Linh hoạt sử dụng phương pháp bắn pháo binh

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Đại đội 26, Tiểu đoàn 2 (Đoàn Pháo binh 75 Nam Bộ) nhận nhiệm vụ dùng hỏa lực bắn kiềm chế sân bay Biên Hòa nhằm hạn chế khả năng hoạt động, tiến tới làm tê liệt hoàn toàn sân bay địch, góp phần bảo đảm cho các đơn vị chủ lực của ta cơ động triển khai trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong điều kiện khó khăn, thời gian gấp, Đại đội 26 đã tập trung lực lượng, thực hiện tốt công tác chuẩn bị để bước vào chiến đấu thắng lợi.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm sân bay Biên Hòa. Ảnh tư liệu.

Tuy mọi mặt công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, nhưng đại đội chưa thể khai hỏa vì thông tin liên lạc giữa đài quan sát và trận địa vẫn chưa thông suốt. Mặc dù chưa bắt được liên lạc với đại đội trưởng ở đài quan sát luồn sâu, song chấp hành lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, ngày 14-4-1975, chỉ huy Đại đội 26 quyết định thay đổi phương pháp bắn từ có quan sát và sửa bắn (qua bắn thử) sang bắn không quan sát thấy (bắn hiệu lực ngay), chỉ bắn một thước tầm và hướng bắn hỏa lực tập trung. Mục tiêu bắn đầu tiên, với số đạn bắn 24 viên trên 3 khẩu, theo phương pháp gấp bắn, ngay loạt đạn đầu đã trúng mục tiêu. Sân bay Biên Hòa bị tê liệt, sau 10 phút, trực thăng vũ trang của địch trong sân bay mới cất cánh cùng với máy bay trinh sát, phản lực chiến đấu từ sân bay khác đến quần lượn, ném bom, bắn rốc két xuống khu vực xung quanh trận địa pháo của ta. Pháo binh của địch ở gần sân bay cũng bắn dồn dập nhiều giờ vào những nơi nghi ngờ ta đặt trận địa pháo. Nhờ ngụy trang kín đáo bằng các trận địa giả, khéo nghi binh, sử dụng phương pháp bắn linh hoạt, Đại đội 26 vẫn giữ được bí mật, an toàn.

Sau một ngày tạm ngừng bắn, ngày 16-4, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào 3 mục tiêu khác trong sân bay kéo dài suốt ngày, với 52 viên đạn làm cho sân bay của địch bị tê liệt trong nhiều giờ. Bị đánh phá mạnh, địch phản ứng quyết liệt. Chúng cho máy bay nhiều lần ném bom vào trận địa pháo của ta và các khu vực xung quanh. Để bảo vệ trận địa pháo, Bộ chỉ huy chiến dịch điều thêm các khẩu đội pháo phòng không và đại đội bộ binh tăng cường bảo vệ, điều một đại đội ĐKZ của Đoàn Pháo binh 75 về tham gia chế áp pháo binh địch, hỗ trợ cho Đại đội 26 hoàn thành nhiệm vụ “khóa chặt sân bay Biên Hòa”. Các ngày tiếp theo, Đại đội 26 tiếp tục bắn vào các mục tiêu khác trong sân bay, làm cho sân bay Biên Hòa hoàn toàn bị tê liệt, gây thiệt hại nặng nề cho địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Xuân Vũ

qdnd.vn

Advertisements

Hiệp đồng chặt chẽ, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

QĐND – Sau hiệp định Pa-ri được ký kết ngày 27-1-1973, so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi căn bản, có lợi cho ta bất lợi cho địch. Nắm thời cơ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong 2 năm 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, nhanh chóng làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho ta, tích cực làm mọi công tác chuẩn bị, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt toàn bộ quân địch, từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Nếu thời cơ đến sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, đầu năm 1975, ta mở ba chiến dịch lớn là Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1975 đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự: Tạo ưu thế lực lượng, bảo đảm đánh địch trên thế mạnh; vận dụng sáng tạo cách đánh chiến dịch; phát huy sức mạnh các binh chủng, quân chủng trong tác chiến quy mô lớn và đặc biệt là kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhân dân. Sự kết hợp các đòn tiến công như vũ bão của các binh đoàn chủ lực với nổi dậy của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, kết hợp tiêu diệt địch với giành quyền làm chủ, tạo sức mạnh áp đảo, trong đó đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực đi trước có tác dụng trực tiếp tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, quyết định thắng lợi trên chiến trường, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy. Ngược lại, sự nổi dậy của quần chúng có tác dụng căng kéo, phân tán địch, giành dân, giành đất, mở ra thế trận tiến công mới, làm cho LLVT ta tăng thêm sức mạnh, có điều kiện và thời cơ tiến lên đánh to, thắng lớn. Đó là sự vận dụng, phát triển sáng tạo việc kết hợp hai hình thức đấu tranh: Đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; hai phương thức tiến hành chiến tranh: Chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích.

Xe tăng Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975.

Trong chiến dịch Tây Nguyên, phối hợp với đòn tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực, nhân dân và LLVT địa phương tiến hành các hoạt động tác chiến nghi binh, triển khai làm đường cơ động, phát động quần chúng nổi dậy diệt bắt ác ôn, truy lùng bọn tề điệp, giành chính quyền ở từng khu phố. Quần chúng nhân dân nổi dậy phá “ấp chiến lược”; vận động, làm tan rã địch, cùng Ủy ban Quân quản ổn định tình hình địa phương sau khi được giải phóng.

