Trại Davis Sài Gòn – Ngày ấy, bây giờ… (Bài 1)

Lai lịch một cái tên


LTS: Trại Davis là trụ sở của Ban Liên hợp Quân sự 4 bên Trung ương trong giai đoạn 60 ngày và sau đó là trụ sở Ban Liên hợp quân sự 2 bên Trung ương, đồng thời là trụ sở, nơi đóng quân của hai phái đoàn quân sự ta từ ngày 28-1-1973 đến ngày 30-4-1975. Cái tên Trại Davis gắn liền với Hiệp định Paris, với Ngày toàn thắng 30-4.

Nhân kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Hànộimới xin giới thiệu với bạn đọc loạt bài viết và một số tư liệu về quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh thầm lặng, nhưng cũng vô cùng hào hùng của các chiến sỹ giải phóng suốt 823 ngày trong hang ổ của kẻ thù.

Trại Davis (Davis Camp) Sài Gòn trước năm 1973. Tiền cảnh là Nhà tưởng niệm lính Mỹ Davis.

Ngày 27-1-1973, sau gần 5 năm đàm phán, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết, đánh dấu một thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện một phần Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đánh cho Mỹ cút. Theo khoản d, Điều 16, Chương VI của Hiệp định Paris, 4 bên gồm Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp Quân sự 4 bên. Theo Điều 17, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp Quân sự 2 bên. Ban Liên hợp Quân sự có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên nhằm thực hiện các điều khoản về quân sự mà hiệp định đã quy định (về ngừng bắn, rút quân Mỹ và chư hầu, hủy bỏ căn cứ quân sự của Mỹ và chư hầu, về trao trả nhân viên quân sự, nhân viên dân sự và tìm kiếm người mất tích…).

Trại Davis nguyên là một trại lính của quân đội Mỹ, nằm gần sát phía Tây nam sân bay Tân Sơn Nhất, nay thuộc phường 4, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Ban đầu, đây là nơi đóng quân của Tổ Viễn thám số 3 (3rd Radio Research-RR) Lục quân Mỹ. 3rd RR có nhiệm vụ giúp Nha An ninh quân đội Sài Gòn dò tìm, xác định chính xác vị trí các đài phát sóng truyền tin của quân Giải phóng, từ đó lần tìm vị trí đóng quân của ta, chỉ điểm cho máy bay, pháo binh địch bắn phá hoặc đưa quân đến càn quét tiêu diệt. Ngày 22-12-1961, thành viên của Tổ Viễn thám số 3 là Hạ sỹ quân báo James Thomas Davis, người gốc Caucase, sinh năm 1936 tại Livingston, tiểu bang Tennessee, cùng quân ngụy đi càn, bị phục kích chết tại Đức Hòa, Hậu Nghĩa (nay là Long An). Ngày 10-1-1962, đồng đội của J.T.Davis lấy tên anh ta đặt cho doanh trại nơi họ đóng quân, gọi là Trạm Davis (Davis Station), đồng thời lập cho Davis một cái nhà tưởng niệm (miếu thờ) nhỏ kiểu Công giáo trong doanh trại. Năm 1966, Nhóm Viễn thám 509 (509th Radio Research Group-RRG) đến thay Tổ Viễn thám 3, Trạm Davis được “nâng cấp”, gọi là Trại Davis (Davis Camp). Cuối năm 1972 Nhóm Viễn thám 509 rút về Mỹ, Trại Davis bị bỏ hoang cho đến ngày 28-1-1973, khi trở thành trụ sở của Ban Liên hợp Quân sự và là nơi hai đoàn đại biểu quân sự ta đóng quân, ngay giữa sào huyệt địch.

Nhiều tài liệu cho rằng Trại Davis Sài Gòn được đặt theo tên người lính Mỹ đầu tiên chết trận tại miền Nam Việt Nam. Cứ theo logic ấy mà suy thì James Thomas Davis có cái “vinh dự” là quân nhân Mỹ đầu tiên bỏ mạng trên chiến trường xứ nhiệt đới này, nhưng không phải như vậy. Sự thật thì người lính Mỹ đầu tiên chết tại miền Nam Việt Nam là Trung sỹ Không quân Richard B. Fitzgibbon, sinh năm 1920, bị tai nạn chết ngày 6-8-1956. R.B Fitzgibbon cũng không phải là lính Mỹ đầu tiên chết trận tại Việt Nam. Do vậy, trên bức tường đá đen khắc 58.261 cái tên tại Khu tưởng niệm lính Mỹ chết tại Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial) ở thủ đô Washington, đứng đầu danh sách là Thiếu tá Bael Buis và Trung sỹ Chester Ovman. Hai quân nhân này bị đặc công ta tiêu diệt ngày 7-7-1959 trong trận tập kích vào trụ sở của Phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ tại Biên Hòa đóng tại Biệt thự Nhà Xanh.

