Nữ biệt động kiệt xuất Lê Hồng Quân – Kỳ cuối

Được công nhận sau 34 năm

Chị Quân (thứ tư từ phải sang) và đồng đội cũ trong một buổi họp mặt ảnh do chị Quân cung cấp

Sau ngày hòa bình, ngoài 23 lần lên bàn mổ lấy miểng đạn ra, phần lớn thời gian còn lại, chị chống nạng đi “gõ cửa” cơ quan chức năng để được công nhận sự tồn tại của tiểu đoàn; vừa làm chính sách cho đồng đội còn sống, làm thủ tục công nhận liệt sĩ cho đồng đội hy sinh.
Chị cho biết, thập niên những năm 80 – 90, chị và một số cán bộ của tiểu đoàn nhiều lần dùng tiền lương hưu của mình, bỏ công đi tìm đồng đội, để nếu có ai chưa được hưởng chính sách Nhà nước theo quy định thì xác nhận cho họ. Số lượng hồ sơ chính sách được các chị xác nhận đến nay đã lên 200 người.

Chị Quân kể thêm: Có một chị tên là Thu Ba không có cha, được mẹ sinh ra trong Bệnh viện Từ Dũ. Mẹ chết tại bệnh viện, Thu Ba về ở với bà ngoại ở ngã tư Bảy Hiền – Tân Bình. Bà ngoại chết, còn lại một mình Thu Ba vừa làm công nhân dệt ở Bảy Hiền vừa tham gia các phong trào đấu tranh của công nhân.

Cô được kết nạp Đảng, sau đó gia nhập lực lượng biệt động của Tiểu đoàn Lê Thị Riêng và hy sinh trong đợt tổng tiến công Mậu Thân. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, chị Quân xác nhận, Thu Ba đã hy sinh và mang hồ sơ đến cơ quan chức năng. Người tiếp nhận hồ sơ bảo chị phải ghi cho đủ hai địa phương là “quê quán ở đâu”, “nơi hy sinh” thì mới công nhận liệt sĩ cho Thu Ba được. Chị Quân cho biết nơi hy sinh thì chị xác nhận được. Còn quê quán ở đâu ra, dù đã rất cố gắng các chị cũng không thể biết được. “Cung cấp đại cho họ hai địa danh thì dễ thôi. Nhưng như vậy hóa ra tôi nói láo với Nhà nước à?”.

Trường hợp của nữ liệt sĩ Vũ Thanh Nghiệp cũng vậy. Thời chiến tranh không ai còn thời gian đi sâu vào hoàn cảnh gia đình từng người, hay quê quán của nhau làm gì. Những điều đó lại là “tối kỵ” của lính biệt động đang hoạt động trong lòng địch, các chị cũng chỉ biết mang máng rằng hai mẹ con Nghiệp từng sống nghèo khổ trong một cái chòi bên bờ rạch Cây Bàng, quận 4. Mẹ chết, Nghiệp được các chị giác ngộ đưa vào hoạt động trong phong trào đấu tranh “thanh niên phụng sự lao động”; được kết nạp Đảng và sau đó gia nhập lực lượng biệt động Lê Thị Riêng với chức vụ Tiểu đội trưởng Tiểu đội 3, Trung đội 2 của tiểu đoàn.

Chị Nghiệp hy sinh trong đợt tấn công vào Sài Gòn đợt 2-1968. Không biết quê quán chị Nghiệp ở đâu. Chị cũng không còn ai thân thích nên không thể hoàn tất được hồ sơ công nhận liệt sĩ theo yêu cầu của cơ quan chức năng…
Vẫn với giọng xúc động mạnh, chị Quân nói như khóc: “Tôi chỉ muốn những đồng đội của tôi được Nhà nước ghi công, để họ được ghi tên vào bia tưởng niệm Bến Dược. Thế thôi! Chứ nào có ai nghĩ đến tiền tử tuất hay trợ cấp gì đâu!”. Nhưng cho đến nay các chị Thu Ba, chị Nghiệp và nhiều đồng đội nữa của chị đã hy sinh, vẫn không có tên trong hồ sơ các liệt sĩ. Chị hay nói đến cụm từ rất buồn “để họ đừng chết hai lần”, có lẽ là nói về những trường hợp này.

Chị Quân không nói, nhưng chúng tôi biết Tiểu đoàn Lê Thị Riêng và 3 cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn đã được đề nghị Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Trong số 3 người được đề nghị phong tặng danh hiệu cao quý này, có Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Quân.
Nhưng trước khi được đề nghị Nhà nước vinh danh Anh hùng, Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng đã từng bị bỏ quên suốt 34 năm, kể từ khi đơn vị này được thành lập.

Một sự thật lạ lùng đến khó tin! Đơn giản là vì không còn giấy tờ gì (như Quyết định thành lập đơn vị) để chứng minh rằng đã có một “Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng” tồn tại trong một giai đoạn lịch sử quan trọng trước 1975. Ngay cả Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Quân cũng không chứng minh được khi giao dịch hành chánh cần đến loại giấy tờ này.

Như đã nói, Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng ra đời và giải thể, những người còn sống, một số chuyển sang đơn vị khác, phần lớn thì… ai về nhà nấy. Với người đi làm cách mạng, đất nước thống nhất, mục tiêu của đại cuộc đã hoàn thành là coi như xong phận sự. Không ai có nhu cầu phải có Quyết định thành lập tiểu đoàn để làm gì. Chỉ khi các chị có ý định thành lập Ban liên lạc Tiểu đoàn; đặc biệt là khi làm chính sách, hồ sơ công nhận liệt sĩ… thì các chị mới tá hỏa là cần phải có đủ giấy tờ để chứng minh: Anh, chị ở đơn vị nào? Đơn vị thành lập ngày nào? Ai ký quyết định thành lập?… Chị Quân: “Chiến tranh mà. Hễ có lệnh là làm, đâu có ai đòi hỏi phải có quyết định mới làm đâu”.

Chị cho biết, chính ông Bảy Bình (Nguyễn Thái Sơn, Phó bí thư Khu ủy Sài Gòn Gia Định) thay mặt Bộ Chỉ huy Tiền phương Nam truyền đạt tinh thần thành lập tiểu đoàn, giao cho chị phụ trách, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ông. Kết thúc tổng tấn công đợt 1, để chuẩn bị cho đợt 2 (1968), chị Quân nhận lệnh từ ông Bảy Bình đưa quân ém, sau đó chiến đấu tại địa bàn Quận Nhì và tăng cường cho Quận 4.

Hội nghị bàn việc thành lập tiểu đoàn diễn ra vào cuối tháng 2.1968 người chủ tọa là ông Trần Bạch Đằng lúc đó là Bí thư phân khu nội đô. Tham dự hội nghị này có bà Nguyễn Thị Tấn (Ba Hồng) – Khu ủy viên T4 (biệt động thành Sài Gòn) kiêm Bí thư Đảng ủy 36 chợ Sài Gòn – Gia Định; có thiếu tướng Võ Văn Thạnh – Chính ủy phân khu nội đô và một số vị lãnh đạo trong Tư lệnh Thành. Hôm đó bà Tấn đã đề nghị lấy tên Lê Thị Riêng, một cán bộ trung kiên đã bị địch bắt và giết trong chiến dịch Mậu Thân, làm tên tiểu đoàn.

Sau này, trong một bức thư tay gửãi chị Lê Hồng Quân đề ngày 15.4.1979 ông Trần Bạch Đằng cũng xác nhận đã từng có một Tiểu đoàn nữ biệt động hoạt động tại Sài Gòn. Trong thư ông viết: “Vì bí mật bất ngờ tiến công địch nên tôi trực tiếp giao nhiệm vụ cho 6 Xuân (chị Lê Thị Bạch Cát, Bí thư Quận Đoàn 2, đã hy sinh – NV) và Hồng Quân phụ trách 2 lực lượng biệt động đồng khởi của Quận Đoàn 2 và Tiểu đoàn Lê Thị Riêng…”.

Nhưng Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng vẫn chưa thể có “pháp nhân” chính thức do không có quyết định thành lập. Người trực tiếp lãnh đạo đơn vị này là ông Nguyễn Thái Sơn (Bảy Bình) cũng đã hy sinh. Không ít ý kiến khác nhau về việc này. Có người cho rằng đó chỉ là lực lượng du kích từ các nơi đưa về tăng cường cho Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân, không có đơn vị biệt động nào mang tên Lê Thị Riêng cả…

Chỉ có đồng đội còn sống của chị Quân và hương hồn những người lính biệt động thành đã khuất là chứng nhân lịch sử cho sự kiện này, rằng chính các chị đã chiến đấu đến cùng để không hổ danh người nữ anh hùng liệt sĩ mà tiểu đoàn các chị vinh dự được mang tên.

Ý kiến nhiều nhưng sự thật chỉ có một. Sau nhiều cuộc họp, cuối cùng ngày 12.9.2002, tức 34 năm sau ngày Tiểu đoàn Lê Thị Riêng được thành lập, ông Võ Văn Cương, Phó bí thư thường trực Thành ủy TP.HCM đã thay mặt Ban Thường vụ Thành ủy ký Quyết định (số 413-QĐ/TU) “Công nhận việc thành lập Tiểu đoàn Lê Thị Riêng” – tức Tiểu đoàn nữ biệt động nội thành Sài Gòn; kết thúc cuộc tranh cãi kéo dài về một tiểu đoàn anh hùng.

Tuy đã tìm lại được “danh phận” cho tiểu đoàn của mình, nhưng chị Quân vẫn còn nhiều việc phải làm. Và rồi đây chị sẽ còn mất nhiều thời gian đi tới đi lui nữa, để những đồng đội của chị còn nằm ở đâu đó dưới lòng đất Sài Gòn có thể yên nghỉ.

Nguyên Thủy – Văn Nhiều

>> Kỳ 2: Chinh phục giang hồ Sài Gòn
>> Kỳ 1: Tuổi thơ dữ dội

Nữ biệt động kiệt xuất Lê Hồng Quân – Kỳ 2

Chinh phục giang hồ Sài Gòn

Chị Lê Hồng Quân - ảnh: N.T

Chuyện chưa xong, chị Lê Hồng Quân nói mệt, phải nghỉ để mai đi tỉnh sớm, làm… chính sách. Trong tập hồ sơ dày cộm chị cầm, chúng tôi thấy có nhiều trường hợp là nam giới.
“Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng, sao lại có nam?”, khi gặp lại chị, chúng tôi thắc mắc. Chị giải thích, ban đầu đa số là nữ, nhưng về sau phải tuyển thêm nhiều nam do yêu cầu của hoàn cảnh thực tế chiến đấu. Thành ra, danh nghĩa là đơn vị nữ biệt động, nhưng có tới gần một nửa nam giới. Nhiều người đã nhầm lẫn chi tiết này, chị đề nghị chúng tôi thông tin lại cho rõ.

