng thiết giáp lại được lệnh tiến vào chiến trường Tây Nguyên với khẩu hiệu “Tiến sâu – Ở lâu – Đánh thắng!”. Sau 2,5 tháng hành quân, đến đầu năm 1972 thì tới ngã ba biên giới Đông Dương.

Đêm 23/4/1972, từ ngầm sông Pô Kô Hạ, đại đội 7 gồm 9 chiếc xe tăng cùng trung đoàn 66 bộ binh bắt đầu xuất kích. 1g ngày 24/4/1972, xe 377 dẫn đầu tấn công vào hướng đông căn cứ e42 – Tân Cảnh, mở màn trận đánh tiêu diệt cụm cứ điểm này. Sau hơn nửa giờ chiến đấu ác liệt, căn cứ của địch chìm trong khói lửa.

Xe 377 cùng đồng đội xuất kích trong trận Đắk Tô – Tân Cảnh 1972 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Đến 4h30, xe 377 dẫn đầu cho bộ binh và xe 357 xốc tới, dũng mãnh tấn công, như một mũi thép lướt qua công sự, chiến hào, vật cản của địch… tiến thẳng vào sở chỉ huy e42, khiến đại tá cố vấn Mỹ, đại tá Lê Đức Đạt chết tại chỗ, đại tá Vi Văn Bình bị bắt sống. Đến 8h cùng ngày, ta cơ bản làm chủ khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh.

Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh ngụy. Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định điều một trung đội xe tăng, gồm xe 377, 354, 369 vận động theo đường 18 lên hiệp đồng với Trung đoàn 1, Đoàn 2, tiêu diệt địch ở căn cứ Đăk Tô 2.

Một đấu mười

Mặc dù không có thời gian chuẩn bị nhưng, Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển, Trung đội trưởng Trung đội tăng 3 (ngồi trên xe 377) đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, vừa cơ động, quan sát nắm địch, đồng thời dẫn trung đội vận động với tốc độ cao, dũng cảm vượt qua các trận địa, sự bắn phá ác liệt của máy bay địch để đến căn cứ Đăk Tô 2 trước thời gian.

Xe 377 lại tiếp tục dẫn đầu hai xe 354 và 369 lao thẳng vào cứ điểm. Vì gặp chướng ngại vật nên hai xe kia bị tụt lại phía sau. Địch thấy chỉ có mỗi một xe 377 đơn độc bèn cho xuất kích 10 chiếc tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây. Xe 377 lọt vào giữa vòng vây của địch. Cuộc đấu 1 chọi 10 diễn ra ác liệt.

Xe 377, huyền thoại của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trong tình thế nguy nan, Nguyễn Nhân Triển đã bình tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn cháy 7 xe M41, làm rối loạn đội hình địch. Xe tăng 354, 369 trên đường cơ động, biết xe 377 gặp khó khăn chờ chi viện đã chạy với tốc độ cao nhất lao lên trận địa, bắn cháy 3 xe tăng địch. Lúc đó, một xe tăng địch ở phía Nam sân bay dã chiến Phượng Hoàng bắn trúng xe 377.

Dù xe bốc cháy, nhưng kíp xe vẫn kiên cường truy kích địch. Nhưng cuối cùng 4 chiến sĩ trong xe là Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển, Hạ sĩ pháo thủ Hoàng Văn Ái, Nguyễn Đắc Lương và Hạ sĩ lái xe Cao Trần Vịnh đã anh dũng hy sinh. Lúc này xe tăng, bộ binh ta mãnh liệt tiến lên tràn vào tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.

11h30 hôm ấy lá cờ của Tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 tung bay trên cứ điểm Đăk Tô. Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Bờ lêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận ĐăkTô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến ĐăkTô, về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kontum được giải phóng.

Xác những chiếc xe tăng Mỹ do kíp xe 377 bắn cháy tại trận Đắk Tô 2 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy xe 377 đang bốc cháy giữa ngổn ngang xác xe tăng địch. Bên cạnh thi thể không còn nguyên vẹn của các anh, là những nắm cơm mà các anh chưa kịp ăn giữa hai trận đánh đã bị cháy thành than. Tập thể kíp xe 377 đã lập kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao: 1 xe tăng tiêu diệt 7 xe tăng địch trong một trận đánh.