Davis Camp Sài Gòn là một trại lính dã chiến nằm trong khuôn viên hình năm cạnh lệch nhau, các cạnh dài khoảng 100 và 200m. Một bên là hào bảo vệ sâu 3m giáp đường băng, hai mặt khác là khu gia binh và một cơ sở bỏ hoang. Cổng Trại Davis mở ra đường Lê Văn Lộc, đối diện trại lính dù ngụy. Các nhà trong trại làm bằng gỗ thông cưa xẻ mang từ Mỹ sang, xây theo kiểu nhà sàn, quy cách thống nhất, mái lợp phibroximăng, tất cả hợp thành ba dãy nhà hình chữ U và một dãy nhà chéo, ở giữa có vài nhà trệt. Nội thất, đồ dùng giường tủ bàn ghế hoàn toàn bằng sắt. Với cái nắng nóng của Sài Gòn, nhiệt độ trong phòng có lúc lên đến hơn 40 độ C, cộng thêm tiếng máy bay cứ 5 phút lại một chuyến lên xuống suốt ngày đêm ngay sát doanh trại, sống ở đó giữa vòng vây kẻ thù suốt 2 năm, 3 tháng, 3 ngày, cán bộ chiến sỹ hai đoàn đại biểu quân sự ta đã lập một kỳ tích về ý chí kiên cường, hơn thế, đã góp phần đặc biệt xuất sắc, phối hợp với quân dân cả nước buộc quân Mỹ và chư hầu rút khỏi nước ta, đánh sụp đổ quân ngụy ngay trong sào huyệt của chúng.

Năng Lực

hanoimoi.com.vn

Advertisements

Trại Davis Sài Gòn – Ngày ấy, bây giờ… (Bài 2)

Mũi tên cắm giữa tim thù


(HNM) – Có thể nói trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như của dân tộc ta, chưa từng có trường hợp nào mà một bên đối địch lại hợp pháp cắm được một bộ phận lực lượng của mình công khai, hiên ngang ngay tại trung tâm đầu não của đối phương, được thế giới công nhận và dư luận quốc tế quan tâm theo dõi.

Hang hùm ổ rắn

CBCS Đoàn B và các sĩ quan Mỹ trước cổng Trại Davis. Ảnh: Q.K

Trưa 29-1-1973, máy bay chở Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (VNDCCH – Đoàn A) do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm Trưởng đoàn và các bộ phận tiền trạm hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên một lực lượng quân ta công khai đặt chân trên đất Sài Gòn trong tư thế khiến địch hoang mang, lúng túng. Đại diện chính quyền Sài Gòn yêu cầu Đoàn ta phải làm thủ tục xin “visa” nhập cảnh mới cho xuống máy bay. Ta không chịu, vì đi từ miền Bắc vào miền Nam là trong cùng một nước, Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn) không thể yêu sách như vậy. Hơn một ngày ngồi trên máy bay, cuối cùng địch phải chịu thua, cho xe bus đưa Đoàn ta về Trại Davis.

Tại Trại Davis nằm sâu trong sân bay Tân Sơn Nhất, chính quyền Sài Gòn cho rào kín nhiều tầng dây thép gai, cô lập hai phái đoàn ta với bên ngoài. Xung quanh trại, đối phương dựng 13 tháp canh lúc nào cũng thấp thoáng bóng lính, suốt ngày đêm chĩa súng vào trại. Trong nhà ở của cán bộ chiến sĩ đoàn ta, địch cài máy nghe trộm. Dựa vào ưu thế kỹ thuật, địch phá sóng, gây nhiễu, đánh cắp bí mật thông tin của ta. Sĩ quan, nhân viên trong phái đoàn địch hầu hết là nhân viên tình báo, phản gián, tâm lý chiến, an ninh quân đội, CIA…