Những năm 1966-1967, chính quyền Sài Gòn ráo riết lùng sục vây “bắt lính”. Lúc đó, số cán bộ tăng cường từ Cần Thơ lên Sài Gòn – Gia Định (SG-GĐ) do ông Nguyễn Thái Sơn (Bảy Bình), Phó bí thư Khu ủy SG-GĐ trực tiếp chỉ đạo (ông Trần Bạch Đằng lúc đó là Bí thư Khu ủy). Lực lượng này nhận lệnh từ Khu ủy, bí mật trà trộn vào nội thành nhận nhiệm vụ vừa cài đặt cơ sở cách mạng, vừa tổ chức thanh niên chống lại các đợt “tổng động viên” của chính quyền cũ. Phong trào được phát động chủ yếu ở các khu lao động nghèo, có nhiều thanh niên trốn quân dịch như Khánh Hội, Tôn Đản, Cây Bàng, Vĩnh Hội (Q.4); khu lao động ở đường Nguyễn Thông nối dài ( Q.3); các khu Bảy Hiền, Mã Lạng… Để có thể đấu tranh phản ứng, tạo chướng ngại vật, cản đường lùng sục của lính và cảnh sát, ít nhiều phải có vài ngón… võ thuật; có chút máu “giang hồ” càng tốt. Tất cả những yêu cầu này đều được các cơ sở nội đô của chị Quân đảm nhận, bí mật đưa người xuống giúp dân.

Khi thực hiện các công việc này lực lượng nữ biệt động SG-GĐ đã tiếp cận và thuyết phục nhiều tay giang hồ có máu mặt ở quận 4 đang trốn lính. Chính các “tay anh chị” này đã ném tối hậu thư vào nhà các tên chuyên “theo đóm ăn tàn”: nếu chỉ điểm người trốn lính cho cảnh sát bắt, thì sẽ bị trừng trị thích đáng! Quá sợ hãi, bọn chỉ điểm và quan quyền đương chức quận 4 đã phải cầu hòa, thông qua sự dàn xếp của “đàn anh” Lê Văn Bi đang là tài công giỏi của hãng RMK. Anh này mặc dù không lập băng, nhóm nhưng nhờ giỏi võ thuật và rất có nghĩa khí nên được giới giang hồ kiêng nể như một… đại sư huynh. Những tên chỉ điểm cũng không ngờ chính sư huynh Lê Văn Bi là người đã được các nữ biệt động cảm hóa, nhận dạy võ cho các nhóm thanh niên chống bắt lính trong các khu lao động. Nhờ mối liên lạc ấy mà rất nhiều tin tức quan trọng của chính quyền cũ, kể cả các cuộc bố ráp bắt lính, đại sư huynh Bi đều biết, báo lại cho lực lượng nữ biệt động SG-GĐ, từ đó truyền tai đến các xóm lao động.

Nhắc đến vị hảo hán này, chị Quân không ngớt trầm trồ. Chị kể, nhiều chị em được quân ta cài vào RMK đã tận mắt thấy Lê Văn Bi dám “bạt tai” một tên cai và cảnh cáo: “Mẹ! Làm công ăn lương thì biết ăn lương thôi. Sao lại ỷ thế hà hiếp công nhân?”. Từ hạt nhân Lê Văn Bi, phong trào phản kháng giới chủ ở RMK lên cao. Khi biết giới chủ và chính quyền cũ có ý định sa thải hơn 600 công nhân quân cảng Sài Gòn, thay vào đó là công nhân đến từ Philippines để bốc xếp các loại vũ khí, hóa chất bí mật, Lê Văn Bi cùng với chị em công nhân được cài vào đã đình công tập thể. Theo lời chị Quân, cuộc đấu tranh lần đó đã kéo theo nhiều nghiệp đoàn lao động các nơi khác, làm thất bại âm mưu của địch.

Khi đã phát triển đông quân số, cuối năm 1967 cánh cán bộ hoạt động bí mật nội đô SG-GĐ chính thức trở thành đơn vị nữ biệt động SG-GĐ, tiền thân của Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng sau này. Đơn vị do chị Quân phụ trách, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Khu ủy SG-GĐ. Đại sư huynh Lê Văn Bi sau đó trở thành quyền Trung đội trưởng Trung đội 3 của đơn vị này. Một số tay “anh chị” khác cũng theo gương anh Bi, “rửa tay gác kiếm” để trở thành chiến sĩ biệt động của cách mạng.

Sau đợt tổng tấn công vào Sài Gòn dịp Tết Mậu Thân, lực lượng biệt động SG-GĐ được lệnh đưa quân vào “ém” tại các cơ sở nòng cốt đã được đơn vị này bí mật xây dựng, chủ yếu tại các căn cứ ở quận nhì (nay thuộc quận 1-TP.HCM) và quận 4 để chờ đợt tấn công mới. Chỉ đạo của Đảng ủy và Bộ chỉ huy tiền phương đối với lực lượng này là “cờ phất, giờ điểm là hành động, không trông chờ, không ỷ lại ngoại viện…”. Theo hợp đồng, hỏa lực mạnh của ta sẽ nã phủ đầu cơ quan đầu não địch để biệt động đồng loạt tấn công các bót, ty cảnh sát ngụy. Đến “giờ G”, không hiểu vì trục trặc sao đó, nên hỏa lực ta đã không nổ như dự kiến. Dù vậy, lực lượng biệt động SG-GĐ vẫn quyết tâm xung trận. Loa phóng thanh được sử dụng để phát lệnh tấn công vang lên oang oang tại các đường Đề Thám, Cô Bắc, Cô Giang, Nguyễn Thái Học, Bến Chương Dương, Bùi Viện… nhằm lung lạc tinh thần địch quân. Cánh biệt động do Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Quân phụ trách (lúc này đã mang tên Tiểu đoàn Lê Thị Riêng) triển khai tấn công quyết liệt tại đường Đề Thám. Bà con hẻm 83 Đề Thám hỗ trợ bằng cách lăn ống cống và vứt nhiều vật dụng khác ra đường làm chướng ngại vật, phòng ngừa xe tăng địch tiến vào phản công. Cuộc chiến đấu tại đây diễn ra ác liệt, giằng co suốt đêm 4.5.1968. Sáng hôm sau địch quân phản công dữ dội. Tiểu đoàn trưởng Lê Hồng Quân bị thương gãy tay. Để khỏi vướng cánh tay đang lủng lẳng, chị nhờ đồng đội Lê Thị Bạch Cát (6 Xuân) cắt hộ để tiếp tục chiến đấu thu hút hỏa lực địch về mình, tạo điều kiện cho đồng đội rút lui tránh bớt thương vong. Nhưng thương bạn, Bạch Cát không cắt. Chị Quân phải tự rút dao găm cắt tay mình. Đến trưa cùng ngày, Bạch Cát và nhiều chiến sĩ biệt động khác hy sinh. Hết đạn và kiệt sức, chị Quân bị địch bắt.

Mẹ chị, bà Lê Thị Xuân, cán bộ phụ vận Sài Gòn cũng bị bắt sau đó không lâu. Chính quyền cũ giam hai mẹ con cùng một phòng giam. Lúc thì chúng tra tấn mẹ trước mặt chị; lúc thì tra tấn chị trước mặt mẹ. Đòn roi và nhiều trò tra tấn dã man khác đã trút xuống hai mẹ con từ các nhà tù trong đất liền đến “chuồng cọp” Côn Đảo. Nhưng trước sau hai người nhất quyết không nhận nhau là mẹ – con.

Sau Hiệp định Paris, năm 1974 hai mẹ con chị được trao trả tù binh tại sân bay Lộc Ninh. Chị Quân kể, 6 năm ở tù chung với mẹ, nhiều lần chị muốn gọi “mẹ” nhưng không gọi được. Hôm trở về với cách mạng cùng với mẹ, chị đã kêu “Mẹ ơi!” thật to và khóc. (Còn tiếp)

* Kỳ 1: Tuổi thơ dữ dội

Nguyên Thủy – Văn Nhiều

Nữ biệt động kiệt xuất Lê Hồng Quân – Kỳ 1

Tuổi thơ dữ dội

Chị Lê Hồng Quân - ảnh: N.T

Chị Lê Hồng Quân, người kế tục Anh hùng liệt sĩ Lê Thị Riêng nắm giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn nữ biệt động hoạt động giữa lòng Sài Gòn trong thời kỳ chiến tranh ác liệt khi mới tròn 21 tuổi. Trái tim yêu thương và lòng quả cảm của chị đã trở thành một tượng đài trong lòng đồng đội và nhiều người khác.
Nhắc đến tên Lê Hồng Quân, các vị lão thành cách mạng, cựu chiến binh mà chúng tôi đã gặp ai cũng trầm trồ: “Bà đó lì lắm, xứng danh nữ biệt động anh hùng”. Những ai từng chiến đấu trong Bộ chỉ huy tiền phương Nam (cánh Nam – sau đây gọi tắt là Bộ chỉ huy tiền phương), cái tên Lê Hồng Quân đã trở thành một tượng đài. Tên này do Đảng đặt cho, còn tên khai sinh của chị là Đào Thị Huyền Nga.

Sau ngày hòa bình, chị và gia đình không về lại quê (ven thành phố Cần Thơ) mà chọn định cư tại Sài Gòn, nơi chị và đồng đội từng vào sinh ra tử. Về hưu chị vẫn tất bật với những việc không tên, dù cha chị đang nằm bệnh viện. Chị đi suốt, khi Sóc Trăng, lúc Tiền Giang; rồi Cần Thơ, Vĩnh Long, Long An. Có hôm chị bôn ba tận Quảng Nam, Đà Nẵng… Phải đến cái hẹn lần thứ ba chúng tôi mới được chị dành thời gian tiếp sau khi hướng dẫn: “Em đi về hướng Thanh Đa, đến gần cầu Kinh quẹo phải, quẹo trái, rồi quẹo trái. Nhờ bà con chỉ giùm nhà bà… cụt tay”.

Hôm tiếp chúng tôi tại nhà, chị bảo đang lo làm thủ tục xác nhận chính sách cho một cựu chiến sĩ biệt động – “lính” của chị ở Tiểu đoàn Lê Thị Riêng ngày nào – hiện sống rất nghèo khổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Câu chuyện xoay quanh những người nữ biệt động năm xưa, cả người còn sống lẫn những người đã chết. Chị nói, rất nhiều đồng đội đã hy sinh trong đợt tổng tiến công Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn, đến nay vẫn chưa được công nhận liệt sĩ. Sau ngày hòa bình, Tiểu đoàn biệt động Lê Thị Riêng hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình, đã giải thể. Mỗi người một quê, ai về nhà nấy, rất khó liên lạc. Trong số đó nhiều người không được hưởng chính sách gì. Lý do là họ chưa được xác nhận đã từng là quân giải phóng, địa phương không biết họ là ai.

Chị cho biết, trong trận tổng tấn công Mậu Thân đợt 2 tại quận Nhì, quận 4, đơn vị chị mất tổng cộng 15 người. Mặc dù các chị đã phải đi tới đi lui nhiều lần hết tỉnh này đến tỉnh kia, nhưng cũng chỉ có 1 trường hợp được công nhận liệt sĩ là anh Hà Văn Tiết, nhưng lại viết sai tên. 8 trường hợp khác đã hoàn tất các yêu cầu hành chính rất nhiêu khê như đăng báo tìm người mất tích, giấy báo tử, rồi qua BCH Quân sự TP.HCM, Sở LĐ-TB-XH… thẩm tra. Hồ sơ 8 người này coi như xong, nhưng giấy công nhận liệt sĩ (Bằng Tổ quốc ghi công) thì còn phải tiếp tục chờ.