Chiến dịch Huế – Đà Nẵng thể hiện sự phát triển cao nghệ thuật kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, tiêu diệt và làm tan rã tập đoàn lớn quân địch, vừa giải phóng khu vực, vừa giải phóng thành phố, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Trên hướng Trị Thiên-Huế, đòn tiến công của Quân đoàn 2, trực tiếp là Sư đoàn 324 đã phá một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực Đường 14 phối hợp với nhân dân địa phương nổi dậy giành chính quyền, giải tán toàn bộ chính quyền ngụy Sài Gòn. Trên hướng Đường 12, Trung đoàn 6 và Trung đoàn 271 (Quân khu Trị Thiên) tiến qua sông Hương vào Huế; Trung đoàn 3 (Sư đoàn 324) từ phía nam phối hợp cùng với xe tăng phát triển tiến công vào nội đô, nhân dân ở quận 1, 2 nội thành Huế và quận Phú Vang nổi dậy đánh chiếm, treo cờ ở quận lỵ, tổ chức đón bộ đội, tự vệ nội thành chiếm giữ một số mục tiêu trong thành phố, du kích và nhân dân địa phương dẫn đường, truy lùng địch, giúp bộ đội qua sông, diệt tề điệp, ác ôn. Trên hướng Đà Nẵng, khi các đơn vị chủ lực Quân đoàn 2 phối hợp với LLVT Quân khu 5, nhanh chóng thọc sâu bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài, tiến thẳng vào thành phố, đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, thì LLVT địa phương và quần chúng cách mạng nổi dậy giải phóng Hội An và một số nơi khác. Trong thành phố, lực lượng du kích, tự vệ phối hợp tiến công khu nhà lao, bảo vệ các cơ sở sản xuất, kinh tế, văn hóa, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo đảm cho thành phố ổn định sinh hoạt bình thường ngay sau khi giải phóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh có quy mô lực lượng lớn, cường độ tiến công, trình độ tác chiến hiệp đồng cao, đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các binh đoàn chủ lực với nhân dân và LLVT địa phương, giữa các cánh quân và các binh chủng hợp thành. Trong chiến dịch này kết hợp với các đòn tiến công áp đảo của các binh đoàn chủ lực, nhân dân thành phố dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng, hỗ trợ của các đơn vị đặc công, biệt động, bộ đội địa phương thành phố, nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền ở nhiều khu vực nội, ngoại thành, các huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức. Ở nội thành, quần chúng kết hợp với LLVT tại chỗ nổi dậy chiếm trụ sở một số khóm, phường của hầu hết các quận và 6 tòa hành chính quận, đến chiều 30-4-1975 cơ bản ta đã giành quyền làm chủ, kiểm soát tất cả các quận, huyện, phường, xã. Đòn nổi dậy của quần chúng trong chiến dịch Hồ Chí Minh với quy mô rộng lớn, hình thức phong phú đa dạng, kết hợp với tiến công quân sự, nòng cốt là các binh đoàn chủ lực, đã phản ánh quy luật của khởi nghĩa và đạt tới trình độ nghệ thuật phát triển cao của chiến tranh cách mạng.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1975 kết thúc thắng lợi, đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của tất cả các thành phần, lực lượng của cả nước, trong đó sự kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, phát triển trở thành nét đặc sắc trong nghệ thuật toàn dân đánh giặc, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bài học kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào xây dựng nền nghệ thuật quân sự hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá Đào Văn Đệ

qdnd.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 1)

“Đã ra quân là đánh thắng” – câu nói đã ngấm vào máu, khắc vào xương, là niềm tự hào đồng thời cũng là trách nhiệm cao cả của những người lính xe tăng đã viết lên những bản hùng ca 52 năm qua.

Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Năm 1968, lần đầu tiên xe tăng Việt Nam xuất kích, địch đã hoàn toàn bị bất ngờ, hoảng loạn chỉ còn biết tháo chạy. Chiến thắng vang dội ở Tà Mây – Làng Vây, góp phần vào chiến thắng chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, đi vào lịch sử Binh chủng Tăng – Thiết giáp như một mốc son chói lọi, mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”.

Ngày 5/8/1967, sau gần 8 năm thành lập, Bộ Tư lệnh thiết giáp được lệnh sử dụng 2 đại đội xe tăng vào Nam chiến đấu. Hai đại đội PT-76 (đại đội 3 và đại đội 9) của Trung đoàn xe tăng H03 được lựa chọn và tổ chức thành tiểu đoàn mang phiên hiệu 198. Ngày 1/10/1967, tiểu đoàn 198 bắt đầu Nam tiến.

Sáng tạo táo bạo

Hơn 2 tháng hành quân bằng bánh xích, vượt trên 1.000 km đường Trường Sơn, toàn tiểu đoàn đến vị trí tập kết với 100% trang bị chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân phải đảm bảo tuyệt đối bí mật ấy, những người lính xe tăng đã có nhiều sáng tạo đến táo bạo. Theo thiếu tướng Lê Xuân Tấu, nguyên trưởng xe tăng 555, đơn vị di chuyển chủ yếu vào ban đêm bằng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng.

Những đêm mù sương, các trưởng xe phải đi bộ trước mũi xe, khoác dù trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi phủ lên ống xả, vừa ngăn được tiếng ồn, vừa tránh bụi lửa phóng ra từ ống xả. Một bộ bánh xích chỉ cho phép chạy được từ 400 đến 500km trong điều kiện đường tốt. Lần này, do xe tăng của ta phải vượt đoạn đường với địa hình phức tạp, nhiều đá to, ngầm, sông… đặc biệt là phải đi dưới làn bom, đạn pháo địch, nên hơn 90% bánh đỡ nặng và gần 50% mắt xích bị hỏng.

Mắt xích và bánh chịu nặng của xe PT-76 đã vượt hơn 1.000km đường Trường Sơn vào tham gia trận đánh Làng Vây năm 1968. Ảnh: Hà Dương.

Các kíp xe đã đảo xích bên phải sang bên trái và ngược lại, đồng thời, lắp xen kẽ mắt xích lành với mắt xích hỏng để đảm bảo hành quân – cái sáng tạo chỉ có ở người lính xe tăng Việt Nam. Tới điểm tập kết, đơn vị đã nhanh chóng ổn định trú quân an toàn, khắc phục các sự cố của xe, sẵn sàng chiến đấu.