Sau ngày giải phóng Sài Gòn, qua lời khai của nhiều sĩ quan an ninh, tình báo ngụy và tài liệu thu được, ta biết rằng tất cả những hoạt động chống phá hai đoàn ta đều nằm trong một kế hoạch tình báo hỗn hợp do 5 cơ quan đầu sỏ của địch cùng thực hiện. Đó là Phủ đặc ủy Trung ương tình báo, Tổng nha Cảnh sát, Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu, Cục An ninh quân đội ngụy và Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Đối phương đã chuẩn bị kế hoạch này từ trước khi Hiệp định Paris được ký kết. Trong kế hoạch có cả việc tổ chức đầu độc, mua chuộc, chiêu hồi, bắt cóc, thậm chí xóa sổ hoàn toàn cả hai phái đoàn ta trong trường hợp đặc biệt. Có thể nói “quan điểm” xuyên suốt của địch là lòng hận thù cách mạng. Đỉnh cao của lòng hận thù đó là chỉ thị ngày 28-4-1975 của Cao Văn Viên, Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn mà ta thu được tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu địch. Bản chỉ thị gồm 4 nội dung: Bắn pháo và cối vào Trại Davis; Cho xe tăng và bộ binh tràn ngập; Ném bom; Rải chất độc hóa học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố. Chỉ thị của tướng Viên ghi rõ là nếu phát hiện có tiếng súng từ Trại Davis bắn ra thì thi hành ngay, không cần báo cáo xin chỉ thị.

Sáng ngời chính nghĩa

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền (B2), theo Hiệp định Paris, ta thành lập hai đoàn đại biểu quân sự gồm các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ ưu tú của các lực lượng quân đội, công an, ngoại giao, an ninh Trung ương Cục miền Nam, thông tấn, báo chí và một số ban, ngành tham gia mặt trận đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Paris. Quân số mỗi đoàn có 825 người, gồm 275 sĩ quan, 550 nhân viên và cảnh vệ.

“Đối thủ” của ta là Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Hoa Kỳ do Thiếu tướng Gilbert Woodward làm trưởng đoàn; Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Cộng hòa do Trung tướng Ngô Du (sau này là Trung tướng Dư Quốc Đống) làm trưởng đoàn. Đến thời kỳ hai bên, Đoàn ta do Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn lãnh đạo, đoàn địch do Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp làm trưởng đoàn.

Nhắc lại những ngày đấu tranh trong sào huyệt địch, Đại tá Nguyễn Văn Khả (tức Vũ Nam Bình), nguyên Trưởng ban Bảo vệ an ninh đoàn B cho biết, nhiều nhà báo quốc tế, các sĩ quan Đoàn Hungary và Ba Lan trong Ủy ban quốc tế Kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp định Paris ở Việt Nam (ICCS) đã phải thốt lên: Chỉ có mỗi đạo quân giải phóng này chịu đựng được như thế. Ông mỉm cười nói thêm: “Chúng tôi không chỉ vượt qua khó khăn mà còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.

Trong thư gửi đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Thứ nhất BCH TƯ Đảng Lê Duẩn đánh giá: “Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần mà mấu chốt ở chỗ quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ở lại”. (Thư vào Nam – NXB Sự thật – Hà Nội 1986, tr.372, 373).

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Di Niên đánh giá: “Nếu như Hội nghị Paris về Việt Nam là thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài, đầy khó khăn và phức tạp thì cuộc đấu tranh buộc đối phương phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Paris là cuộc đấu trí, đấu lý hết sức cam go và quyết liệt”.

Kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo và sáng tạo, mặc dù địch luôn tìm cách dây dưa, cố tình trì hoãn việc thi hành hiệp định, hai đoàn ta đã bằng mọi cách buộc Mỹ phải rút quân đúng, đủ số lượng cả về người và vũ khí, trang bị, đúng thời gian từng đợt theo quy định dưới sự giám sát chặt chẽ của ta và ICCS. Ngày 29-3-1973, đúng thời hạn 60 ngày, người lính Mỹ cuối cùng, kể cả nhân viên quân sự Hoa Kỳ trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 159 lính thủy đánh bộ canh gác Đại sứ quán của họ đã phải rút khỏi miền Nam sau 18 năm 8 tháng có mặt với vai trò đạo quân xâm lược. Cũng trong giai đoạn 60 ngày, hai đoàn ta đã đấu tranh quyết liệt, buộc địch phải thực hiện việc trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự của các bên bị bắt. Mặt trận này cũng rất quyết liệt, hai đoàn đã đấu tranh giành giật với địch từng người của ta. Trên lĩnh vực đấu tranh buộc địch chấm dứt chiến sự, buộc địch ngừng bắn, hai đoàn ta đã vạch trần kế hoạch phá hoại hiệp định đã được chuẩn bị trước của địch. Trong tổng số 390 cuộc điều tra, ICCS đã kết luận 5 vụ quân ngụy vi phạm hiệp định, không có bất cứ kết luận vi phạm nào đối với ta, kể cả những vụ địch làm rùm beng vu cáo ta. Cũng trong những ngày chiến đấu giữa lòng địch, hai phái đoàn ta đã tranh thủ được giới báo chí Sài Gòn và quốc tế, tạo dư luận hỗ trợ chiến trường.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: “Đây là một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị, quân sự lúc này đặt ngay trong lòng địch” (Tổng Hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng).