Giọng bùi ngùi, chị Quân kể, 8 liệt sĩ trên may mà các chị còn lần ra được họ tên, quê quán, có người xác nhận đã hy sinh. 6 trường hợp còn lại chỉ có tên gọi như “chị Hai đòn gánh”, ” chị Sáu Gà”, ” Bác Tư cơm tấm” (là những cơ sở bí mật trong nội thành Sài Gòn) không thể tìm ra tên thật, quê quán nên chưa thể làm hồ sơ công nhận liệt sĩ cho họ được. Chị Quân nói: “Phương châm hoạt động của lực lượng biệt động nội đô quy định là: Chỉ có người lãnh đạo trực tiếp mới biết rõ người được giao việc, chuyện ai làm người đó biết, người khác không thể biết. Không hỏi tên, tuổi, gia cảnh, quê quán”. Vì không biết được quê quán 6 đồng đội đã hy sinh, nên hồ sơ liệt sĩ của họ không thể làm được.

oOo

Chị Quân đã trải qua một tuổi thơ dữ dội. Thời thơ ấu của chị chỉ thấy một màu thuốc súng; chỉ thấy chống càn, chống cướp đất, chống tăng tô. Có lần các chị leo lên cây dừa lấy bẹ làm súng giả, sơn đen, ban đêm nhìn rất giống súng thật. Bằng thứ “vũ khí” này các cô gái tuổi 13, 14 như chị thuở đó đã làm cho tên trưởng ấp vãi đái ra quần, bị các chị bắt giao cho các cô chú cách mạng. Để có súng thật, các chị bày ra kế treo cờ xanh – đỏ – ngôi sao vàng trên cây dừa cao, cốt cho lính bảo an trong đồn Phú Thứ nhìn thấy. Treo xong lấy dầu mỡ bôi trơn phần trên thân cây dừa, rồi núp đợi. Hai lính bảo an nhận lệnh phải hủy lá cờ này. Một đứng dưới gốc cây dừa canh gác. Một dựng súng dưới đất, trèo lên và… rơi xuống cái bịch! Lập tức các chị đồng thanh hô: “Bắt lấy tay sai. Bắt, bắt…”, và khua mõ vang rền, làm lính đứng canh bỏ chạy thục mạng. Chị nhanh chóng cướp súng của gã lính bị té rồi… chạy.

Năm 1954, gia đình chị được điều đến điểm tập kết ở Kiên Giang chuẩn bị ra Bắc. Nhưng cuối cùng gia đình được lệnh ở lại miền Nam. Ở điểm tập kết, chị thường được một chú tên Tâm dẫn đi xem văn nghệ. Một hôm địch đi càn, chú Tâm bị chúng bắt dẫn ra đầu làng. Chị nhìn thấy lính Diệm tra tấn, mổ bụng chú. Trước khi chết chú còn ráng hô to: “Đả đảo”. Lòng căm thù trong cô bé bùng lên. Hình ảnh chú Tâm, như chị nói “chất phác, thương người, nghĩa khí”…, với chị là tấm gương cách mạng đầu tiên, là sự hy sinh dũng cảm nhất mà chị biết trong cuộc đời, cả khi còn cầm súng lẫn khi đã về hưu. Thời khắc bi tráng đó đã giúp chị hiểu phần nào vì sao các cô, chú lại bỏ làng, bỏ nhà đi làm cách mạng.

Từ đó chị hăng hái tham gia công việc các cô chú giao. Khi đưa thư, chuyển tài liệu; hướng dẫn thuyền đưa quân sang sông; khi thì vào đồn làm thân với con em lính để điều nghiên các mục tiêu rồi về báo lại cho các cô, các chú. Năm nổ ra Đồng Khởi, chị vào Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam. Năm 14 tuổi, chị được bầu làm Phó bí thư Xã Đoàn, rồi Xã đội phó phụ trách lực lượng du kích, dân quân; hướng dẫn nhân dân làm hầm chông và kêu gọi lính cộng hòa bỏ ngũ. Chính quyền Diệm treo giải ai bắt được chị sẽ thưởng lớn. Năm 1962, chị được đề nghị kết nạp vào Đảng, nhưng vì thiếu tuổi (15 tuổi) nên địa phương không kết nạp được. Hồ sơ được chuyển vượt cấp lên trên và Tỉnh ủy Cần Thơ đã chuẩn y. Tại buổi lễ kết nạp Đảng ngày 13.12.1962, chị được tổ chức đặt cho tên Lê Hồng Quân.

Năm 16 tuổi chị chính thức nhập ngũ, được điều về một đơn vị thuộc bộ đội Tây Đô. Sau đó, theo chủ trương của Trung ương cục miền Nam, cuối 1965 chị được điều động tăng cường cho chiến trường Sài Gòn – Gia Định. (Còn tiếp)

Nguyên Thủy – Văn Nhiều

Giao liên – “binh chủng” kỳ lạ

“Đời giao liên, bước tôi đi, dài theo theo đất nước,
đường tôi đi núi chênh vênh, có mây bay dưới chân giăng thành,
đời tôi như những con thoi dệt tình yêu quê hương đất nước,
đời tôi như cánh chim bay, cánh chim bay suốt dải Trường Sơn…”.

(Nhạc và lời: Vũ Trọng Hối)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên chiến trường miền Nam có một “binh chủng” hợp thành rất kỳ lạ mà hơn 30 năm kết thúc chiến tranh, ít người nhắc đến và cũng ít người biết đến.

Bộ đội trên đường Trường Sơn – Ảnh tư iệu

Một thời oanh liệt

Những người trong “binh chủng” ấy cũng ít có điều kiện gặp nhau như các quân, binh chủng hoặc các cơ quan, đơn vị khác hồi thời chiến, bởi tính “đặc thù” nghề nghiệp của họ trong chiến tranh, phần đông họ không được “chuyển tiếp” một cách trọn vẹn vào thời bình như nhiều đơn vị khác sau ngày 30.4.1975… Đó là đội ngũ những giao liên viên chiến trường. Họ ít được tổ chức, phiên hiệu, quân số chặt chẽ như các binh trạm Trường Sơn hoặc các đơn vị chính quy, vì “tuổi thọ” giao liên trực tiếp ở chiến trường ngắn lắm. Họ là những chiến sĩ “dẫn đường” theo đúng nghĩa và đúng thực trạng chiến tranh nhân dân giải phóng, mà không có họ, dù từ cán bộ cao cấp, anh lính văn nghệ – báo chí đến cả lính trinh sát, đặc công hay bộ đội chính quy, cán bộ địa phương… đều khó lòng ra trận, không thể xuống vùng sâu – vùng xa, và ngược lại, khi trở về căn cứ, chuyển vùng…

Tôi thật sự xúc động khi nhận được tờ giấy mời, theo tinh thần là “đến chơi với anh em”, từ tay một đồng đội cũ hồi ở chiến trường Quảng Đà, có ghi mấy dòng đơn sơ, nội dung của một thời chưa xa, nhưng nay nghe chừng lạ hoắc: “Cuộc gặp mặt thân mật với anh chị em giao liên hợp pháp, bán hợp pháp, bất hợp pháp của chiến trường Quảng Đà và thân nhân liệt sĩ giao liên trong thời kỳ chống Mỹ…” (theo nghĩa tương đối: giao liên hợp pháp: sống công khai trong vùng địch làm liên lạc cho ta; giao liên bán hợp pháp: sống nửa công khai, nửa bí mật để làm giao liên cả vùng địch và vùng ta; giao liên bất hợp pháp: sống và hoạt động giao liên ở các vùng giải phóng và vùng tranh chấp giữa ta và địch). Nói đây là loại “binh chủng hợp thành” vì, theo tôi nghĩ, chỉ có chiến tranh nhân dân giải phóng miền Nam mới có. Đây là đội quân chỉ cần có lòng yêu nước, dũng cảm và căm thù giặc; không phân biệt tuổi tác, thành phần xã hội, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, ngoại hình… với những yếu tố và phương thức hoạt động đa dạng, phù hợp, bất ngờ.

Dù hoạt động “đơn tuyến” hay “đa tuyến”, họ không chỉ là người “đưa – nhận thư” đặc biệt (biết ngụy trang, nghi trang, giả trang); mà còn phải biết “nghe thư – nói thư” (tiếp thu – truyền đạt nội dung, không được phép ghi chép hoặc dùng văn bản) từng đặc điểm tình hình, sự việc, mệnh lệnh với yêu cầu đến từng chi tiết nhất, nghiêm ngặt nhất; biết tổ chức đưa – đón cơ sở và cán bộ hoạt động bí mật ra – vào nội thành; biết tổ chức thu nhận tài liệu và cả vận chuyển vũ khí bí mật vào thành, mà phải biết đánh địch khi cần, để bảo vệ tài liệu, bảo vệ cán bộ… Họ nhiều lúc không chỉ là mạch máu, trái tim, mà có khi còn là cả thần kinh giữa chiến trường, vùng ven đô, trong nội thành… Đối với đội ngũ giao liên trực tiếp chiến trường thì càng đặc biệt hơn, đó là những người “lính – đường – dây” thực sự.

Đoàn xe chở hàng cho chiến trường miền Nam trên đường Hồ Chí Minh – đường Trường Sơn – Ảnh tư Liệu – TTXVN

Canh cánh những nỗi niềm

Cuộc gặp mặt của anh chị em cựu giao liên còn sống sót thời chống Mỹ ở chiến trường Quảng Đà và chiến trường Quảng Nam, cùng thân nhân các liệt sĩ không chỉ đầy nước mắt mà còn có cả nụ cười. Bởi, sau hơn 30 năm chấm dứt chiến tranh, lần đầu tiên họ mới có một cuộc hội ngộ đông đến vậy. Và, cũng bởi trong chiến tranh khốc liệt trên chiến trường Quảng Đà, một thời, từng có câu truyền miệng: ai đã gặp một giao liên nào đó vài lần trên một cung đường hãy “chúc thọ” đồng chí mình còn may mắn… Tôi cũng không còn nhớ nhiều, bởi vì có quá nhiều người hy sinh, nhiều liệt sĩ giao liên có danh – vô danh đã nằm lại vĩnh viễn đâu đó trên khắp chiến trường, phần lớn là ở tuổi “mãi mãi mười tám – đôi mươi”…

Tôi cũng quá đỗi bùi ngùi bởi đội ngũ từng được coi là “hạt gạo trên sàng” mới ngày nào sau khi chấm dứt chiến tranh, tuổi còn hai mươi, ba mươi, nay vẫn mộc mạc chân chất, nhưng mái đầu giờ đã ngả bạc và có người đời sống hiện tại vẫn còn chật vật… Nhưng “không sao, còn sống gặp nhau là vui rồi!”. Đó cũng là câu nói cửa miệng của nhiều người lúc thăm hỏi nhau và rưng rưng nước mắt khi nhớ về đồng đội, bạn bè kẻ mất người còn, để cùng nhắc lại những kỷ niệm một thời trên chiến trường gian khó…