Hằng ngày, máy bay trinh sát địch luôn vè vè trên đầu, máy bay B-52 chốc chốc lại giội bom bừa bãi xuống những nơi nghi vấn, nhưng chúng không thể phát hiện ra hàng chục xe tăng nằm chình ình hơn 10 ngày ngay sát cứ điểm, trên đồi không có lấy một bóng cây chỉ bạt ngàn cỏ tranh. Vì xe đã được phủ bằt các sọt cỏ tranh được trồng và tưới nước hằng ngày.

Nguyên Đại đội trưởng Đại đội tăng 9 Ngô Xuân Nghiêm, cho biết, trong từng trận chiến đấu, tính sáng tạo của lính tăng cũng được thể hiện hết sức sinh động. Câu chuyện kíp xe 569 là ví dụ. Lái xe Phạm Văn Hương bị thương ở chân. Vì không có lái xe thay thế, kíp xe đã sáng kiến Hương lái, còn pháo thủ dùng chân đạp cần lái. Nhờ đó, xe tăng 569 vẫn cùng đồng đội lao về phía trước tiêu diệt địch. Hay chuyện chiếc kính ngắm của xe 565 bị hỏng, pháo thủ đã trực tiếp ngắm qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu… Những sáng tạo đó đã góp phần làm nên chiến thắng.

Tập kích bất ngờ

Thắng lợi Tà Mây – Làng Vây có vai trò rất lớn của việc bảo đảm bí mật, bất ngờ trong hành quân, trú quân và tập kết chiến đấu. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên của ta trên chiến trường và cũng không biết bằng cách nào ta có thể đưa được những chiếc xe tăng vượt qua núi rừng Trường Sơn điệp trùng hiểm trở.

Yếu tố bí mật đó thật sự tạo nên bất ngờ rất lớn trong trận Huội San (Tà Mây). Ngày 24/1/1968, đại đội xe tăng 3 đã tấn công cứ điểm này. Hai xe tăng 555 và 558 đã lao thẳng vào căn cứ của địch, bắn sập các lô cốt, hỏa điểm của địch. Bất ngờ trước sự xuất hiện của xe tăng ta, quân địch hoảng hốt tháo chạy tán loạn, quân ta làm chủ trận địa trong một thời gian ngắn.

Đoàn tiền trạm của Tiểu đoàn 198 chuẩn bị cho trận đánh Tà Mây – Làng Vây. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Đến khi đánh cứ điểm Làng Vây, yếu tố bất ngờ về sự xuất hiện của xe tăng không còn nữa, ta lại tạo ra sự bất ngờ mới về hướng tiến công. Để chuẩn bị tiến công, từ ngày 19/1/1968, đại đội tăng 9 đã nhiều lần cùng bộ đội công binh dùng mảng nứa, bí mật thăm dò lòng sông Sêpôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông và đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể.

Đại đội xe tăng 9 bơi xuôi theo dòng sông Sêpôn từ vị trí tập kết chiến đấu ở đồi Pê Sai vào tuyến điều chỉnh cuối cùng ở Làng Troài, cách địch gần 2km. Sông Sêpôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng, địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động theo dòng sông để tập kích vào hướng này.

Các chiến sỹ công binh đã bơi lặn trong dòng nước lạnh buốt đo mực nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm và phá những tảng đá to trên quãng sông nước cạn, để mở đường cho xe tăng đi bằng xích. Những đoạn có nhiều đá ngầm, các chiến sĩ công binh quấn dù trắng trên mình, đứng dọc hai bên để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng bơi. Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đến 23g cả 8 xe đều đến được vị trí cuối cùng ở khu vực cầu Bi Hiên cách cứ điểm địch khoảng 2km. Lúc này pháo binh địch từ Tà Cơn và hỏa lực địch trong căn cứ Làng Vây bắn mạnh ra trên cả hai hướng, máy bay địch cũng bắt đầu thả pháo sáng, bắn phá ngăn chặn ta tiến công.

Đúng 23g25, ngày 6/2/1968, Sở chỉ huy hạ lệnh và phát tín hiệu xung phong. Xe tăng của ta đồng loạt vượt cửa mở, dẫn bộ binh xung phong vào trong cứ điểm của địch. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao. Xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 2)

Ở Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp, có một hiện vật không thuộc nhóm vũ khí khiến khách tham quan không khỏi rưng rưng. Đó chính là nắm cơm bị cháy.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Đầu năm 1972, chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch xuân – hè nhằm tiêu diệt căn cứ Đăk Tô – Tân Cảnh bằng trận chiến hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia, góp phần tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch.

Như mũi tên thép

Đăk Tô – Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của ngụy quân ở bắc Tây Nguyên, mà Mỹ – ngụy cho là vành đai thép án ngữ hành lang Trường Sơn, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng địch được bố trí ở dãy cao điểm phía tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum.

Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh là giải phóng 1/3 mạn bắc tỉnh Kon Tum, làm sụp đổ tuyến phòng thủ bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn. Sau khi vừa tham chiến ở Đường 9 – Nam Lào trở về, tiểu đoàn 297 tăng thiết giáp lại được lệnh tiến vào chiến trường Tây Nguyên với khẩu hiệu “Tiến sâu – Ở lâu – Đánh thắng!”. Sau 2,5 tháng hành quân, đến đầu năm 1972 thì tới ngã ba biên giới Đông Dương.

Đêm 23/4/1972, từ ngầm sông Pô Kô Hạ, đại đội 7 gồm 9 chiếc xe tăng cùng trung đoàn 66 bộ binh bắt đầu xuất kích. 1g ngày 24/4/1972, xe 377 dẫn đầu tấn công vào hướng đông căn cứ e42 – Tân Cảnh, mở màn trận đánh tiêu diệt cụm cứ điểm này. Sau hơn nửa giờ chiến đấu ác liệt, căn cứ của địch chìm trong khói lửa.

Xe 377 cùng đồng đội xuất kích trong trận Đắk Tô – Tân Cảnh 1972 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Đến 4h30, xe 377 dẫn đầu cho bộ binh và xe 357 xốc tới, dũng mãnh tấn công, như một mũi thép lướt qua công sự, chiến hào, vật cản của địch… tiến thẳng vào sở chỉ huy e42, khiến đại tá cố vấn Mỹ, đại tá Lê Đức Đạt chết tại chỗ, đại tá Vi Văn Bình bị bắt sống. Đến 8h cùng ngày, ta cơ bản làm chủ khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh.

Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh ngụy. Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định điều một trung đội xe tăng, gồm xe 377, 354, 369 vận động theo đường 18 lên hiệp đồng với Trung đoàn 1, Đoàn 2, tiêu diệt địch ở căn cứ Đăk Tô 2.

Một đấu mười

Mặc dù không có thời gian chuẩn bị nhưng, Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển, Trung đội trưởng Trung đội tăng 3 (ngồi trên xe 377) đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, vừa cơ động, quan sát nắm địch, đồng thời dẫn trung đội vận động với tốc độ cao, dũng cảm vượt qua các trận địa, sự bắn phá ác liệt của máy bay địch để đến căn cứ Đăk Tô 2 trước thời gian.

Xe 377 lại tiếp tục dẫn đầu hai xe 354 và 369 lao thẳng vào cứ điểm. Vì gặp chướng ngại vật nên hai xe kia bị tụt lại phía sau. Địch thấy chỉ có mỗi một xe 377 đơn độc bèn cho xuất kích 10 chiếc tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây. Xe 377 lọt vào giữa vòng vây của địch. Cuộc đấu 1 chọi 10 diễn ra ác liệt.

Xe 377, huyền thoại của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trong tình thế nguy nan, Nguyễn Nhân Triển đã bình tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn cháy 7 xe M41, làm rối loạn đội hình địch. Xe tăng 354, 369 trên đường cơ động, biết xe 377 gặp khó khăn chờ chi viện đã chạy với tốc độ cao nhất lao lên trận địa, bắn cháy 3 xe tăng địch. Lúc đó, một xe tăng địch ở phía Nam sân bay dã chiến Phượng Hoàng bắn trúng xe 377.

Dù xe bốc cháy, nhưng kíp xe vẫn kiên cường truy kích địch. Nhưng cuối cùng 4 chiến sĩ trong xe là Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển, Hạ sĩ pháo thủ Hoàng Văn Ái, Nguyễn Đắc Lương và Hạ sĩ lái xe Cao Trần Vịnh đã anh dũng hy sinh. Lúc này xe tăng, bộ binh ta mãnh liệt tiến lên tràn vào tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.

11h30 hôm ấy lá cờ của Tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 tung bay trên cứ điểm Đăk Tô. Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Bờ lêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận ĐăkTô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến ĐăkTô, về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kontum được giải phóng.

Xác những chiếc xe tăng Mỹ do kíp xe 377 bắn cháy tại trận Đắk Tô 2 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy xe 377 đang bốc cháy giữa ngổn ngang xác xe tăng địch. Bên cạnh thi thể không còn nguyên vẹn của các anh, là những nắm cơm mà các anh chưa kịp ăn giữa hai trận đánh đã bị cháy thành than. Tập thể kíp xe 377 đã lập kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao: 1 xe tăng tiêu diệt 7 xe tăng địch trong một trận đánh.

Với chiến công trên, tập thể xe 377 đã nêu tấm gương sáng về bản lĩnh kiên cường. Chiến công của xe 377 được coi là chuyện huyền thoại của Binh chủng tăng thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xe tăng 377 đã trở thành kỷ vật vô cùng thiêng liêng, tự hào của Đơn vị H73 và gia đình các liệt sĩ.

Ghi nhớ chiến công của các anh, chiếc xe tăng 377 đã trở thành tượng đài đặt ở giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô, nơi các anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Phần hài cốt của các anh đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Đăk Tô, mảnh đất nơi các anh đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho đất nước; còn nắm cơm đã cháy thành than, cùng các di vật của kíp xe 377 hiện vẫn đang được lưu giữ tại Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp. Ngày 1/9/2009 nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho kíp xe tăng 377.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ cuối)

Hơn 30 năm đã qua đi, nhưng hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống ngụy quyền trưa 30/4/1975 mãi là biểu tượng chiến thắng huy hoàng của dân tộc.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng
>> Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Kỳ cuối: “Nhân chứng” đặc biệt

(Đất Việt) Sau khi giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết, ngày 26/4/1975, toàn bộ lực lượng của ta bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ba ngày sau, đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong – Trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu tiến vào Sài Gòn.

Thần tốc, táo bạo

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về tử thủ ở ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn. Nửa đêm 29/4, tiểu đoàn 1 đi đầu đội hình đến phía bắc cầu Xa Lộ. Xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu.

Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu. Sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức. Sau khi đánh bại địch giữ cầu Xa Lộ, binh đoàn thọc sâu tức tốc vượt cầu, nhanh chóng vượt qua các tuyến ngăn chặn của địch.

Cánh cổng sắt Dinh tổng thống Nguỵ dưới vành xích xe 390.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

8h ngày 30/4/1975, trong đội hình đại quân thần tốc tiến vào nội đô Sài Gòn, kíp xe 390 gồm: Trung úy Vũ Đăng Toàn chỉ huy xe tăng 390, chính trị viên đại đội 4, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập – lái xe, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên – pháo thủ số 1 và Thiếu úy Lê Văn Phượng – pháo thủ số 2, đi đầu đội hình, vượt qua cầu Thị Nghè, gặp xe tăng địch ra ngăn chặn. Bằng một phát đạn xuyên táo, xe 390 diệt luôn 2 xe M113, số xe địch còn lại hoảng sợ bỏ chạy.

Xe tăng 390 tăng tốc theo đại lộ Hồng thập tự, tiến vào đánh chiếm Dinh tổng thống Nguỵ. Thiếu uý Lê Văn Phượng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 4 nhớ lại, theo phương án tác chiến, xe tăng 390 đến ngã tư thứ 7 thì rẽ trái là vào đến Dinh tổng thống Nguỵ, nhưng vì cả kíp xe không ai biết Dinh ở đâu, xe đã chạy quá một đoạn, nên phải quay lại, theo đường Công lý (nay là đường Nam kỳ khởi nghĩa).