Với chiến công trên, tập thể xe 377 đã nêu tấm gương sáng về bản lĩnh kiên cường. Chiến công của xe 377 được coi là chuyện huyền thoại của Binh chủng tăng thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xe tăng 377 đã trở thành kỷ vật vô cùng thiêng liêng, tự hào của Đơn vị H73 và gia đình các liệt sĩ.

Ghi nhớ chiến công của các anh, chiếc xe tăng 377 đã trở thành tượng đài đặt ở giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô, nơi các anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Phần hài cốt của các anh đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Đăk Tô, mảnh đất nơi các anh đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho đất nước; còn nắm cơm đã cháy thành than, cùng các di vật của kíp xe 377 hiện vẫn đang được lưu giữ tại Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp. Ngày 1/9/2009 nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho kíp xe tăng 377.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ cuối)

Hơn 30 năm đã qua đi, nhưng hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống ngụy quyền trưa 30/4/1975 mãi là biểu tượng chiến thắng huy hoàng của dân tộc.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng
>> Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Kỳ cuối: “Nhân chứng” đặc biệt

(Đất Việt) Sau khi giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết, ngày 26/4/1975, toàn bộ lực lượng của ta bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ba ngày sau, đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong – Trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu tiến vào Sài Gòn.

Thần tốc, táo bạo

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về tử thủ ở ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn. Nửa đêm 29/4, tiểu đoàn 1 đi đầu đội hình đến phía bắc cầu Xa Lộ. Xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu.

Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu. Sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức. Sau khi đánh bại địch giữ cầu Xa Lộ, binh đoàn thọc sâu tức tốc vượt cầu, nhanh chóng vượt qua các tuyến ngăn chặn của địch.

Cánh cổng sắt Dinh tổng thống Nguỵ dưới vành xích xe 390.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

8h ngày 30/4/1975, trong đội hình đại quân thần tốc tiến vào nội đô Sài Gòn, kíp xe 390 gồm: Trung úy Vũ Đăng Toàn chỉ huy xe tăng 390, chính trị viên đại đội 4, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập – lái xe, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên – pháo thủ số 1 và Thiếu úy Lê Văn Phượng – pháo thủ số 2, đi đầu đội hình, vượt qua cầu Thị Nghè, gặp xe tăng địch ra ngăn chặn. Bằng một phát đạn xuyên táo, xe 390 diệt luôn 2 xe M113, số xe địch còn lại hoảng sợ bỏ chạy.

Xe tăng 390 tăng tốc theo đại lộ Hồng thập tự, tiến vào đánh chiếm Dinh tổng thống Nguỵ. Thiếu uý Lê Văn Phượng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 4 nhớ lại, theo phương án tác chiến, xe tăng 390 đến ngã tư thứ 7 thì rẽ trái là vào đến Dinh tổng thống Nguỵ, nhưng vì cả kíp xe không ai biết Dinh ở đâu, xe đã chạy quá một đoạn, nên phải quay lại, theo đường Công lý (nay là đường Nam kỳ khởi nghĩa).

Thắng nhanh để không đổ thêm máu

Sau khi quay lại, chỉ còn cách Dinh khoảng 30m, kíp xe 390 nhìn thấy xe tăng 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc nghiêng cánh cổng phụ bên trái. Do đột ngột gặp sức cản lớn, nên xe chết máy và kẹt ở đó. Khi thấy xe 843 bị vướng trước cổng phụ của Dinh, lái xe Nguyễn Văn Tập quay sang nói với chỉ huy xe Vũ Đăng Toàn: “Hay xe của anh Thận bị thương rồi, Thế nào anh Toàn, có cho xe vào dinh không?”.

“Tông thẳng vào”, Trung úy Toàn đã quyết đoán ra lệnh cho lái xe Nguyễn Văn Tập tông thẳng vào cổng chính của Dinh. Lập tức xe 390 tăng ga, lao thẳng và húc hai cánh cổng thép, xích xe chồm lên cánh cổng bên phải, còn cánh bên trái bung bản lề, nghiêng sang một bên.

Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, tông tiếp vào cánh cổng bên trái, cả hai xe tăng 390 và 843 cùng vượt qua cổng, tiến thẳng vào sân, mở toang cánh cửa cuối cùng vào sào huyệt kẻ thù, tạo điều kiện cho lực lượng ta tràn vào sân Dinh, bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong Dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng, hạ cờ chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh tổng thống nguỵ lúc 11h30 ngày 30/4/1975, thời khắc thiêng liêng báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Khi được hỏi, có nghĩ gì khi quyết định húc vào cánh cổng sắt của Dinh? Ông Vũ Đăng Toàn cho biết, lúc đó, chỉ có suy nghĩ duy nhất là phải giành được thắng lợi nhanh nhất, để đồng đội và nhân dân không phải đổ thêm xương máu nữa. Mặc dù, có thể “dính” mìn chống tăng hoặc vật cản nổ của địch bảo vệ cổng Dinh, có thể hy sinh, nhưng kíp xe không có lựa chọn khác.

Các sĩ quan cao cấp trong phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn
đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng trưa 30/4/1975.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Trung sĩ Nguyễn Văn Tập chia sẻ: “Khi thời cơ đến, chúng tôi chỉ biết đó là độc lập. Đất nước còn chiến tranh thì đau khổ vẫn còn, vậy thì quyết định nhanh chóng để bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng, chấm dứt chiến tranh”. Họ là những người hạnh phúc nhất được chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc.

Đó là giờ phút mà không phải người lính nào cũng có may mắn được trải nghiệm. “Cảm giác sung sướng đến phát khóc khi được chứng kiến khoảnh khắc lịch sử, đích đến cuối cùng sau bao nhiêu năm đồng bào, đồng chí đổ xương máu cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc”, Thiếu úy Lê Văn Phượng bồi hồi nhớ lại.

Năm tháng đã qua đi, nhưng hình ảnh xe tăng 390 húc tung cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975 mãi mãi là in đậm trong lòng những người lính xe tăng và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Hiện nay, xe tăng 390 được trưng bày tại Bảo tàng lực lượng Tăng – Thiết giáp. Câu chuyện về “nhân chứng” lịch sử đặc biệt này sẽ như một khúc ca truyền thống tiếp lửa cho các thế hệ những người lính Tăng – Thiết giáp.

Với ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của xe tăng 390 trong Đại thắng mùa Xuân 1975, tháng 8/2011, Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng đã xét duyệt hồ sơ và thẩm định hiện vật xe tăng 390, nhất trí đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 – ĐẠI THẮNG CỦA SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Trong những ngày này, nhân dân cả nước với niềm vui vô hạn đang hân hoan kỷ niệm trọng thể lần thứ 36 chiến thắng vĩ đại của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang một trong những cuộc chiến tranh yêu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Trong niềm vui của ngày đại thắng, nhân dân ta tưởng nhớ với lòng biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già dân tộc, nhà yêu nước vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của nhân dân ta, người kết tinh những tinh hoa của dân tộc, Người mà từ đầu thế kỷ 20 đã đề ra một học thuyết độc đáo, đầy sáng tạo là: Một nước thuộc địa hoàn toàn có thể đánh đổ ách thống trị của ngoại bang, giành lại độc lập cho mình nếu dân tộc đó biết đoàn kết triệu người như một dưới sự lãnh đạo của một đảng vô sản.

Thực hiện chân lý “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, nhân dân cả nước đã đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi hy sinh, đã thực hiện trọn vẹn lời căn dặn của Người trước lúc đi xa: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi, đế quốc Mỹ nhất định sẽ cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam – Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà…”(1).

Nhân dịp này, nhân dân ta bầy tỏ niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh – Đảng mà từ ngày đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của tổ tiên là đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, đã luôn luôn coi sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng, phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất là nhiệm vụ chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của mình.

Với kinh nghiệm lãnh đạo dầy dạn, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, xem Mặt trận dân tộc thống nhất là ngọn cờ tập hợp, nơi thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã đề ra đường lối đúng đắn và lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách và đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Có thể khẳng định: Sự phát triển của dân tộc và đất nước ta hơn 80 năm qua gắn liền với sự trưởng thành và lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng, một dân tộc mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng, đã từng đương đầu và chiến thắng mọi thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phát huy cao độ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dân tộc đó tập hợp đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất, đạp bằng mọi khó khăn, trở ngại, vùng lên làm Cách mạng tháng Tám thắng lợi, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, liên tiếp đánh bại mọi chiến lược thâm độc của đế quốc Mỹ xâm lược, tiến lên giành thắng lợi trọn vẹn bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta mùa Xuân 1975 lịch sử.