Trần Dũng vẫn gầy gò loắt choắt như xưa, chỉ khác là mái đầu nay đã muối nhiều hơn tiêu khi vào tuổi U.60, nhưng vẫn được nhiều người khen còn linh lợi lắm, không khác cái thời mang biệt danh “Dũng lì” của chiến trường vùng B Điện Bàn và khu Tây Duy Xuyên, con thoi nổi tiếng của đường dây Hòn Tàu – Xuyên Thanh – Kỳ Lam – Trảng Nhật… năm nào. Trần Dũng cũng từng là người “đẻ” ra chúng tôi (tôi và Trần Phú Quý, nguyên Phó chủ tịch Ngoại vụ Tổng Đoàn học sinh Đà Nẵng, Ủy viên BCH Đặc khu Đoàn Quảng Đà, hy sinh năm 1974 tại Mặt trận Quảng Đà) lần thứ hai khi một mình băng lũ trong đêm cứu sống mấy anh em Thành Đoàn trong trận vừa chống lũ vừa chống địch càn vượt sông La Thọ về Điện Tiến hồi cuối năm 1972. Sau khi “mất sức” với chiếc thẻ thương binh “có hạng”, Dũng lang bang với đủ thứ nghề: “phụ” xe khách, “chủ” xe ôm, thất nghiệp… và gần đây, “nhờ giải tỏa đền bù” mới từ trong hẻm sâu ra được mặt tiền với ít vốn lận lưng, mở quán bán thịt chó cũng đang ăn nên làm ra, cũng có con gái đầu đang học đại học…

Trần T.N.L – thường gọi là “Lan vũ nữ” – vốn là học sinh trung học, làm giao liên “hợp pháp” cho phong trào SV – HS Đà Nẵng những năm 1973 – 1975 (giữa Đặc khu Đoàn Quảng Đà và Tổng Đoàn học sinh Đà Nẵng), cùng thời nổi tiếng trong “vai phụ” là vũ nữ, từng ra vào nội thành Đà Nẵng như chốn không người, “vẽ” bản đồ bằng trí nhớ cực giỏi. Trần T.N.L cũng chính là người “lót ổ” cho mấy anh em Đặc khu Đoàn chúng tôi bí mật vào Đà Nẵng trước ngày 29.3.1975. Nhưng rồi sau chiến tranh, “lý lịch vũ nữ” cũng làm cô điêu đứng một thời, sau đó cũng về “hưu non” với một đứa con gái. Hôm gặp nhau ai cũng khen “cháu giống mẹ như xưa”, chỉ riêng L. cười trong nước mắt…

Gặp lại Nguyễn T.N, từng là giao liên bộ phận công tác thành phố của Đặc khu Đoàn Quảng Đà, tôi nhớ một buổi sáng ngày 26.3.1975, chính cô gái “bốc lửa” của vũ trường Phương Đông ngày nào đã đón và đưa tôi từ Phái Nhì, Điện Hòa, Điện Bàn đi “hợp pháp” vào Đà Nẵng chuẩn bị cho ngày giải phóng 29.3. May mắn hơn nhiều đồng đội cùng trang lứa một thời, Nguyễn T.N đã có chồng và có con cái nay đã trưởng thành…

Trong khi đó, ông Trần Trương cho tôi xem tấm ảnh gian bàn thờ ông tự lập trong nhà riêng hơn 10 năm nay với bài vị 37 liệt sĩ giao liên trong đơn vị qua các thời kỳ ông từng phụ trách. Theo ông, cũng gọi là “để nhớ và có nơi hương khói cho anh chị em…”. Ông cũng chọn ngày giải phóng Đà Nẵng 29.3 hằng năm làm ngày “giỗ hội” cho các đồng chí, bởi nhiều liệt sĩ, đến hôm nay không còn ai nhớ ngày hy sinh, vì nhiều người cùng thời đã mất; nhiều người mất xác không tìm được hài cốt, không người thờ tự…

Lê Đức Hùng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ cuối

Chiếc áo màu hoàng hậu

Người vợ trẻ của nhà tình báo - Tư Cang (ảnh chụp cuối năm 1947)

Để sắm vai “hai người tình” che mắt cảnh sát Sài Gòn, Tư Cang và Thảo (Mỹ Nhung) thường sóng đôi ra khỏi nhà, cứ như họ “sắp cưới nhau”.

Một bữa Thảo hỏi: “Hôm nay anh thích em mặc áo màu gì?”. Tư Cang: “Màu hoàng hậu đi em!”. Và hai người bước ra chiếc xe Honda đỏ nổ máy thoát khỏi cặp mắt dòm ngó của viên cảnh sát mật cạnh nhà. Chở Thảo vòng qua bùng binh chợ Bến Thành, Tư Cang dừng trước rạp Rex và chia tay “người tình”. Thảo cười duyên dáng bước xuống xe, lẫn vào đám đông như một con bướm giữa rừng.

Tư Cang nói, màu sắc tham dự rất nhiều vào các tín hiệu trên “đường tình báo”, để nhận ra nhau, trao tài liệu mật. Tài liệu chuyển theo nhiều cách, như ở một điểm sát Sài Gòn, cô giao thông tên Xinh về đến, đưa Tư Cang gói mắm ruốc rồi đi. Ông gạt mắm ra chén, lẫn trong ruốc có ve dầu Song Thập nhỏ bằng ngón tay út, đập bể chai dầu lộ ra hai tờ giấy hút thuốc rất mỏng, chi chít những dòng báo cáo của anh Tám từ khách sạn Embassy gửi ra về tình hình chính trường Sài Gòn giữa tháng 4.1975. Một cách nghi trang khác khá mạo hiểm như nữ giao thông Tư Ánh đã giao Tư Cang một chồng bánh tráng giữa chợ Bến Thành bên trong có… 2 khẩu K54 và 27 viên đạn.

Đối đầu với hiểm nguy, nhà tình báo vẫn có “những phút giây lãng mạn”? Năm 26 tuổi, trong chuyến thâm nhập lần đầu tiên vào Sài Gòn (1954), ông đã vượt sông Soài Rạp lúc trời tối cùng nữ đồng chí 23 tuổi tên H. xuất thân từ trường nữ sinh Áo Tím (Gia Long). Họ ngồi trên chiếc “xuồng ba lá” (ghép bằng 3 tấm ván mỏng), bất thần tàu tuần tra của lính Pháp từ phía Nhà Bè chạy tới, quét đi quét lại ánh đèn pha sáng rực. Thấy nguy, Tư Cang nhảy xuống sông kéo theo H., cô H. ôm chặt lấy Tư Cang. Ông kể “tôi phải hai chân đạp nước theo động tác lội đứng để giữ thăng bằng, còn cánh tay ôm choàng qua ngực người đồng đội, đầu cô nằm im trên vai tôi, ngửa lên ngang mặt nước…”. Khi tàu tuần tra Pháp đi khỏi, H. vẫn nằm yên trên cánh tay phải của ông giữa dòng Soài Rạp một lúc.

Lên bờ, hai người ngồi bên nhau trên một thân cây bần dưới ánh trăng, mà không nói điều gì cho rõ. Đến lúc con nước ngoài sông dâng cao với tiếng bìm bịp kêu từng chập, báo hiệu trời sắp sáng, thì H. lên tiếng trước: “Rừng lạnh quá!”. Tư Cang bất chợt đưa tay vòng qua thân H. cho ấm, cô để yên. Rồi H. nói anh là người đầu tiên đã ôm siết em và cứu sống em dưới dòng sông, em muốn anh hứa với em một điều được không? Tư Cang hỏi hứa gì? H. đáp: “Hứa anh là của em và em là của anh!”. Nhưng ông im lặng, nhìn vào đôi mắt đẹp lạ thường của H. dưới trăng, không nói gì. H. giục mãi. Ông vẫn im lặng, vì ông nghĩ mình đã… có vợ rồi.

Là do ông cưới vợ hồi mới 18 tuổi ở miền quê Long Phước (1946). Vợ ông kém ông một tuổi. Lúc lấy nhau hai người đều do gia đình đặt để theo lệ xưa với mong muốn con cháu “yên bề gia thất”. Qua những ngày chung đụng họ yêu nhau. Lúc vợ mang thai, ông ra chiến khu đánh Pháp, xa nhà biền biệt. Ông không nói rõ với H. chuyện đó, chỉ sợ H. thêm buồn, nên lấy cớ hai người đang hoạt động bí mật, sống chết bất ngờ không biết trước. H. cúi xuống và nước mắt tuôn ra. Tư Cang nắm lấy tay cô siết chặt, vừa lúc ấy có tiếng người gọi H. đi gấp. Đến khúc quẹo, cô dừng lại quay nhìn Tư Cang lần cuối…

Chị Tư Cang đang dắt con (Nhồng) trên đường phố Sài Gòn năm 1950 - Ảnh: nhân vật cung cấp

H. đi rồi, Tư Cang lọt vào Sài Gòn, tìm đến nhà của cơ sở cách mạng vùng chợ Hòa Hưng, chỉ cách khám Chí Hòa vài trăm thước. Ở đó hằng ngày cưỡi chiếc mobylette màu vàng để đi lại, vẽ bản đồ, điều tra lực lượng đồn trú của đối phương từ cầu Chữ Y đến Chợ Lớn. Bấy giờ, vợ ông cũng rời làng Long Phước lên Sài Gòn, con gái ông đã lên 7 tuổi và ông cũng biết được, cùng địa chỉ của vợ con. Mặc dầu công tác tình báo không cho phép ông tiếp xúc với người thân, nhưng một hôm, sắp hoàn tất nhiệm vụ, ông không cưỡng nổi, đã ngoắc một chiếc xích lô máy, bảo về số 11 – Rue Villard (nay là đường Phan Chu Trinh, TP.HCM). Gần tới nơi, ông xuống xe đi bộ một quãng, đến gốc cây vú sữa trước nhà và người đầu tiên ông gặp là mẹ vợ của ông đang ngồi vá quần áo dưới bóng cây. Bà nhấc đôi kính lão nhìn sững ông một lát, reo lên kinh ngạc: “Thằng Sáu! Thằng Sáu!” và gọi đứa con gái lên 7 của ông ra đón: “Nhồng ơi! Ba mày về đây nè!”.
Ba vợ của ông đang ngồi trên ván đưa tay lên miệng ra dấu cho bà im lặng. Vợ ông dưới bếp dắt con đi lên, đứa con từ ngày ra đời đến lúc ấy chưa hề thấy mặt cha bao giờ. “Tôi ôm nó vào lòng và hôn lên đầu, lên trán. Con tôi cười và ngước lên nhìn tôi rồi ngập ngừng gọi nhỏ: Ba! Ba! Cũng như nó, lần đầu tiên trong đời tôi thốt lên: Con! Con gái cưng của ba! Vợ tôi ngồi xuống sát bên tôi. Tôi choàng tay qua vai hôn vội vàng lên má”. Vợ ông hỏi: “Anh ở lại đến tối được chớ?”. Ông đáp: “Không, anh phải đi ngay bây giờ”. (Nghe vậy) vẻ mặt vợ tôi thoáng buồn. Lòng tôi càng xót xa”. Có bóng người thập thò nơi cửa, ông đi nhanh ra đường, trái tim vừa rộn lên vì cuộc gặp đã vội co thắt, chùng xuống, vì phải chia tay. Người vợ trẻ năm xưa nay đã hơn 80 tuổi đang sống cùng ông với con gái và cháu ngoại tại TP.HCM.

Ông nói thêm, trên đường hoạt động, ông đã được nhiều người giúp đỡ, như cô gái tên T. đã nhanh trí giúp ông thoát khỏi cuộc ruồng bố bên bờ sông Sài Gòn cách đây hơn nửa thế kỷ và hồi tưởng: “Đã qua cơn hãi hùng, cô gái T. có vẻ e thẹn. Em chui ra khỏi mui ghe và chạy đi. Tôi nhìn theo, lòng thẫn thờ như vừa bị cô gái mang đi một cái gì. Ôi đời chiến sĩ tình báo rày đây mai đó. Cuối cuộc chiến tranh này, có lẽ quả tim tôi bị nát vụn, để lại mỗi phương trời một mảnh”.