Thắng nhanh để không đổ thêm máu

Sau khi quay lại, chỉ còn cách Dinh khoảng 30m, kíp xe 390 nhìn thấy xe tăng 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc nghiêng cánh cổng phụ bên trái. Do đột ngột gặp sức cản lớn, nên xe chết máy và kẹt ở đó. Khi thấy xe 843 bị vướng trước cổng phụ của Dinh, lái xe Nguyễn Văn Tập quay sang nói với chỉ huy xe Vũ Đăng Toàn: “Hay xe của anh Thận bị thương rồi, Thế nào anh Toàn, có cho xe vào dinh không?”.

“Tông thẳng vào”, Trung úy Toàn đã quyết đoán ra lệnh cho lái xe Nguyễn Văn Tập tông thẳng vào cổng chính của Dinh. Lập tức xe 390 tăng ga, lao thẳng và húc hai cánh cổng thép, xích xe chồm lên cánh cổng bên phải, còn cánh bên trái bung bản lề, nghiêng sang một bên.

Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, tông tiếp vào cánh cổng bên trái, cả hai xe tăng 390 và 843 cùng vượt qua cổng, tiến thẳng vào sân, mở toang cánh cửa cuối cùng vào sào huyệt kẻ thù, tạo điều kiện cho lực lượng ta tràn vào sân Dinh, bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong Dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng, hạ cờ chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh tổng thống nguỵ lúc 11h30 ngày 30/4/1975, thời khắc thiêng liêng báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Khi được hỏi, có nghĩ gì khi quyết định húc vào cánh cổng sắt của Dinh? Ông Vũ Đăng Toàn cho biết, lúc đó, chỉ có suy nghĩ duy nhất là phải giành được thắng lợi nhanh nhất, để đồng đội và nhân dân không phải đổ thêm xương máu nữa. Mặc dù, có thể “dính” mìn chống tăng hoặc vật cản nổ của địch bảo vệ cổng Dinh, có thể hy sinh, nhưng kíp xe không có lựa chọn khác.

Các sĩ quan cao cấp trong phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn
đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng trưa 30/4/1975.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Trung sĩ Nguyễn Văn Tập chia sẻ: “Khi thời cơ đến, chúng tôi chỉ biết đó là độc lập. Đất nước còn chiến tranh thì đau khổ vẫn còn, vậy thì quyết định nhanh chóng để bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng, chấm dứt chiến tranh”. Họ là những người hạnh phúc nhất được chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc.

Đó là giờ phút mà không phải người lính nào cũng có may mắn được trải nghiệm. “Cảm giác sung sướng đến phát khóc khi được chứng kiến khoảnh khắc lịch sử, đích đến cuối cùng sau bao nhiêu năm đồng bào, đồng chí đổ xương máu cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc”, Thiếu úy Lê Văn Phượng bồi hồi nhớ lại.

Năm tháng đã qua đi, nhưng hình ảnh xe tăng 390 húc tung cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975 mãi mãi là in đậm trong lòng những người lính xe tăng và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Hiện nay, xe tăng 390 được trưng bày tại Bảo tàng lực lượng Tăng – Thiết giáp. Câu chuyện về “nhân chứng” lịch sử đặc biệt này sẽ như một khúc ca truyền thống tiếp lửa cho các thế hệ những người lính Tăng – Thiết giáp.

Với ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của xe tăng 390 trong Đại thắng mùa Xuân 1975, tháng 8/2011, Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng đã xét duyệt hồ sơ và thẩm định hiện vật xe tăng 390, nhất trí đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 1)

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cần phải phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ. Người nói: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”.Dưới sự tổ chức và rèn luyện trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chỉ 15 năm sau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân – phong kiến, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở đầu quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Bàng hoàng và hoảng sợ trước ngọn đuốc giải phóng dân tộc trong thời đại mới đã được thắp sáng tại Việt Nam, thực dân Pháp và các thế lực phản động quốc tế phiêu lưu xâm lược Đông Dương một lần nữa. Sau nhiều cố gắng thương lượng bất thành, từ tháng 12 năm 1946, lãnh tụ Hồ Chí Minh một lần nữa lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam tiến hành trường kỳ kháng chiến và 9 năm sau kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tiếp nối Điện Biên Phủ – Việt Nam là hàng chuỗi phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở không gian Á, Phi và Mỹ La tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Sau thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thế chân, nhảy vào miền Nam, âm mưu chiếm đóng, chia cắt lâu dài đất nước nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: hoàn thiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn ngày càng được củng cố, miền Bắc hoàn thành nghĩa vụ cao cả là hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ. Quân và dân miền Nam đã lần lượt làm thất bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tiến tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Lá cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân giương cao, biến Việt Nam thành lương tâm và khí phách của cả thờì đại. Chiến thắng năm 1975 của Việt Nam là chiến thắng của thời đại Hồ Chí Minh, chiến thắng của dân tộc chống đế quốc, của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản, của văn minh chống lại bạo tàn, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về sự kiên định, trung thành với mục tiêu lý tưởng cộng sản; đồng thời, đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện Việt Nam, góp phần xứng đáng vào tăng cường sức sống cho hệ tư tưởng cộng sản trong thời đại mới. Chính vì vậy, Người không chỉ được kính trọng, ngưỡng mộ, mà còn là một tấm gương cần noi theo, một sự chỉ dẫn không thể thiếu đối với nhân dân Việt Nam và đông đảo lực lượng cách mạng, tiến bộ toàn thế giới trước kia, hiện tại và tương lai.
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa cộng sản, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong một sự nghiệp cách mạng. Lập trường cộng sản của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở của một nhận thức đúng đắn, một ý chí sắt son với quốc gia dân tộc, một trình độ giác ngộ giai cấp sâu sắc qua thực tiễn hoạt động chính trị – xã hội phong phú của bản thân Người. Bởi vậy, ngay trong hoàn cảnh hoạt động bí mật hiểm nghèo, trong chốn lao tù khắc nghiệt, hay trong những thời điểm bị chính các đồng chí cộng sản hiểu lầm, đánh giá sai…, Người vẫn luôn luôn tự tin, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cộng sản.