Trong niềm vui lớn kỷ niệm 36 năm ngày đại thắng 30-4-1975, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bầy tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với đồng bào miền Nam  “đi trước, về sau” trong cuộc chiến đấu trường kỳ để giải phóng dân tộc. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” cùng phương châm “một tấc không đi, một ly không rời”, đội quân tóc dài và các địa đạo xuất hiện ở hầu khắp miền Nam đã trở thành hình ảnh tiêu biểu của cuộc chiến tranh nhân dân có một không hai trên thế giới này. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tập hợp quanh ngọn cờ đại nghĩa của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam cùng với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, nhân dân miền Nam đứng ở tuyến đầu chống Mỹ đã đấu tranh kiên cường, bất khuất, tô thắm thêm truyền thống “Thành đồng Tổ quốc”.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bầy tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với đồng bào và chiến sĩ miền Bắc đã thực hiện trọn vẹn Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Lịch sử và dân tộc ta đời đời ghi nhớ công lao to lớn của đồng bào miền Bắc anh hùng, hậu phương lớn của miền Nam ruột thịt, căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. Tập hợp đoàn kết dưới ngọn cờ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân miền Bắc đã không nề gian khổ, không sợ hy sinh, ra sức lao động, sản xuất và chiến đấu, cần kiệm xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã đưa hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm, hàng chục vạn con em mình ra tiền tuyến cùng đồng bào và chiến sĩ miền Nam đánh bại mọi “mưu ma, chước quỷ” của kẻ địch, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, tiêu biểu là trận đại thắng cuộc tập kích chiến lược B52 trên bầu trời Thủ đô Hà Nội tháng 12 năm 1972, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ ngoan cố phải ký Hiệp định Pari và cút khỏi đất nước thân yêu của chúng ta.

Nhân dân ta tự hào về các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng, một đội quân cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm, thông minh và mưu trí. Với cách đánh táo bạo, bất ngờ, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” và “thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa”, trong 55 ngày đêm đã cùng nhân dân miền Nam “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, ghi tiếp những trang sử vàng chói lọi trong lịch sử quân sự chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Kỷ niệm 36 năm đại thắng mùa Xuân, chúng ta kính cẩn nghiêng mình với lòng biết ơn vô hạn trước các liệt sĩ đã dũng cảm hy sinh vì độc lập dân tộc, biết ơn các thương binh, bệnh binh, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các bậc lão thành, các tù chính trị yêu nước, thanh niên xung phong và toàn thể đồng bào ta đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước để có được cuộc sống tươi đẹp hôm nay cho chúng ta và cho các thế hệ mai sau.

Nhân dịp kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bầy tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em, những người bạn chí cốt đã cùng chung chiến hào chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em trước đây đã dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ hết sức to lớn và quý báu.

Chúng ta chân thành cảm ơn các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế và cả loài người tiến bộ trong đó có nhân dân Mỹ vì hoà bình, công lý đã đồng tình, cổ vũ và ủng hộ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta.

Năm 1954 Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chính thể khác nhau. Ở nam vĩ tuyến 17, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, lập nên chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm, thực hiện chế độ thực dân mới, phản bội lại những nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cải thiện đời sống. Chúng thực hiện chính sách khủng bố những người yêu nước, chia rẽ dân tộc, tôn giáo.

Cuối năm 1954, chỉ vài tháng sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chúng tiến hành đàn áp các giáo phái thân Pháp, tổ chức các chiến dịch tố cộng, hành quân khủng bố, cướp lại ruộng đất của nông dân, phân biệt đối xử đối với tư sản, trí thức, công chức đã từng hợp tác với Pháp, phân biệt đối xử với bà con người Hoa. Chúng chủ trương xoá bỏ ý nghĩa thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám và thành quả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ý đồ đê hèn và thâm độc đó đã xúc phạm thô bạo lòng tự trọng và tự tôn dân tộc của mọi người Việt Nam yêu nước.