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 9

Bí quyết của một điệp viên chiến lược

Tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ

Là người được Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp giao nhiệm vụ từ năm 1954, tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ vào Nam xâm nhập dinh Độc Lập – nơi tập trung quyền lực cao nhất của chính quyền Sài Gòn – trở thành “người nhà” của tổng thống Diệm, rồi “cố vấn tổng thống Thiệu”.
Ở những vị trí thuận lợi nhưng khá nguy hiểm đó, tướng Nhạ đã thu thập và phúc trình về Hà Nội những tài liệu chiến lược, bao gồm nhiều điều cơ mật mà ngay các bộ trưởng Sài Gòn cũng không được biết tới. Sau này dù ông bị CIA trưng bằng cớ “hoạt động tình báo cho cộng sản” và đày ra Côn Đảo (cùng hai người khác là Huỳnh Văn Trọng và Nguyễn Xuân Hòe), song Thiệu vẫn giữ tình cảm đặc biệt với “ông cố vấn” và cho người bắn tin vào nhà giam (sau Hiệp định Paris 1973) để hỏi “ông cố vấn” là nếu được trả tự do ông sẽ chọn về đâu?

Ông Nhạ trả lời muốn về Paris, Roma, hoặc Lộc Ninh. Và chiều 23.7.1973, ông được đưa lên chuyến máy bay hạ cánh xuống vùng giải phóng Lộc Ninh để trao trả cho chính phủ cách mạng. Nhưng không lâu sau, đầu năm 1974, ông xâm nhập trở lại Củ Chi, nối kết đường dây giao thông với nội thành, ăn ở bí mật tại Sài Gòn để tiếp tục hoạt động tình báo. Một cách nhanh chóng, ông đã bắt liên lạc với nhiều vị có uy tín trong giới trí thức và các viên chức cao cấp, cũng như các nhà lãnh đạo tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo đương thời, để chuẩn bị nhân sự thành lập lực lượng thứ ba theo yêu cầu của trung tâm.

Ngô Đình Diệm (phải) và tướng ODaniel (Mỹ) - Ảnh: tư liệu

Đến những ngày tàn của chế độ Sài Gòn, Thiệu vẫn rất cảm động khi biết “ông cố vấn” ngày trước của mình đang bí mật quay lại đâu đó giữa đô thành và gửi lời thăm Thiệu lúc tình hình căng thẳng và bất lợi nhất cho Thiệu vào giữa tháng 4.1975. Thông qua các linh mục được Thiệu kính nể, Vũ Ngọc Nhạ đã gửi lời khuyên Thiệu đừng do dự, mà hãy nhanh chóng từ chức tổng thống để bảo toàn tánh mạng. Những chi tiết trên do tướng Nhạ kể lại với chúng tôi trong buổi phỏng vấn tại nhà riêng của ông trên đường Nguyễn Văn Mai, quận 3, TP.HCM vào giữa năm 1996 và một phần nội dung đã đăng trên báo Thanh Niên năm ấy (số ra ngày 14.7) trong mục Tự bạch (lúc ông còn sống). Qua đó ông nói về bí quyết thành công của một điệp viên chiến lược là phải làm sao am hiểu từng con người mình đang chinh phục.

Muốn vậy, không chỉ để tâm đến những chuyện lớn, mà cần nghe ngóng, ghi nhớ cả những câu phát biểu ngoài lề. Ví dụ, có lần ngồi chung xe Jeep với tướng Dương Văn Minh trước năm 1975, phóng qua đường phố Sài Gòn, rồi lòng vòng quanh những ngôi biệt thự trồng đầy hoa vàng ở ngoại ô, ông Minh đã buột miệng nói: “Mỹ bỏ bom miền Bắc khác nào bỏ bom lên đầu anh em của mình, phải không?”. Từ câu nói ấy, Vũ Ngọc Nhạ đánh giá tướng Minh là người có thể “đối thoại được” sau này. Không chỉ vậy, theo tướng Nhạ: “Không nên đặt con người mà mình cần am hiểu để chinh phục nào đó vào một “khung nhất định”. Khi tiếp xúc với những nguyên thủ ở dinh Độc Lập, tôi thấy rằng việc đặt những con người mình cần theo dõi, trong đó có họ, vào các nhận định ban đầu về họ, không thay đổi, thì rất khó. Vì họ chuyển đổi tâm lý, kể cả quan điểm, theo từng hoàn cảnh gặp phải, và theo những biến cố lớn. Nên mình cũng phải nhìn họ theo những chuyển đổi đó để ứng xử hợp lý. Điều này phù hợp với quan điểm biện chứng, vận động của Marxisme. Như trường hợp tôi có thể nêu ra dưới đây mà tôi tin chắc rằng không ít người để ý, là ông Ngô Đình Diệm của năm 1954 khác với ông Diệm năm 1962. Khác chỗ nào?”.

Tướng Vũ Ngọc Nhạ giải thích: “Ông Diệm năm 1954 là người chống cộng triệt để, không cần dông dài các bạn cũng rõ rồi. Với luật 10/59, ông cho lê máy chém khắp miền Nam với hy vọng hão huyền rằng sẽ “làm cỏ” những người Việt theo cộng sản. Nhưng ông đã không đạt được mục đích đó, dầu bấy giờ cách mạng miền Nam đúng là có tạm thời khó khăn, nhưng rồi những năm sau đó vẫn bén rễ xanh cây với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trước thực tế sống động ấy, buộc ông Diệm phải suy ngẫm về ảo vọng “diệt cộng” trước đây của mình. Huống là thêm vào đó, người Mỹ những năm đầu thập niên 1960 càng lộ rõ chân tướng là “ông chủ”, chứ chẳng phải người bạn “đồng minh” của ông Diệm. Họ nhúng tay vào nội bộ, chi phối lộ liễu nhiều hoạt động chính trị ở trung ương và địa phương của Nam Việt Nam, nhất là khi đòi loại bỏ Ngô Đình Nhu ra khỏi dinh Độc Lập.

Trước yêu cầu đó, ông Diệm họp gia đình “tứ long” gồm: Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và tôi tức “Hoàng Long” để tìm cách giải quyết. Ông Thục khăng khăng bảo ông Diệm phải giữ tình anh em và không được bỏ ông Nhu. Ông Diệm bảo đảm với Nhu rằng, nếu Nhu rời dinh Độc Lập ông cũng sẽ thôi làm tổng thống nữa. CIA biết được cuộc họp của anh em “gia đình trị” này, với các nội dung như thế đã không mấy vui vẻ, giới quân sự Mỹ thì bực tức ra mặt. Sau đó Mỹ tỏ thái độ bằng cách “chủ trò” trong việc ném bom dinh Độc Lập. Bom bỏ trúng đích, nổ ngay trong phần dinh có phòng riêng của Ngô Đình Nhu. May là sáng hôm đó, Nhu đã rời phòng sớm hơn thường lệ để cùng ông Diệm ra đón ông Thục (có tôi cùng đi), nếu không Nhu đã mất mạng. Còn bà Trần Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu, bị vôi gạch do sức ép của quả bom bay ra làm trầy xước mặt mày, sau phải qua Nhật “sửa sắc đẹp”. Sau ngày thoát chết, vợ chồng ông Nhu rất “căm” CIA và các cố vấn Mỹ. Những điều tôi vừa nói về việc người Mỹ muốn loại ông Ngô Đình Nhu trên đây được chính Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara thừa nhận trong hồi ký xuất bản năm 1995”.

Tướng Nhạ nói tiếp, sau “khúc dạo đầu” không giết được Nhu đó, CIA Mỹ gợi ý với ông Diệm nên đưa Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Người đầu tiên phản đối là Ngô Đình Thục, đã nói đại ý là ở trong nước ông Nhu còn bị ném bom mưu sát, huống chi ra nước ngoài đơn độc, chỉ làm bia cho đạn Mỹ nã chết mà thôi! Vậy rõ ràng “diệt cộng” là một ảo vọng không thành, mà muốn giữ “độc lập” với người bạn “đồng minh” bên trong lại là một ảo vọng khác. Bị tác động bởi hai ảo vọng đó, ông Diệm đi tìm giải pháp khác “quay lại với người Pháp và hòa giải với Hà Nội”. Ông Nhu công khai nêu rõ ý muốn đó và Pháp “hồi âm”: muốn miền Nam trung lập hóa. Còn việc hòa giải với Hà Nội, Nhu rất ngại Vũ Ngọc Nhạ không tán thành, vì Nhu luôn cho rằng Nhạ “chống cộng” quyết liệt nên “nhiều bữa tôi giả vờ tình cờ tìm cách hé mở khéo léo cho Nhu thấy rằng tôi đồng ý việc Sài Gòn bí mật tiến hành tiếp xúc và hòa giải với Hà Nội”.

Kể chuyện trên, tướng Nhạ nhằm minh chứng cho điều ông đã nêu ra về “việc cần thiết của một điệp viên là phải am hiểu từng con người và đặt con người ấy trong những chuyển đổi không ngừng của từng giai đoạn để ứng xử và chinh phục họ”. Đó là những gì “ông cố vấn” đưa ra liên quan đến bí quyết thành công của nhà tình báo. Còn đại tá Tư Cang? Theo Tư Cang, ngoài những cái lớn lao phải tuân thủ, nhà tình báo không được xem thường những thứ nhỏ nhặt khác quanh mình, ngay cả… một chồng bánh tráng ngoài chợ, hoặc một gói mắm ruốc từ đâu đưa đến nhà, như câu chuyện sẽ kể ở kỳ sau. (Còn tiếp)

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 8

“Phạm Xuân Ẩn vẫn cười, vẫn nói, vẫn ung dung”

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn giữa các tùy viên quân sự Mỹ - Ảnh tư liệu

Sài Gòn trở nên sôi động sau Tết Mậu Thân 1968 với tin “trùm tình báo Cộng sản” cài ở dinh Độc Lập đóng vai trò cố vấn cho Tổng thống Thiệu bị CIA phát giác, bắt giam, tra tấn và đưa ra xét xử với án chung thân – đó là Vũ Ngọc Nhạ (cụm tình báo chiến lược A22).

Lạ một điều, sau ngày ông Nhạ và các cộng sự bị đày ra Côn Đảo, việc rò rỉ thông tin tình báo ở dinh Độc Lập lẽ ra bị dập tắt, nhưng ngược lại, những tường trình có tầm vóc chiến lược vẫn bị tiết lộ ra ngoài. Biết điều ấy, Thiệu ức lắm, cho rằng CIA vu oan cố vấn đặc biệt của mình (Vũ Ngọc Nhạ) nhằm cô lập Thiệu, nên Thiệu tìm cách đưa Vũ Ngọc Nhạ về lại đất liền khoảng 3 năm sau đó, vô tình phục hồi hoạt động tình báo chiến lược của cụm A22.

Khi Vũ Ngọc Nhạ bị bắt khỏi dinh Độc Lập, Thiệu (cũng như CIA) không ngờ bên cạnh họ vẫn còn một điệp viên cộng sản khác. Đó là Hai Trung – Phạm Xuân Ẩn. Chính Hai Trung là người đã giúp Thiệu các thủ tục để Thiệu đến Mỹ lần đầu, học khóa tham mưu sĩ quan tại Leavenworth. Và theo Tư Cang, muốn hiểu vì sao Thiệu không e dè khi để Hai Trung tham dự những cuộc họp quan trọng ở dinh, thì cũng nên biết qua những nét chính trong đời “điệp viên hoàn hảo” này.