Điều hết sức đặc sắc ở Hồ Chí Minh là Người đã duy trì sự kiên định, trung thành bằng cách vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận cộng sản chủ nghĩa một cách kịp thời, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như với bối cảnh mới của thời đại. Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa đế quốc như con đỉa hai vòi; về vai trò, vị trí của cách mạng vô sản ở thuộc địa đối với cách mạng thế giới nói chung và cách mạng vô sản ở chính quốc nói riêng; về khả năng, tiềm năng cách mạng của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Đông Dương; về giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; về quy luật ra đời của đảng cộng sản ở Việt Nam; về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa – phong kiến; về xây dựng nền văn hóa và con người mới xã hội chủ nghĩa; về khối đại đoàn kết toàn dân tộc như động lực của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân với sức mạnh tổng hợp, chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân; về xây dựng Nhà nước, xây dựng Đảng như tổ chức của những công bộc, những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; về nền đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, hợp tác và hội nhập quốc tế… là những cống hiến vô giá đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.

Hệ thống lý luận do Mác, Ăngghen và Lênin xây dựng cách đây hàng thế kỷ vẫn có ý nghĩa thời đại sâu sắc một phần rất lớn là nhờ được nhiều lãnh tụ cách mạng, trong đó có Hồ Chí Minh của Việt Nam, bổ sung, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn sinh động của quốc gia và thế giới đương thời. Đối với những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn có giá trị soi sáng con đường cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trước kia và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới vừa qua cũng như những đóng góp của đổi mới đối với quá trình phục hồi, phát triển của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trên ý nghĩa hiện thực của nó, cũng chính là thành công và đóng góp của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là một chiến sĩ trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, có đóng góp to lớn cho tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân tất cả các nước, giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa vô sản và các dân tộc bị áp bức và giữa các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới với nhau. Chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh có nội dung phong phú: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột; đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”; đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội; đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc…

Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Từ năm 1912 đến năm l917, Người đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ, sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa. Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ I, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân như đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa. Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các diễn đàn này, Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là một nhân cách cộng sản mẫu mực, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; sống cuộc đời giản dị, khiêm tốn, ham học hỏi, nói đi đôi với làm; thực hành nghiêm túc các nguyên tắc sinh hoạt của Đảng; gắn bó máu thịt với nhân dân, thường xuyên nhấn mạnh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Trọn đời, Người chỉ có một mục đích duy nhất là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người “…chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t4, tr.161).

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, trong đó chứa đựng tinh hoa của đạo đức nhân loại, đạo đức dân tộc và đạo đức cộng sản mà Mác, Ăngghen, Lênin đã đặt nền móng. Nội dung hàng đầu của đạo đức Hồ Chí Minh là trung với nước, hiếu với dân, là tình yêu thương con người. Chữ “trung”, chữ “hiếu” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển lên tầm cao cộng sản, đó là trung thành với lợi ích quốc gia, với độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả, nghiệp lớn. Chính vì vậy, đạo đức Hồ Chí Minh là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người chỉ rõ: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t5, tr.252). Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dốc trọn tâm can, nhiệt huyết cho dân, cho nước, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, không tơ hào lợi lộc, vinh hoa phú quý là nội dung rất quan trọng trong đạo đức Hồ Chí Minh, được vị lãnh tụ đề cập ngay từ đầu trong tác phẩm Đường cách mạng và nhấn mạnh trong Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa.

Trong mọi hoàn cảnh, dù ở thủ đô hay trong rừng núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giản dị, thanh cao. Hình ảnh vị lãnh tụ với cháo bẹ, rau măng, lán rạ… trong núi rừng kháng chiến; hay đôi dép cao su, bộ ka ki khiêm tốn, ngôi nhà sàn bé nhỏ, đơn sơ… trên cương vị nguyên thủ quốc gia, mà khi đi vào cõi vĩnh hằng không để lại một chút tài sản riêng tư, đã tạc dấu ấn của một nhân cách cộng sản đích thực vào tinh thần thời đại ngày nay.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh còn tỏa sáng một cách mẫu mực từ việc làm, cách ứng xử và cuộc sống hàng ngày của Người. Khi kêu gọi toàn dân xây dựng hũ gạo kháng chiến, vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cũng mỗi bữa bớt lại một nắm gạo và 10 ngày nhịn ăn một bữa. Khi kêu gọi toàn dân rèn luyện thân thể, Người cũng “tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”. Để thực hiện nghiêm túc chủ trương tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn mang theo cơm nắm, muối vừng trong mỗi chuyến công tác,v.v… Suốt đời, Người thực hiện nói ít, làm nhiều, nói đi đôi với làm, cán bộ làm gương cho quần chúng noi theo, xây đi đôi với chống, lấy xây làm chính và thực hành tu dưỡng đạo đức thường xuyên như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Nhân cách cộng sản Hồ Chí Minh cũng tỏa sáng một cách độc đáo từ quan niệm Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Ngay sau khi thành lập nước, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, kiên trì đấu tranh phòng chống các căn bệnh, nguy cơ quan liêu, xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng nhân dân, đặc quyền đặc lợi, chủ nghĩa cá nhân… Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội chưa hẳn là đời sống vật chất cao, mà trước hết ở các giá trị nhân văn, đạo đức của nó, được thể hiện trong từng cán bộ cách mạng và đảng viên. Người nhấn mạnh: “Phong trào cộng sản quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh loài người chẳng những là do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành sức mạnh vô địch” (Hồ Chí Minh: Lênin và Cách mạng tháng Mười. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.160).
Thế giới ngày nay có biết bao đổi thay sâu rộng, khó lường. Sự nghiệp của những người cộng sản đã phải nếm trải không ít đổ vỡ, mất mát nhưng loài người không bao giờ quên, không bao giờ phủ nhận những đóng góp lịch sử vĩ đại của cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới trong suốt thế kỷ XX. Loài người cũng mãi mãi tự hào về những chiến sĩ lỗi lạc, những lãnh tụ kiệt xuất đã từng xuất hiện và trưởng thành từ phong trào cộng sản, phong trào cách mạng sôi động ấy, trong đó có Hồ Chí Minh (Việt Nam).