Không chịu nổi cảnh đau thương, tang tóc do chế độ độc tài, phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm gây ra, nhân dân miền Nam vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng, lại được tôi luyện qua mấy chục năm đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã vùng lên đấu tranh để bảo vệ sinh mệnh và tài sản của mình, xoá nỗi nhục mất nước và cảnh nước nhà bị chia cắt. Nhiều phong trào đấu tranh chính trị công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp cuốn hút hàng triệu người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp đòi dân sinh, dân chủ, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi thống nhất đất nước. Từ đấu tranh chính trị, ở một số nơi đã thành lập những đội vũ trang, tự vệ, diệt ác, trừ gian. Đã xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của một cao trào cách  mạng: Phong trào Đồng khởi đồng loạt nổ ra ở nông thôn thuộc hầu hết các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, mà tiêu biểu là Bến Tre, Mỹ Tho, Long An, Kiến Tường v.v… Nhiều nơi, nhân dân đứng ra tự xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở và cấp huyện. Sự phát triển nhẩy vọt của tình hình cách mạng miền Nam tạo điều kiện để những tổ chức cách mạng có thể hoạt động công khai, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu mới là phải sớm có một hình thức tổ chức công khai để tập hợp các lực lượng yêu nước toàn miền Nam dưới ngọn cờ chung, ngọn cờ đại đoàn kết bằng một chương trình hành động cụ thể.

Đáp ứng yêu cầu của lịch sử và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, ngày 20-12-1960 Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và tiếp đó ngày 20-4-1968 Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam ra đời, đã vận dụng sáng tạo kinh nghiệm hoạt động của các hình thức tổ chức Mặt trận trước đây đoàn kết mọi tổ chức, mọi cá nhân, mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, địa vị xã hội, quá khứ, dân tộc, tôn giáo, thành thị, nông thôn, rừng núi, người có tín ngưỡng và không tín ngưỡng, nhà tư sản và người lao động, người yêu nước ở hải ngoại, sĩ quan và quân nhân chính quyền Diệm, kể cả cấp cao miễn là tán thành mục tiêu: hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cải thiện đời sống.

Mục tiêu trên là sự cụ thể hoá tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mẫu số chung để quy tụ mọi con dân đất Việt yêu nước, thương nòi trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược và bọn tay sai bán nước. Với sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc kết hợp với sức mạnh đồng tình, ủng hộ của quốc tế, cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn.

Với 55 ngày đêm tiến công thần tốc và nổi dậy như vũ bão, mở đầu bằng việc đánh chiếm Buôn Ma Thuột và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, quân và dân ta đã làm nên một kỳ tích là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây là đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng ta, là sức mạnh vô địch của nhân dân ta.

Thắng lợi vĩ đại đó là thắng lợi của mọi người Việt Nam yêu nước, thắng lợi của cả dân tộc. Thắng lợi mang tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc đó một lần nữa chứng minh hùng hồn sức mạnh tất thắng của ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất – một trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam.

35 năm đã qua kể từ ngày “Bắc Nam sum họp một nhà”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, nhân dân ta đã lao động quên mình để hàn gắn những vết thương chiến tranh, thực hiện hoà hợp dân tộc, cùng nhau ra sức xây dựng non sông yêu  quý của chúng ta “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Hồ Chủ tịch đã căn dặn.

Đặc biệt qua hơn 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường. Chính trị-xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia được tăng lên mạnh mẽ, tạo ra thế và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Kỷ niệm 35 năm Đại thắng mùa Xuân 1975, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tin tưởng đồng bào và chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài  tăng cường đoàn kết, thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp và cuộc sống, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hăng hái tham gia, đẩy mạnh các phong trào, các cuộc vận động thi đua yêu nước, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”; phát huy dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới… góp phần thiết thực vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng năm 2010, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng… lập thành tích cao nhất để chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc: 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm thành lập nước, 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, 80 năm thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam…, chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Phát huy tinh thần đại thắng mùa Xuân 1975; tự hào và tin tưởng về sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, chúng ta ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

(1) Trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

HUỲNH ĐẢM
Uỷ viên BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Đại Đoàn Kết

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch phản kích thất bại

Binh lính ngụy bị bắt và giao nộp vũ khí

Ngày 13-3, hai trung đoàn 66 và 28 (Sư đoàn 10) từ Đức Lập hành quân đến Đông-Bắc thị xã Buôn Ma Thuột hỗ trợ các đơn vị bạn đánh địch phản kích. Trong ngày này, lực lượng ta đã đánh quân phản kích chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong khi đó, ở phía Bắc Tây Nguyên và trên chiến trường Trị-Thiên, Khu 5, bộ đội ta đẩy mạnh tác chiến phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, tạo thế chia cắt buộc Quân đoàn 2 ngụy phải phân tán lực lượng đối phó.