Hai Trung sinh năm 1927, quê gốc Biên Hòa – Đồng Nai, tham gia phong trào Trần Văn Ơn tại Sài Gòn năm 1950, được Phạm Ngọc Thạch trực tiếp giao nhiệm vụ hoạt động tình báo chiến lược từ 1952, trở thành đảng viên cộng sản, đi lính Pháp, công tác ở Phái bộ Huấn luyện Quân sự Mỹ từ 1955, sang Mỹ học đại học 1957 và về Việt Nam làm việc cho Việt Tấn Xã từ 1960, cho Reuters từ 1960 – 1964, là cây bút có uy tín của tuần báo Times (1965 – 1976). Hai Trung còn viết trên nhật báo The New York Herald Tribune, với thẻ hành nghề do Giám đốc Nha Thông tin – Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ là Nguyễn Văn Huấn cấp, ghi rõ: “Trân trọng yêu cầu các giới hữu quyền hành chánh và quân sự dành mọi sự dễ dàng cho đương sự trong lúc thừa hành phận sự nhà báo”.

Một thẻ khác do Tổng cục Chiến tranh chính trị Việt Nam Cộng hòa cấp, cho phép “Làm phóng sự về công cuộc huấn luyện các hoạt động cũng như theo dõi các cuộc hành quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và thăm viếng các phi trường quân sự tại Việt Nam”, do Tổng cục trưởng là thiếu tướng Trần Văn Ẩn ký. Với một số giấy tờ tương tự, Hai Trung đã ra vào các cơ quan quản lý hoạt động hành chánh, kinh tế và quân sự của chính quyền Sài Gòn một cách dễ dàng, thậm chí được các sĩ quan cấp tá của Mỹ mời lên trực thăng quân sự đi quan sát các vùng chiến thuật. Ông còn là một nhà báo đặc cách, được xếp ngang hàng các chuyên viên và được mời vào Phủ tổng thống (dinh Độc Lập) dự các cuộc họp quan chức Việt – Mỹ, được đọc các tài liệu mật để tham khảo và góp ý cho đường lối chiến lược của chính quyền Sài Gòn!

Về phía Mỹ, ông thân cận nhiều nhân vật cấp cao của chi nhánh CIA ở Đông Nam Á và Việt Nam. Ban đầu là các tham mưu của Edward G.Lansdale, nắm nhiều nguồn tin quan trọng về các chiến dịch càn quét Việt Cộng do Lansdale quyết định. Trong suốt 23 năm (tính đến 1975), Hai Trung đã thâm nhập sâu vào các cơ quan đầu não của Mỹ và chính quyền Sài Gòn để lấy những tài liệu tối mật và đã “cung cấp kịp thời nhiều tài liệu bằng nguyên bản có giá trị lớn” (như hồ sơ tuyên dương anh hùng của ông ghi rõ). Chẳng hạn, những báo cáo về mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn, những ý đồ quân sự và bình định qua các đời tổng thống Mỹ, những bước đi trong chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” thời Nixon. Trong đó có cả những hồ sơ liên quan đến kế hoạch cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, thể hiện bằng cuộc hành quân Lam Sơn 719 vào đầu 1971.

Chúng ta thử xem xét hiệu quả thực tế trên chiến trường đưa đến từ sự kết hợp chiến thuật quân sự của Hà Nội với tài liệu tình báo gửi từ Sài Gòn ra, qua ghi nhận dưới đây:

Từ mồng 3 Tết Tân Hợi, nhằm 30.1.1971, lực lượng Mỹ ở phía Nam sông Bến Hải lặng lẽ triển khai, tạo một bàn đạp vững chắc phóng sang Lào. Suốt 7 ngày sau đó, những vị trí chiến thuật then chốt ở Quảng Trị nhanh chóng được chiếm lĩnh để ba cánh quân Sài Gòn gồm bộ binh, lính nhảy dù và thiết giáp sẵn sàng vượt biên giới. Thiệu đã tung vào cuộc 2 sư đoàn tinh nhuệ nhất của “quân lực Việt Nam Cộng hòa” trong đó có sư đoàn thủy quân lục chiến… Nhưng ngót nửa tháng, đội quân ấy vẫn mắc kẹt trên đường, số tử thương tăng lên từng ngày, việc tải xác chết khỏi mặt trận không làm xuể và “ma sự” bắt dầu ám ảnh mạnh đến tinh thần binh lính. Qua ngày thứ 15, thời hạn chiếm Tchépone như dự định “tuyệt vời trên giấy” vụt qua. Cựu tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn, tướng Westmoreland được Kissinger tham vấn ngay về tình hình chiến trận khi đó, đã nhận định ít nhất phải có 4 sư đoàn Mỹ mới tiến chiếm và giữ được Tchépone, chứ 2 sư đoàn Sài Gòn dù là “tinh nhuệ nhất” vẫn chịu chết… Cố vấn tổng thống Thiệu là TS Nguyễn Tiến Hưng đúc kết: Chiến dịch kết thúc sau 44 ngày với con số thương vong cao: 8.000 người, là một yếu tố làm suy nhược ý chí chiến đấu của Nam Việt Nam”.

Nguyễn Tiến Hưng còn viết, người ta đưa ông Thiệu xem bức ảnh đăng trên các tạp chí Mỹ chụp cảnh một người lính Sài Gòn bám đuôi chiếc trực thăng cứu nạn của Mỹ để “cố chạy sao cho thoát khỏi chảo lửa của mặt trận Tchépone, giống như một con thỏ chết nhát”. Bức ảnh chú thích bên dưới: “Một con thỏ!”. Xem ảnh Thiệu tức lắm, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh, cười gằn, bảo ông ta xem thường điều mỉa mai đó, vì sự thật không phải binh lính Sài Gòn là “những con thỏ”, mà “chính các phi công trực thăng người Mỹ đã sợ lưới đạn của Cộng sản vây bủa trên đường đến Tchépone, nên đã sợ hãi dạt ra xa và bay mất!”.

Những báo cáo khác của Hai Trung đã giúp ích rất nhiều cho quyết định của B2 và Hà Nội vào các giai đoạn quyết liệt dẫn đến sự kiện lịch sử 30.4.1975. Cuối tháng 9.2006, khi Hai Trung qua đời tại TP.HCM, Tư Cang đã đến Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng thắp hương vĩnh biệt và ghi trong sổ: “Bị ốm nặng không đi lại được, anh thường dùng điện thoại chuyện trò tâm sự với tôi. Có lần anh nói vui: chắc lá số tử vi của anh và tôi tốt lắm, cao số lắm, nên tình báo CIA và đặc ủy Sài Gòn mới không phát hiện được hai đứa mình, chớ tụi mình có giỏi hơn anh em đâu? Nay anh ra đi, là bạn chí thân sống chết bên nhau trong thời chiến tranh chống Mỹ giữa Sài Gòn, tôi làm mấy câu thơ tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng: Những lúc hiểm nguy căng sợi tóc/Vẫn cười, vẫn nói, vẫn ung dung…”. (Còn tiếp)

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 7

Dấu hỏi về những kế hoạch bị tiết lộ

Trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, quân Giải phóng đã đánh chiếm tòa Đại sứ Mỹ làm cho cả thế giới phải kinh ngạc. Sau đó Sài Gòn đã tăng cường phòng thủ rất nghiêm ngặt nhưng quân Giải phóng lại từ mọi phía tiến đánh Sài Gòn đợt 2 - Ảnh do ISIKAWA Bundo chụp tại Chợ Lớn

Sau ngày Tám Hà khai báo, CIA và quân đội Sài Gòn dự đoán được khoảng thời gian tấn công đợt 2, đã dùng phi cơ chiến lược B52 ném bom rải thảm vùng ven Sài Gòn, nhằm “tạo vòng đai lửa bảo vệ thủ đô và chặn đứng Cộng sản”. Các địa điểm chôn giấu, dự trữ đạn pháo do Tám Hà tiết lộ, liên tục nhiều đêm bị máy bay Mỹ quần đảo ném bom, phối hợp với pháo lớn của quân đội Sài Gòn bắn nã vào, khiến vùng Bắc Hóc Môn bị băm vằm, tan nát.

Tiếng bom vùng ven còn đang nổ, Phòng tình báo B2 yêu cầu cụm H63 nắm tình hình mới nhất ở nội thành, chú ý phản ánh tâm lý của chính khách và binh lính Mỹ, kèm theo đề xuất của chính H63: đánh hay không nên đánh đợt 2 vào Sài Gòn? Lúc ấy đã cuối tháng 4, mà theo dự kiến tháng 5 sẽ nổ súng, thời hạn gần kề, thúc bách, nên Tư Cang vừa nhận chỉ thị xong, lập tức phóng honda đến nhà Hoàng Nam Sơn, thường gọi “anh Tám”, cũng là một cán bộ tình báo cụm H63 ở 113 đường Cô Bắc. Anh Tám là người quản lý khách sạn Embassy nơi có nhiều chính khách, sĩ quan Mỹ và các nước lui tới. Tư Cang nói anh Tám hãy tiếp cận, gợi chuyện các “thực khách đặc biệt” của khách sạn Embassy để thâu thập thêm một số tin tức mới nữa: “Việc gấp quá nên sáng mai mình sẽ gặp nhau lại ở nhà hàng Victory lúc 6 giờ 45 để gút”. Bằng kinh nghiệm nghiệp vụ, anh Tám bắt tay vào việc rất nhanh….

Ngay hôm sau, anh Tám đã chuyển các nội dung Tư Cang yêu cầu đến Victory – rất đúng hẹn. Khoảng 9 giờ, ở một căn phòng trên cư xá Việt Nam Thương Tín, Tư Cang viết bản báo cáo quan trọng, đúc kết từ nguồn tài liệu mới nhất do các cán bộ H63 cung cấp, đặc biệt của Hai Trung (qua cuộc tiếp xúc với một nhân viên cao cấp của CIA Mỹ phụ trách vùng Đông Nam Á và một đại tá trong Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn), của anh Tám và Yến Thảo vừa khai thác, đại ý: “Người Mỹ ở Sài Gòn đang bàn tán về tác động của trận tổng tấn công hồi Tết của ta và ta thán về những thiệt hại nặng nề ở mặt trận Khe Sanh. Họ cho rằng Tổng thống Johnson bị sức ép quá lớn của “phái bồ câu” trong hai viện của Quốc hội và phản ứng chống chiến tranh của dân chúng Mỹ khi xem hình ảnh người lính Mỹ cam khổ, bị thương, chết chóc, được chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình và in lên mặt báo, nên Johnson phải tuyên bố thôi không ra tranh cử tổng thống vào cuối năm nữa, để dồn sức giải quyết vấn đề Việt Nam.

Theo đó, Johnson muốn chuyển việc gánh vác cuộc chiến trực tiếp sang vai người Việt Nam để thay cho người Mỹ. Phóng viên bình luận chính trị người Pháp của tuần báo Express nhận định: đó là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy chiều hướng chấm dứt sự tham gia của Mỹ tại Việt Nam. Về ngoại giao, họ cũng bàn tán một sự kiện mới vừa hé mở, đó là đầu tháng 4, Johnson có chỉ thị mật cho Sullivan, Đại sứ Mỹ tại Lào, tìm cách nào đó để tiếp xúc với người đại diện chánh quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa mong tìm giải pháp ra khỏi “đường hầm không lối thoát”.