Ở những thập niên đầu thế kỷ XXI hiện nay, nhân dân lao động toàn thế giới đang nỗ lực và sáng tạo đấu tranh vì một thế giới tốt đẹp hơn: một thế giới của hòa bình, độc lập dân tộc; một thế giới khác với thế giới tư bản chủ nghĩa, không còn áp bức, bóc lột, bất công. Tuy nội dung, hình thức đấu tranh có nhiều điểm khác trước, nhưng mục tiêu đấu tranh vẫn thống nhất với thời kỳ của các thế hệ tiền bối cách mạng. Bởi vậy, lá cờ của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và tấm gương của các chiến sĩ cộng sản lỗi lạc như Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị dẫn đường./.

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ 2)

TP – Năm 1965, dân chúng Mỹ bắt đầu nghi ngờ về việc Hoa Kỳ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến Việt Nam. Số lượng người phản đối ngày một tăng lên.

Sự phẫn nộ của những người yêu hòa bình

Nhiều thanh niên bất mãn đã tách khỏi xã hội Mỹ và thành lập những công xã như thế này

Các cuộc phản đối được thực hiện với nhiều kiểu thể hiện: Những buổi biểu diễn nhạc chống chiến tranh, tuần hành đòi ngưng ném bom, khẩu hiện dán trên xe máy: Tình yêu chứ không phải chiến tranh, và biểu ngữ “Chiến tranh có hại cho trẻ em và những sinh vật khác”.

Thanh niên Mỹ đốt giấy triệu tập nghĩa vụ quân sự và bao vây các trung tâm tuyển quân. Các cuộc biểu tình lan vào trường học, đặc biệt là sau khi việc hoãn triệu tập nghĩa vụ quân sự đối với sinh viên bị bãi bỏ.
Năm 1968, khoảng 10.000 người Mỹ đã di cư sang Canada để tránh phục vụ cho cái mà họ gọi là cuộc chiến tranh đồi bại.

Lý do để những người yêu hòa bình phản đối cuộc chiến này được đưa ra ngày càng nhiều. Một trong những lý do chính là họ cho rằng thực chất của cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là một cuộc chiến trong đó lực lượng Việt Cộng đã cố gắng để đánh bại một chính phủ tham nhũng và vô dụng ở Sài Gòn.

Những người yêu hòa bình tố cáo Chính phủ Hoa Kỳ đã hủy hoại cả đất nước và con người Việt Nam, đã làm cho hàng ngàn người Mỹ chết, bị thương, và cái giá của cuộc xung đột này còn thể hiện ở chỗ nạn lạm phát trầm trọng.

Phái hiếu chiến lại đồng ý với Johnson rằng cuộc chiến ở Việt Nam quan trọng đối với an ninh của nước Mỹ và cần chấp nhận sự chết chóc và tốn tiền của. Thậm chí còn có người đòi chiến tranh phải leo thang thêm nữa.

Họ tin sẽ có “ánh sáng ở cuối đường hầm” và chỉ có những nỗ lực hết cỡ của quân đội mới có thể mang lại chiến thắng trọn vẹn. Họ dẫn chứng từ những báo cáo của những nhà ngoại giao Mỹ và tư lệnh ở chiến trường Việt Nam rằng đối thủ của họ đã kiệt sức và đang đứng trước bờ vực chiến bại.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Tối thứ Ba ngày 30 tháng Chạp năm 1968, là ngày đón năm mới của người Việt Nam. Những ngày kế tiếp được gọi là Tết – những ngày bắt đầu một năm mới tính theo lịch mặt trăng.

Ở khắp các đô thị miền Nam VN, đường phố đông nghẹt những người trẻ tuổi trông như vừa mới từ ngoại ô lên để đón lễ. Ngoài ra còn có rất nhiều những đám tang bất thường với kèn sáo, và dĩ nhiên là cả quan tài.

Nhưng khi vỡ lở rồi mới biết, áo quan chứa toàn vũ khí, còn những người ngỡ như nông dân lại là Việt Cộng. Tối đó, Việt Cộng đã mở một cuộc tấn công kinh hoàng khắp cả trăm đô thị ở miền Nam, trong đó có Sài Gòn và 26 tỉnh lỵ.

Sau một tháng chống trả, quân đội Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ giành lại được quyền kiểm soát, làm thương vong 42.000 quân Việt Cộng. Đó là một sự kiện chứng tỏ với Johnson rằng đối phương không hề đã bị đẩy đến bờ vực đầu hàng và cuộc chiến hãy còn dài lắm.

Johnson quyết định rút lui

Trước dấu hiệu có thể bị thất bại trong cuộc chạy đua tiếp theo vào Nhà Trắng bởi những đối thủ có chính sách hòa bình ở Việt Nam được đông đảo cử tri ủng hộ, mà một trong những người đó chính là anh trai của cố Tổng thống John Kennedy – ông Robert Kennedy, người đã đề nghị việc Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam từ đầu năm 1963 với phát biểu: “Chúng ta đang giết những người vô tội…”

Là một chính trị gia tinh quái, Johnson hiểu điều gì sắp xảy ra. Ngày 31/3/1968, ông tuyên bố trên tivi: “Tôi đang từng bước hạ màn chiến tranh ở Việt Nam. Tôi đã đề nghị không lực của chúng ta không tiếp tục oanh tạc Bắc Việt Nam”.

Sau một thoáng suy nghĩ, ông nói tiếp: “Đang có sự chia rẽ trong các gia đình người Mỹ. Do đó, tôi không mong muốn, và cũng không chấp nhận Đảng của tôi bổ nhiệm tôi làm tổng thống trong nhiệm kỳ tới”.
Bốn năm trước, Johnson nhận được sự ủng hộ của đông đảo cử tri Mỹ. Nhưng lúc này, ông đã phải tuyên bố giã từ sự nghiệp chính trị của mình.