Sư đoàn 968 bộ binh đánh chiếm hai chốt địch ở Tây-Nam Pleiku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, pháo kích sân bay Cù Hanh, Kon Tum. Bộ đội địa phương Gia Lai và Kon Tum hoạt động mạnh ở Đông-Nam thị xã Pleiku. Sư đoàn 3 và trung đoàn 95 A chốt giữ các vị trí đã chiếm được Đường số 19, phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang và hướng Vườn Xoài.

Trung đoàn 25 bộ binh diệt một bộ phận quân địch từ Khánh Dương lên và tiếp tục chia cắt đường 21. Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 14 đặc công đánh chiếm một số ấp vùng ven, áp sát sân bay Nhơn Cơ (Quảng Đức).

Ở Trị-Thiên, lực lượng vũ trang gia tăng hoạt động tại vùng giáp ranh uy hiếp thành phố Huế từ phía Tây và Tây Bắc. Ở khu 5, Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 đã diệt chi khu quân sự Tiên Phước, chia cắt đường số 1, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ.

Thắng lợi lớn của ta ở Buôn Ma Thuột và hoạt động phối hợp ở các chiến trường khác đã làm địch lúng túng.

Q.A tổng hợp

sggp.org.vn

Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng

Tại mặt trận Tây Nguyên, sau nhiều ngày truy kích địch và giải phóng các tỉnh, ngày 24-3 được đánh dấu là ngày toàn thắng của chiến dịch Tây Nguyên. Khởi đầu chính thức từ ngày 4-3, bằng ba trận chiến then chốt (tấn công Buôn Ma Thuột; đánh địch phản kích; tiêu diệt địch tháo chạy trên đường số 7) lực lượng ta đã đánh tan Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, các lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung bộ.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Tại Quảng Nam, sau hơn một ngày tấn công, ta đã giải phóng thị xã Tam Kỳ vào lúc 10 giờ 30 ngày 24-3-1975. Tại Quảng Ngãi, 7 giờ sáng quân ta tiến đánh thị xã. Sau một ngày chiến đấu, địch bỏ chạy cùng với một đoàn xe trên 200 chiếc chạy theo đường số 1 về hướng Chu Lai.

Trước đó, lực lượng ta đã tiến công các vị trí phòng thủ của liên đoàn 11 biệt động quân, cắt đường số 1, đoạn từ Sơn Tịnh đi Bình Sơn, chặn đường rút về Chu Lai của địch. Địch lọt vào trận địa phục kích của ta đã thiệt hại nặng nề: 550 tên bị diệt, 3.500 tên bị bắt sống, 206 xe quân sự bị phá hủy.

Nhờ đó, ta đã uy hiếp thế phòng thủ của địch tại phía Nam Đà Nẵng. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lại phải kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng”. Nếu không giữ được Đà Nẵng thì phải cầm cự 1-2 tháng để bố trí lại thế phòng thủ chiến lược và di tản một triệu dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao ép buộc ta ngừng tấn công.

Vào ngày này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và khẳng định thời cơ chiến lược lớn đã đến. Bộ Chính trị quyết định: Hành động nhanh chóng, táo bạo bất ngờ đánh địch, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

N.T.H.H tổng hợp

sggp.org.vn

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ

Ngày 23-4-1975, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”. Tiếp đó, Mỹ quyết định di tản người Mỹ ra khỏi Sài Gòn. Đô đốc Noel Gayler, chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương, quyết định thành lập một cầu hàng không tới Sài Gòn.

Lúc này thành phố Sài Gòn như lên cơn sốt. Địch đào các hố cá nhân, xây dựng nhiều chướng ngại vật hình chữ chi, tổ chức nhiều cụm súng máy, súng cối trên các ngõ đường vào Sài Gòn. Lực lượng phòng thủ Sài Gòn của địch lúc này còn khá đông.

Ở vòng ngoài, có các sư đoàn 5, 18, 25, 22 bố trí thành tuyến phòng thủ cách trung tâm Sài Gòn từ 30 đến 50km, từ Long An qua Tây Ninh, Biên Hòa đến Long Bình. Địch còn le lói hy vọng dựa vào các căn cứ và các cụm cứ điểm lớn, vững chắc để ngăn và đẩy lùi các cuộc tiến công của ta.