Còn các viên chức và sĩ quan của những nước đồng minh với Mỹ đang hoạt động ở Sài Gòn như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc thì cho biết tâm trạng của họ là mong mỏi hòa bình, không muốn duy trì quân đội và các hoạt động quân sự của mình quá lâu tại Nam Việt Nam. Theo nguồn tin từ các chính khách Mỹ đang có mặt tại Sài Gòn, thì trong tình thế đó, Johnson cùng các bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao của Chính phủ Mỹ đang rất lo ngại lại phải đối mặt với các trận tấn công nữa của quân giải phóng vào Sài Gòn và các trung tâm dân cư khác sắp tới.

Vì như thế sẽ làm tăng thêm tâm lý chán chường, phản đối chiến tranh trong lòng nước Mỹ. Tin mới nhất từ dinh Độc Lập cho biết, dầu không thích gì mấy chủ trương “xuống thang” trên của tổng thống Mỹ, song chính quyền Thiệu cũng không muốn phải ứng phó với những trận đánh mới trước mặt. Do vậy, việc cho đăng tải công khai trên mặt báo, tin Tám Hà ra đầu hàng, rêu rao trên đài phát thanh rằng: “Việt Cộng sẽ tấn công vào Sài Gòn” là có ngụ ý muốn nhắn với Mặt trận giải phóng miền Nam là: “Chúng ta (tức Sài Gòn) đã biết rõ kế hoạch tấn công sắp đến của các người rồi, thôi đừng đánh nữa, sẽ không hay”!.

Điều mâu thuẫn là, hiện giới quân sự hiếu chiến của Mỹ và Sài Gòn lại làm khác, ở chỗ thừa dịp những đơn vị lớn của ta đổ quân vào đô thị, tràn xuống đồng bằng, đầm lầy trống trải, đã ra sức dùng máy bay rải bom, dùng pháo binh, cơ giới càn quét đánh phá dữ tợn hơn, mưu chiếm lại các vùng nông thôn ta đã làm chủ từ lâu, hòng đẩy lực lượng ta lên vùng rừng núi và biên giới. Qua tình hình trên, H63 đề xuất ý kiến là nếu đã chuẩn bị tốt thì vẫn cứ đánh thêm một trận nữa vào Sài Gòn”.

Và đợt 2 của cuộc tổng tiến công 1968 đã mở màn khuya 5.5, lần này chiến sự đồng loạt nổ quanh Sài Gòn. Thiệu đã điều các tiểu đoàn biệt động quân số 33, 35, 38 với xe tăng và máy bay yểm trợ đến mặt trận trên ứng chiến, hai bên quần nhau suốt cả tuần, máy bay Sài Gòn bắn sụp một số nhà cửa vùng Phú Thọ và trên nhiều đường như Minh Phụng, đường 46. Ở ngã tư Bảy Hiền, vùng cầu chữ Y, lò heo Chánh Hưng và vòng ngoài quận 4, cũng như vùng An Phú Đông, Tân Thới Hiệp phía Tây Bắc Sài Gòn đều bị tấn công…

Một lần nữa, các phóng viên chiến trường của các hãng thông tấn trên thế giới lại xông xáo ghi hình, đưa tin và phơi bày trên các phương tiện truyền thông những hình ảnh máu lửa của cuộc chiến trên đường phố Sài Gòn, tác động mạnh đến phong trào phản chiến của dân chúng Mỹ. Lúc này chính khách và phóng viên nước ngoài lại càng lui tới đông đúc thường xuyên hơn tại khách sạn Embassy do anh Tám quản lý, họ mang theo những tin tức nóng bỏng, những lời bàn tán về chiến cuộc, về tình hình chính trị, ngoại giao vừa xảy ra. Đó cũng là dịp khai thác và thu thập nguồn tin tình báo của cụm H63. Nhất là vào tháng 10 năm ấy, phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris tuyên bố có thể đồng ý cho đại diện chính quyền Sài Gòn đến dự Hội nghị Paris nếu Mỹ đáp ứng các điều kiện kèm theo…

Những hoạt động bí mật như thế căng thẳng và kéo dài không ngớt những năm sau đó, với các sự kiện nổi cộm như cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân Sài Gòn đánh sang Lào nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh đã bị thất bại thảm hại, đánh một dấu hỏi lớn và đáng sợ rằng: Vì sao kế hoạch hành quân bị tiết lộ? Đã có điệp viên của Hà Nội cài đâu đó trong các cơ quan cao nhất của Mỹ và Sài Gòn? Bằng chứng là “bất kỳ nơi nào quân lính Nam Việt Nam tấn công đều thấy quân đội Bắc Việt dường như đã ém ở đó từ lâu để sẵn sàng đón đánh” như lời của cố vấn Tổng thống Thiệu là TS Nguyễn Tiến Hưng (và Jerrold L.Schecter) đã nhìn lại và kêu lên sau cuộc chiến. (Còn tiếp)

Giao Hưởng

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 6

Lấy bản khai của kẻ phản bội

CIA hoạt động khá ráo riết vào những thời điểm gay cấn nhất. Như hồi Tết Mậu Thân 1968, tướng Davidson – sĩ quan tình báo đặc biệt của MACV trình với Tư lệnh lực lượng quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam là tướng Westmoreland: “Rất có thể 40% đến 60% quân cộng sản sẽ mở đợt tấn công lớn sau Tết” (nhưng tổng tấn công rơi vào ngay Tết).

Tướng Westmoreland cấp tốc phúc trình với Bộ Quốc phòng Mỹ. Nhưng ở Sài Gòn, Thiệu và tướng Cao Văn Viên không để tâm đúng mức đến tin tình báo, nên vẫn điềm nhiên ăn Tết và cho dân chúng đốt pháo khắp đô thành. Đến giao thừa, khi tiếng súng quân cách mạng vang lên đồng loạt trên toàn miền, lúc ấy Thiệu đang còn ở quê vợ Mỹ Tho, còn tướng Westmoreland sửng sốt ngồi bật dậy khi hay tin “cộng sản đã tràn ngập lãnh thổ”. Rõ ràng theo Westmoreland, những cố gắng của CIA và Bộ chỉ huy MACV bị chính quyền Thiệu xem nhẹ và Sài Gòn vốn là mục tiêu quan trọng nhất trong đợt tổng tấn công đã thực sự là trung tâm “địa chấn” rung chuyển nước Mỹ và dư luận thế giới, với 9 căn cứ quan trọng như Tòa đại sứ Mỹ bị đột phá trong đợt 1.

Qua đợt 2, lúc cụm tình báo H63 đang chuẩn bị những báo cáo cuối cùng để Bộ Tư lệnh B2 tham khảo trước khi nổ súng, thì sự cố xảy ra: thượng tá Tám Hà ra đầu hàng quân Sài Gòn và khai báo “hết ráo”. Phòng tình báo B2 lập tức chỉ thị Tư Cang và cụm H63 phải bằng mọi cách lấy cho được bản khai (khẩu cung) chính thức của thượng tá Hà. Vì lúc ấy Hà đang nắm kế hoạch tác chiến của cuộc tổng tấn công đợt 2 sắp diễn ra, cả nhiều chi tiết chuẩn bị của quân giải phóng về quân số, đạn dược, lương thực. Nhận chỉ thị, sáng 23.4.1968, khi đang uống cà phê ở ngoại ô Sài Gòn, Tư Cang càng thêm sốt ruột khi đọc trên trang nhất của hầu hết các tờ nhật báo phát hành hôm đó đăng tin “thượng tá Tám Hà rời hàng ngũ Việt Cộng” kèm tấm ảnh lớn chụp Tám Hà đứng giữa, Tư lệnh quân đội viễn chinh Mỹ ở Việt Nam là tướng Westmoreland và Tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh của quân đội Sài Gòn là Phạm Quốc Thuần, đứng hai bên Hà. Cầm tờ báo trên tay, Tư Cang phóng lên chiếc xe lam đầy khách vừa trờ tới, để về ngã tư Hàng Xanh, nhảy lên chiếc Honda ôm về hướng đường Hùng Vương. Chạy nửa chừng, để cảnh giác, ông bảo xe ngừng lại, trả tiền và nói đau lưng quá rồi ngoắc chiếc taxi sà vào lề, bảo đến đường Võ Tánh để tìm Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn). Vì Tư Cang biết, lấy được bản cung khai của thượng tá Tám Hà trước CIA Mỹ và tình báo quân đội Sài Gòn, duy có Hai Trung mới lo được. Gặp Hai Trung, Tư Cang truyền đạt chỉ thị cấp trên, nghe xong Hai Trung vội đưa Tư Cang ra chiếc xe hơi riêng của mình phóng ngay đến tiểu khu Gia Định. Bởi Hai Trung biết viên trung tá chỉ huy tiểu khu Gia Định đã cùng CIA trực tiếp thẩm vấn thượng tá Tám Hà. Vậy nhất định viên trung tá cũng giữ một bản khai. Song, chưa cần gặp thẳng ông ta, mà chỉ cần móc anh hạ sĩ quan phụ trách giữ hồ sơ của ông ta ra hỏi nhỏ. Anh này không khỏi ngập ngừng một lát, rồi nói với Hai Trung: “Thôi được, các ông đợi tui cạnh lăng Ông Lê Văn Duyệt, tui lấy đem ra cho”. Khoảng 15 phút sau, anh ta bước ra, giao Hai Trung toàn văn bản khai mật của Tám Hà và dặn đi dặn lại: “Dùng xong anh nhớ trả lại tôi trước 2 giờ chiều nay cũng ở nơi này nha. Anh vui lòng đúng hẹn để lỡ chiều vào làm việc, ông trung tá tiểu khu trưởng muốn dùng lại tài liệu mà không có để đưa cho ông ta thì chết tôi!”.

Lúc ấy khoảng 10 giờ sáng. Từ đó đến 2 giờ chiều thừa sức trả lại. Theo Tư Cang, anh trung sĩ này không phải là cơ sở cách mạng, nhưng đã dám trao tài liệu mật cho Hai Trung cũng do trước đó Hai Trung xử sự rất tử tế. Khi vợ anh ta sinh đẻ gặp túng thiếu, Hai Trung đến tận nhà thương để thăm, vừa an ủi, vừa nhét vào túi anh ta một số tiền lớn để lo thuốc men cho vợ. Phần nữa, anh ta biết Hai Trung là nhà báo quen biết hầu hết với các viên chức cao cấp, các tướng tá có máu mặt ở Sài Gòn, giao du với rất nhiều người Mỹ, nên anh không ngại gì. Trước đó, Hai Trung mượn anh ta tài liệu gì để viết báo, đều trả đúng hẹn. Nên lần này cũng vậy, anh ta rất tin Hai Trung nên giao bản khai của Tám Hà vốn là tài liệu quan trọng. Lấy tài liệu xong, Hai Trung lái xe đưa Tư Cang đến đường Nguyễn Du, vòng qua đường Gia Long cũ, đến trước nhà Tám Thảo, dặn: “Anh Tư à, 2 giờ thiếu 10 chiều nay tôi sẽ đến đây để đón anh, đem tài liệu trả như đã hứa”. Tư Cang nói: “Chứ sao nữa, tôi sẽ giao tài liệu cho anh trước 2 giờ, đến tối mình sẽ gặp nhau ở nhà hàng Givral lúc 9 giờ để trao đổi, sau đó vào sáng mai tôi sẽ tổng hợp gửi về Phòng tình báo B2”.