Sau này, nguyên Đại tá, Trưởng phòng Tình báo quân đội ngụy Nguyễn Văn Học khai: “Chúng tôi đã gặp một đối thủ quá cứng rắn. Tất cả những lần tiếp xúc thông thường thì không sao, nhưng khi đụng vào những nội dung cần thiết thì đều bị đánh bật ra, khiến những sĩ quan có hạng như chúng tôi cũng phải lắc đầu”.

Từ tháng 10-1974, thực tế không còn hoạt động nào của Ban Liên hợp quân sự hai bên do tình hình phức tạp, địch ngày càng lộ mặt phá hoại hiệp định. Thế nhưng Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn hiên ngang trụ vững giữa sào huyệt kẻ thù. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, những người chiến sĩ cách mạng kiên cường tại Trại Davis đã bám trụ, phối hợp với quân chủ lực tổ chức sẵn sàng chiến đấu. Trong những ngày hấp hối, chính quyền Sài Gòn đã nhiều lần cử người đến xin gặp phái đoàn ta, mong được liên hệ với Bộ chỉ huy để “bàn giao chính quyền”. 9h30 ngày 30-4-1975, chiến sĩ Phạm Văn Lãi, 22 tuổi, đã được lệnh cắm cờ giải phóng trên đỉnh tháp nước Trại Davis. Đây là một trong những lá cờ giải phóng đầu tiên tung bay trên bầu trời Sài Gòn trong ngày toàn thắng.

Năng Lực

hanoimoi.com.vn

Trại Davis Sài Gòn – Ngày ấy, bây giờ… (Bài cuối)

Lịch sử không lãng quên


(HNM) – Bây giờ, những người lính cách mạng tại Trại Davis cách nay gần 40 năm đã ở vào tuổi 60, 70, có người đã ngoại 80 như Thiếu tướng Trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn, Đại tá Vũ Nam Bình…

Trăm công nghìn việc của thời kỳ sau chiến tranh, xây dựng lại đất nước, của cuộc mưu sinh thời bao cấp cuốn họ đi. Không ai trong số họ có dịp trở lại căn trại mang cái tên Mỹ đã gắn bó với họ suốt 823 ngày đêm hào hùng. Cũng rất ít người trong số họ biết được số phận của căn cứ Trại Davis…

Sau ngày Sài Gòn giải phóng, Trại Davis được giao cho Ủy ban Quân quản thành phố quản lý, sau đó thuộc quyền quản lý của Quân chủng Phòng không – Không quân.

Tháng 4-2003, thể theo nguyện vọng của anh em, Ban Liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp Quân sự Trại Davis được thành lập, hằng năm cứ đến ngày 30-4 lại tụ họp ở hai đầu đất nước, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, thăm hỏi nhau đời sống, gia đình, con cái, công việc… nhưng ai cũng đau đáu mong có một ngày về thăm chiến trường xưa. Trại Davis, nơi họ đã thân quen từng ngọn cây, góc nhà, từng con hào chiến đấu họ đào trong những ngày tháng Tư 1975 sôi động, nơi đồng đội họ ngã xuống, nơi họ cống hiến tuổi xuân đẹp nhất của đời người vì lý tưởng Độc lập – Tự do, vì mục tiêu đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Bây giờ Trại Davis ra sao?

Cổng Trại Davis thời Hiệp định Paris năm 1973.

Năm 1994, nhà báo Trần Duy Hinh, phóng viên Trại Davis năm xưa đi làm phim “Mùa Xuân toàn thắng” nhân kỷ niệm 20 năm thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Anh mang giấy giới thiệu của Tổng cục Chính trị đến gặp lãnh đạo đơn vị quản lý sân bay Tân Sơn Nhất, trong đó có Trại Davis. Chỉ huy sở đơn vị chỉ cách Trại Davis vài trăm mét, người chỉ huy đơn vị ngơ ngác: “Trại Davis là cái gì, tôi không biết gì cả, nó ở chỗ nào?”.