Ở vùng ven Sài Gòn, lực lượng địch có 3 lữ đoàn dù và thủy quân lục chiến, 3 liên đoàn biệt động quân được bố trí ở Hóc Môn, Tân Sơn Nhất, Bình Chánh, Gò Vấp, Nhà Bè làm nhiệm vụ khu vực và sẵn sàng cơ động ứng cứu cho vòng ngoài. Ở nội thành, địch tổ chức thành 5 liên khu với lực lượng chủ yếu là cảnh sát và phòng vệ dân sự.

Trong lúc này, tiên liệu được chiến thắng giải phóng Sài Gòn, Ban Bí thư đã chỉ đạo chuẩn bị khẩn trương nhà in và giấy để kịp ra báo ngay từ đầu khi giải phóng Sài Gòn.

Trước đó, Bộ Chính trị đã cho ý kiến về công tác tiếp quản Sài Gòn với các yêu cầu: tiếp quản tốt các cơ sở quân sự, kinh tế, chính trị, hành chính, văn hóa… của địch, giữ gìn tốt tài sản quốc gia; lập lại nhanh và giữ vững an ninh trật tự, quản lý tốt ngụy quân, ngụy quyền, trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng; khôi phục nhanh chóng sinh hoạt bình thường của nhân dân; phát động được phong trào cách mạng trong quần chúng; đạt được ảnh hưởng chính trị tốt trong và ngoài nước.

NTHH tổng hợp

SGGP Online

Đại thắng trong mắt một người Mỹ

Đất nước Việt Nam đang thay đổi hàng ngày. Trong ảnh: Dân cư bên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè (TPHCM) hôm nay. Ảnh: Văn Khánh

Merle Ratner – Ủy viên BCH Chiến dịch Cứu trợ và Trách nhiệm đối với nạn nhân điôxin Việt Nam – hiện đang ở thăm Việt Nam đã nói về Chiến thắng 30/4/1975.

Bà có thể kể lại cảm tưởng của mình khi nghe tin về Chiến thắng 30/4?

Đại thắng mùa xuân năm 1975 của nhân dân Việt Nam là một trong những khoảnh khắc hiếm hoi và vui sướng nhất cuộc đời tôi. Tôi đã tích cực tham gia phong trào phản chiến từ khi mới 13 tuổi. Những năm tháng khi còn là học sinh tiểu học, trung học và cả những năm đầu học đại học, tôi đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam. Tôi bị bắt một vài lần vì tội cản trở quân dịch.

Trong những năm tháng đó, chúng tôi luôn tin rằng nhân dân Việt Nam nhất định sẽ chiến thắng, giống như họ đã từng đánh thắng thực dân Pháp.

Chúng tôi đã nhiều lần ca vang bài “Việt Nam sẽ thắng”. Nhất là khi thấy các tỉnh và thành phố ở Việt Nam lần lượt được giải phóng trong tháng 3 và tháng 4 năm 1975, chúng tôi hiểu rằng ngày toàn thắng của các bạn đang đến rất gần.

Ngày 30/4/1975, chúng tôi vô cùng hoan hỉ khi chứng kiến các lực lượng giải phóng tiến về Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chiến thắng dành cho những người dân Việt Nam anh hùng, những người đã phải hy sinh cả xương máu để có được chiến thắng vinh quang đó.

Chúng tôi cảm thấy chiến thắng của các bạn cũng là chiến thắng dành cho chúng tôi, và cho nhân dân trên toàn thế giới. Chúng tôi vô cùng hân hoan và tự hào!

Việt Nam được giải phóng và thống nhất. Điều này đem lại cho chúng tôi một niềm tin rằng nếu như một dân tộc đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì công lý thì nhất định dân tộc ấy sẽ giành thắng lợi. Nó cũng khiến chúng tôi tin rằng chủ nghĩa đế quốc Mỹ có thể cũng sẽ bị đánh bại ở những nơi khác trên thế giới và ở ngay chính nước Mỹ!

Giờ đây, trở lại Việt Nam dự lễ kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền nam, tôi cảm thấy hạnh phúc và tự hào trước những thành quả mà Việt Nam đã đạt được trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ độc lập dân tộc. Tôi cảm thấy vinh dự khi được cùng người dân Việt Nam dự lễ kỷ niệm này. Đồng thời, trong tôi lại trỗi dậy những hình ảnh về những vết thương chiến tranh khủng khiếp do Mỹ gây ra đối với Việt Nam.