Nói xong, Tư Cang đi nhanh vào nhà Thảo, còn Hai Trung lẳng lặng phóng xe đi. Vào nhà, Tư Cang biết Thảo đã đi làm, ông đi thẳng lên lầu, lấy hai khẩu súng ngắn K54 ra lau và để sẵn hai bên để đề phòng bất trắc. Tiếp đó ông nhấc mấy cây vải cuộn tròn, bỏ qua một bên, dời hết đồ đạc tuế nhuyễn linh tinh vốn dùng ngụy trang, thọc tay xuống dưới lấy ra một chiếc máy chụp ảnh chuyên dụng, gắn linh kiện kèm theo, bắt đầu chụp tài liệu. Đó là bản cung khai của thượng tá Tám Hà được ghi lại tỉ mỉ qua 5 trang đánh máy dày đặc. Ông chụp hai lần để phòng trắc trở. Nội dung lời khai của Tám Hà với CIA và tình báo quân sự mật Sài Gòn khá nguy hiểm. Các chi tiết từ quân số, vị trí bố phòng, tâm lý của chiến sĩ cách mạng dưới quyền, cho đến đội hình các đơn vị tham gia mặt trận của cuộc tổng tấn công đợt 2 sắp đến Tám Hà khai tuốt. Đặc biệt, Tám Hà khai sắp tới trước khi mở màn đợt 2 cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn (giữa năm 1968) sẽ có đại pháo, hỏa tiễn, với mấy ngàn trái sẽ bắn nát sân bay Tân Sơn Nhất. Số hỏa tiễn và đại pháo dùng cho trận đánh đó hiện đang được chôn giấu trên các cánh đồng ở Bình Mỹ, phía bắc Hóc Môn…

Khai hết những bí mật như thế cho CIA và đặc báo Sài Gòn thật quá sức nguy hại, nên Tư Cang quyết định chuyển ngay bản khẩu cung của Tám Hà mà H63 vừa nắm được, không cần chép lại, cứ để nguyên bản bằng phim chụp tài liệu, gửi hỏa tốc đến Phòng tình báo B2… (Còn tiếp)

Giao Hương

Những bí mật trước giờ G – Kỳ 5

Thẩm vấn bằng “máy đo sự thật”

Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) cán bộ tình báo Cụm H.63 - Ảnh: T.C

Đơn độc bước vào phòng thẩm vấn của CIA, Thảo thấy một chiếc máy hình chữ nhật màu đen nhánh, to bằng cái ti vi 24 inches ngày nay, đặt sẵn giữa phòng.

Đây là căn phòng bít bùng với hệ thống đèn néon dường như chiếu sáng suốt ngày, soi rõ những chùm dây điện chằng chịt túa ra từ ruột “chiếc máy bí ẩn”. Trước máy đặt chiếc ghế vừa đủ một người ngồi, bên dưới trải tấm thảm màu đỏ. Thảo bị buộc phải duỗi thẳng hai chân lên thảm ấy, ngồi vào ghế và để hai tay lên thành ghế, mắt nhìn thẳng tới trước, không động đậy. Cô cũng được nhắc đi nhắc lại rằng không được liếc nhìn qua hai bên. Song, với kinh nghiệm của một cán bộ tình báo lâu năm, Thảo vẫn liếc rất nhanh tờ giấy để gần mình và biết trong đó ghi sẵn một loạt câu hỏi.

Một nhân viên CIA đến gần Thảo nói bằng tiếng Anh, rằng cô hãy đưa cánh tay phải cho hắn ta. Khi Thảo đưa tay ra, hắn ta rút từ chiếc máy bí ẩn một vật hình tròn nhỏ như miệng ly uống nước, từa tựa như đồng hồ đo huyết áp, với những sợi dây điện đủ màu. Tiếp đó từ từ từng chút một, hắn gắn lần lượt gắn 5 cái chụp bằng nhựa đỏ vào 5 đầu ngón tay của Thảo. Trước khi găm điện để máy hoạt động, nhân viên thẩm vấn CIA đến bên Thảo nói từng tiếng một, đại ý để Thảo biết rằng, cô đang ngồi trước chiếc máy tối tân của ngành tình báo Mỹ, là “máy đo sự thật”. Trong lúc nói, nhân viên này cố ý gằn giọng, dọa trước: “Cô phải nói đúng sự thật. Vì cô đang ngồi trước “máy đo sự thật”. Hãy nhớ là phải trả lời từng câu một bằng tiếng Việt và câu trả lời chỉ ngắn gọn hai tiếng: “có” hoặc “không”, chứ không được dài dòng”.

Tuy bị đe dọa như vậy, song mấy phút đầu của cuộc thẩm vấn, bằng bản lĩnh vốn có, Thảo đã bình tĩnh kéo dài thời gian để nghĩ ra cách đối phó với CIA sao cho không lộ tông tích của mình và của cụm tình báo H63. Thảo làm như không nghe rõ lời dặn trên, nên cứ trả lời bằng tiếng Anh và thêm vào đó một loạt giải thích khác nữa. Nóng ruột, tên nhân viên hỏi cung người Mỹ bực tức cắt ngang, gằn giọng: “Tôi đã nói với cô rồi. Bây giờ tôi buộc lòng phải nhắc một lần nữa. Rằng từ đây trở đi cô chỉ trả lời bằng tiếng Việt và câu dài nhất của cô không được quá ba chữ”.

Câu hỏi thứ nhất:

– Cô là người Nam hay người Bắc? – Đáp: Bắc.

– Lâu nay cô có về thăm quê không? – Không.

– Cô có sợ Việt Cộng không? – Có.

– Cô có mấy anh chị em? – Ba chị em.

– Anh của cô hiện có làm gì ngoài Bắc? – Không.

– Cô có người em trai đi học ngoài Bắc phải không? – Không…

Nghỉ một lát, nhân viên CIA bảo Thảo đưa tay trái ra. Và nhân viên hỏi cung của Mỹ lại chụp lên 5 đầu ngón tay (bên cánh tay trái) 5 cái mũ bằng nhựa màu đỏ, găm điện và cho máy khởi động lại. Song khác với lần trước một chút, lần này CIA Mỹ đảo lộn các câu hỏi không theo thứ tự cũ, để vặn vẹo, hỏi tới hỏi lui mấy chục lần những câu trên. Thảo biết mục đích của CIA là nhằm làm cho người bị hỏi cung phải chịu áp lực tâm lý, hoặc nói ra sự thật, hoặc nói lung tung, câu đầu mâu thuẫn với câu sau. Song, Thảo vẫn đáp rành rọt từng câu hỏi một. Kết quả, lần trả lời thẩm vấn bằng “cánh tay trái”, với lần thẩm vấn bằng “cánh tay mặt” đều khớp với nhau và CIA không moi được điều gì mới hơn.

Cứ thế cuộc thẩm vấn bằng “máy đo sự thật” kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ và dừng lại khi hai nhân viên hỏi cung của CIA mồ hôi toát ra, thấm rõ trên áo. Thảo hỏi ngược lại đại ý người Mỹ các ông muốn tra vấn thêm gì nữa không? Im lặng không trả lời, hai nhân viên CIA mời Thảo đứng lên bước ra phòng khách của biệt thự. Ở đó, viên thiếu tá Mỹ cố vấn tình báo của Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn đã ngồi chờ sẵn. Anh ta mời Yến Thảo lên chiếc xe riêng của mình đậu ngoài sân để tự lái đưa Thảo về nhà của cô gần dinh Độc Lập.

Vượt qua một cuộc đấu trí quyết liệt nhiều giờ với CIA lẽ ra Thảo phải vui mừng, nhưng ngược lại cô đã khóc nức nở trước mặt viên thiếu tá tình báo Mỹ ở văn phòng Bộ tư lệnh Hải quân vào ngày hôm sau. Thấy những giọt nước mắt đàn bà rơi xuống, trái tim của viên thiếu tá dường như mềm đi, anh ta bước về phía Thảo an ủi và giải thích ra sao về “sự việc đáng tiếc” ở ngôi biệt thự chiều ấy.

Trước khi ghi lại lời giải thích trên, cũng cần nói thêm, nữ cán bộ tình báo Yến Thảo thoát khỏi cuộc thẩm vấn bằng “máy đo sự thật” của Mỹ trước hết là nhờ vào những tin tức kịp thời do Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn) cung cấp. Sự việc thế này: cách đó vài tháng, theo yêu cầu của chỉ huy trưởng cụm tình báo H63 là Tư Cang, Hai Trung đã đến khách sạn Continental bên Nhà hát lớn Sài Gòn để dự bữa tiệc “mừng sinh nhật”. Ở đó Hai Trung đã đem đến một “món quà” đặc biệt, gồm những tin tức mới nhất thu thập từ các nhân viên tình báo CIA mà ông đã tiếp cận. Điều lưu ý nhất trong các tin tức do Hai Trung báo cáo với Tư Cang là: CIA Mỹ vừa đưa qua Sài Gòn một loại máy, gọi là máy “khai thác sự thật”. Máy này, theo thông tin kỹ thuật kèm theo, sẽ đo được mức độ nói thật hay nói dối của người bị tra hỏi.

Thật như thế không? Máy ấy hình dạng thế nào? Đã ứng dụng thử chưa? Các câu hỏi trên do Tư Cang nêu ra và vài ngày sau Hai Trung đáp ứng bằng cách chuyển đến những câu trả lời rõ ràng. Không chậm trễ, Tư Cang vừa viết một báo cáo kỹ thuật gửi B2, vừa liên lạc với cán bộ tình báo trong cụm H63 để thông báo trước cho tất cả được biết về máy đo sự thật mà mai đây họ có thể phải đối mặt với nội dung tóm tắt sau: “Đừng sợ gì cả. Không một loại máy móc nào, dù tối tân đến đâu, lại biết thấu tim đen rằng một con người đang nói thật hay nói dối. Chẳng qua là một trò hù dọa, dùng máy để đo thần kinh tim của người mà chúng đang điều tra… Để chứng minh, tôi kể lại câu chuyện mới nhất làm bằng chứng, gần đây quận trưởng Trảng Bàng bị gọi điện về Sài Gòn để cho cái “máy đo sự thật” làm việc. Trước các quan chức Mỹ và cấp trên, viên quận trưởng này lúng túng tái mặt, mất tinh thần, run quá nên cái máy cứ cho là nói dối mặc dù quận trưởng này không có liên hệ gì với cách mạng và nhất là chống Cộng rất quyết liệt“.

Một sự thật khác không cần đến máy đo vẫn thấy rõ, do Giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ CIA là W.Colby nói ra, là đã có tình báo Cộng sản len lỏi vào các cơ quan cao cấp ở Sài Gòn, nếu không thì tại sao những chi tiết lợi hại, cũng như những tài liệu bảo mật liên quan đến an ninh của các căn cứ như Bộ tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha cảnh sát, Biệt khu thủ đô, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh, và nhất là Tòa đại sứ Mỹ và dinh Độc Lập đều bị tiết lộ? Ngoài những thu thập thông tin từ Thảo, đã có những tài liệu quan trọng nào từ nguồn Hai Trung cũng như từ các cán bộ H63 đưa về phòng tình báo B2 trong thời điểm CIA đặt câu hỏi trên? (Còn tiếp)

Giao Hương