Tháng 4-2005, kỷ niệm 30 năm Ngày Toàn thắng, Đại tá Đinh Quốc Kỳ cùng nhiều đồng đội một thời Trại Davis có dịp vào sân bay, cùng đi với những người bạn đương chức mới vào được Trại Davis. Cũng trong dịp này, Đại tá Kỳ gặp lại cái bàn gỗ lát mỗi cạnh dài gần 4m, hình vuông, là vật chứng của 125 cuộc họp cấp Trưởng đoàn 4 bên, rồi 2 bên năm nào. Cái bàn ấy hiện ở Văn phòng đơn vị C59B, Cục Hậu cần Cơ quan Bộ Quốc phòng phía Nam. Đại tá Kỳ ngậm ngùi: Gắn liền với cuộc đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam có hai chiếc bàn. Chiếc bàn tròn ở Hội nghị Paris đường kính 8m và chiếc bàn vuông diện tích hơn 10m2 tại Trại Davis. Liệu có ai có ý thức giữ gìn, bảo quản cái bàn vuông không, hay một lúc nào đó nó lại thất lạc?

Kỷ niệm 36 năm Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), 36 năm Ngày kết thúc thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự của hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, sáng 30-4, tại Hà Nội, Ban Liên lạc CCB Ban Liên hợp quân sự “Trại Davis” đã tổ chức giao lưu, gặp mặt truyền thống. Nhân dịp này, Bộ Ngoại giao đã trao tặng Kỷ niệm chương “về thành tích đóng góp to lớn vào việc thi hành Hiệp định Paris tại Việt Nam” cho 34 CCB.

Khánh Thu

Ngày 31-3-2010, Phó Giáo sư, Tiến sỹ, Nghệ sỹ Ưu tú Trần Duy Hinh cùng đồng đội Trại Davis năm xưa vào thăm “trận địa” cũ. Anh kể lại: Vượt qua vọng gác khá nghiêm ngặt của đoàn Không quân quản lý sân bay, chúng tôi vào sát sân bay, phải vất vả lắm mới nhận ra con hào bảo vệ, còn tất cả đã thành bình địa, chia lô. Hỏi mấy người đang cắt cỏ gần đấy xem đây có phải đất của Trại Davis không, họ ngơ ngác, cuối cùng có người reo lên: “Còn cái miếu Davis kia kìa… các chú đến mà xem”. Cuối cùng, nhờ cái miếu thờ viên hạ sỹ quân báo Mỹ năm xưa, cái miếu còn nguyên mái hình mui rùa, mà anh em mình mới tin rằng đây là Trại Davis, họ đứng lặng dưới cái nắng xiên khoai để tưởng tượng đâu là dãy nhà A, nhà B, đâu là nhà chỉ huy, phòng họp, sân chơi bóng rổ, sân đậu ô tô… Những người làm cho Trại Davis trở thành một cứ điểm quân sự huyền thoại độc nhất vô nhị trên thế giới còn đây, nhưng Trại Davis đâu rồi?

Một PV Báo Hànộimới năm 2010 đã mầy mò vào được đến Trại Davis, khi về anh có viết một bài về hiện trạng di tích này. Anh cho biết khu vực Trại Davis đã được chia lô, cho thuê làm chỗ đá bóng, chơi tennis, bi-a… Cái miếu thờ hạ sỹ Davis nằm giữa sân tennis.

Cũng từ sau ngày giải phóng, nhất là từ đầu những năm 2000 đến nay, các cựu chiến binh Trại Davis cùng nhiều cơ quan chức năng đã bắt đầu hành trình đề nghị công nhận địa điểm Trại Davis là Di tích lịch sử – cách mạng và đề nghị phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đại biểu quân sự ta trong thời kỳ đấu tranh thi hành Hiệp định Paris. Năm 2003, Bộ Quốc phòng có công văn gửi UBND TP Hồ Chí Minh khẳng định: “Trại Davis là chứng cứ lịch sử, ở đó đã chứng kiến quá trình đấu tranh kiên cường của cán bộ, chiến sỹ ta, thể hiện ý chí Việt Nam, tính độc đáo về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng và hoạt động ngoại giao quân sự của ta trong quá trình đấu tranh buộc địch thi hành Hiệp định Paris”. Được biết, đến nay đã có nhiều tổ chức, cá nhân có uy tín hết sức ủng hộ việc công nhận này.

Hy vọng một ngày không xa, ước nguyện của những cựu chiến binh Trại Davis và cũng là đòi hỏi chính đáng của lịch sử sẽ được đáp ứng.

Năng Lực

hanoimoi.com.vn