Điều này nhắc nhở chúng tôi cần phải nỗ lực hơn nữa để góp phần giành lại công lý cho những nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, và cũng để đảm bảo rằng Mỹ phải tôn trọng chủ quyền của Việt Nam và không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Tại sao bà lại tham gia vào các hoạt động ủng hộ Việt Nam trong thời gian dài như vậy? Những hoạt động có ý nghĩa nhất trong cuộc đời của bà là gì?

Cơ sở cho các hoạt động đoàn kết của tôi với Việt Nam trong suốt và sau khi kết thúc cuộc chiến tranh là tình đoàn kết, chủ nghĩa quốc tế và ý thức trách nhiệm cá nhân.

Đoàn kết có nghĩa là quần chúng nhân dân trên thế giới cần phải dựa vào nhau và ủng hộ lẫn nhau trong cuộc chiến vì hòa bình, công lý và nhân phẩm. Đoàn kết cũng gắn liền với chủ nghĩa quốc tế, đó là nếu tất cả chúng ta không cùng nhau đấu tranh vì độc lập, hòa bình và bình đẳng, chúng ta sẽ luôn bị đe dọa bởi những kẻ coi lợi nhuận hơn cả tình người.

Trách nhiệm cá nhân xuất phát từ việc chứng kiến những gì mà chính phủ Mỹ đã gây ra đối với nhân dân Việt Nam và chúng ta sẽ đấu tranh cho đến khi nào cuộc chiến buộc phải chấm dứt.

Chính phủ Mỹ vẫn tiếp tục phát động các cuộc chiến tranh xâm lược các nước có chủ quyền, mà gần đây nhất là đối với Irắc. Vì thế, chúng ta cần phải tiếp tục đấu tranh để chấm dứt sự xâm lược của Mỹ đối với Irắc, cũng như chấm dứt bất kỳ cuộc chiến tranh nào khác ở bất cứ nơi đâu.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tôi hoạt động trong nhiều tổ chức khác nhau, bao gồm cả liên minh phản chiến lớn nhất thời bấy giờ. Tôi cũng họat động trong một nhóm ủng hộ Mặt trận Giải phóng Dân tộc. Sau năm 1975, chúng tôi thành lập một nhóm gọi là Những người bạn Đông Dương nhằm giúp đỡ sự nghiệp xây dựng đất nước của Việt Nam và chấm dứt lệnh cấm vận của Mỹ.

Kể từ khi Mỹ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ, chúng tôi đã hoạt động để đòi Mỹ phải có trách nhiệm đối với các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam và chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền hay các vấn đề tôn giáo. Kể từ năm 1975, chúng tôi đã tổ chức nhiều đợt kỷ niệm lớn ngày chiến thắng 30/4, trong đó lớn nhất là vào năm 1985 và 2000.

Bà nghĩ gì về những thay đổi và sự phát triển diễn ra ở Việt Nam sau mỗi chuyến đi của bà đến đất nước này?

Đây là lần thứ 5 tôi đến Việt Nam. Lần đầu tiên tôi đến Việt Nam là vào năm 1985, và lần gần đây nhất là năm 1991. Khi tôi đến Việt Nam lần đầu tiên, Việt Nam vẫn còn rất nghèo và đang trong quá trình khắc phục sự tàn phá của cuộc chiến tranh, nhưng có một tinh thần đoàn kết tuyệt vời, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người dân. Kể từ đó mỗi chuyến đi tới Việt Nam, ấn tượng trong tôi ngày càng tăng lên về mức sống của người dân và trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Trong chuyến đi gần đây nhất, tôi được chứng kiến nhiều thay đổi ở đất nước các bạn. Đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và sự phát triển tiềm năng sáng tạo của người Việt Nam. Thành công trong việc xóa đói giảm nghèo cũng rất ấn tượng. Trong chuyến đi lần này, tôi sẽ hiểu hơn về hiện thực cuộc sống của người dân Việt Nam.

Tôi sẽ đi thăm những thành phố và cả những vùng nông thôn để tận mắt được thấy những thành tựu to lớn trong công cuộc phát triển đất nước của các bạn. Tôi cũng hy vọng sẽ được gặp gỡ những thanh niên Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người sẽ là tương lai của đất nước Việt Nam.

TTX