Sau đó một tháng, một cuộc đàm phán sơ bộ giữa những người đại diện của ông Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ được tổ chức ở Paris. Bất chấp điều đó, chiến sự vẫn nổ ra.

Thời đại Nixon

Cuối những năm 1960, người Mỹ ngao ngán với những cuộc bạo động, biểu tình. Cuộc chiến ở Nam á vẫn không có được câu trả lời khi nào thì chấm dứt. Việc hai chính khách bị ám sát trong cuộc tuyển cử năm 1968 càng làm cho dân chúng lo lắng và thất vọng. Vì thế cử tri Mỹ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên hứa hẹn đoàn kết đất nước lại.

Richard M.Nixon trở thành Tổng thống Hoa Kỳ tháng Giêng năm 1969. Năm 1972, ông tái đắc cử. Chính quyền Nixon thay đổi chính sách đối ngoại, tái lập mối quan hệ với Trung Quốc, và muốn chấm dứt sự liên lụy với cuộc chiến Việt Nam.

(Còn tiếp)
Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng
dịch và tổng hợp

>>Kỳ 1: Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam?

Học sinh Mỹ được học như thế nào về chiến tranh Việt Nam? (Kỳ cuối)

TP – Nixon luôn phải nỗ lực quyết liệt để đạt được những thành tựu trong cuộc đời. Điều đó khiến ông ta có nhận định rằng thế giới chỉ là một đấu trường trong đó chỉ có chiến thắng mới là điều đáng quan tâm.

ảnh đăng trang 716 với ghi chú : "Vợ chồng Tổng thống Nixon đón nhận sự cổ vũ sau bài diễn văn ông đọc vào năm 1968 tại New York"

Nixon và kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh

Có vẻ như ông ta nhìn nhận những người không cùng quan điểm không đơn giản chỉ là người bất đồng với ông mà là kẻ thù của ông. Những người này đe dọa đến quyền lực của ông và họ cần phải bị tiêu diệt.

Nixon cư xử nếu không nói như một Hoàng đế, thì cũng giống một hoàng tử. Ông ta mua một biệt thự giá 250.000USD ở Key Biscayne– Florida, và một biệt thự khác ở San Clemente– California mà ông ta phong cho cái tên là Nhà Trắng miền Tây.

Chính phủ của ông chi hết 10,5 triệu USD trong hai nhiệm kỳ, một phần trong số đó là để trang bị vũ khí và thiết bị an ninh, còn phần lớn là để sắm sửa đồ đạc và xây dựng cảnh trí. Mười sáu phi cơ và mười sáu máy bay trực thăng luôn phải túc trực để ông sử dụng. Quản gia, người hầu, đầu bếp, thợ làm vườn, lái xe của Nixon gồm cả trăm người.

Trong một lần trả lời báo chí, Nixon cho rằng: “Tổng thống phải khác người, ông ta phải có một phong cách đặc biệt. Bởi dân chúng muốn như vậy. Họ không muốn Tổng thống cũng tham gia vào đám đông và nói : Nhìn này, trông tôi cũng giống với các anh”. Thế nên, người ta luôn thấy ông thắt cà-vạt và mặc áo choàng. Và thậm chí bạn thân của ông ta cũng không được gọi tên của ông, mà phải trân trọng gọi là Mr.Nixon hoặc ngài Tổng thống.

Với thái độ xa lánh dân chúng kiểu đó, dưới thời đại của ông rất ít có những cuộc họp báo và các thông tin quan trọng thường không đến được với dân chúng Mỹ. Một ví dụ là Nixon đã không nói về việc ông cho ném bom Campuchia mãi đến khi việc này đã xảy ra được hơn một năm.

Nhiều người lo ngại rằng Tổng thống đã bao trùm những luật lệ của riêng ông lên Chính phủ.

Tháng 6/1969, Nixon tuyên bố kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”. Có nghĩa là sẽ từ từ rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam và để miền Nam Việt Nam tự giải quyết cuộc chiến của họ. Cuối tháng 8/1969, nhóm 25.000 lính Mỹ đầu tiên trở về nhà. Thời điểm đó, ông tăng cường ném bom miền Bắc, và bí mật ném bom cả Lào và Campuchia.

Phong trào phản chiến tăng lên

Ảnh đăng trang 719 với ghi chú : “Gia đình Nixon thăm Vạn lý trường thành. Chuyến thăm Trung Quốc năm 1972 này đã đánh dấu một mốc chuyển biến quan trọng trong đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ”

Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh chỉ thành công một phần. Số lượng binh lính Mỹ trở về nhà ngày một tăng lên, nhưng chính quyền tham nhũng và kém hiệu quả của Nguyễn Văn Thiệu không thể tuyển được đủ quân để lấp vào khoảng trống đó.

Trong khi đó, các tổ chức phản chiến ở Mỹ ngày càng lớn mạnh. Ngày 15/5/1969 hàng trăm ngàn người Mỹ đeo băng đen trên tay áo đổ ra đường diễu hành.

Một cuộc xuống đường tương tự diễn ra vào ngày 15/10/1969. Rồi ngày 15/11/1969 tại Washington khoảng 40.000 người tham gia cuộc đi bộ “Phản đối sự chết chóc” , mỗi người cầm một tấm bảng có ghi tên một lính Mỹ chết ở Việt Nam.

Ông Nixon không chứng kiến các cuộc diễu hành này. Ngồi trong Nhà Trắng, ông bận xem trận bóng đá trên tivi. Ông ta cảm thấy việc rút quân khỏi Việt Nam một cách vô điều kiện là nhục nhã.

Và để có “Hòa bình trong danh dự” thì phải thông qua việc Việt Nam hóa chiến tranh. Một cuộc thăm dò dư luận Mỹ cho thấy 3/4 dân chúng Mỹ đồng tình với quan điểm này của Tổng thống.

Nhưng dần dần cách nhìn nhận của dân chúng Mỹ thay đổi. Tivi đã đưa hình ảnh về sự chết chóc và hủy hoại trực tiếp vào tận trong các gia đình người Mỹ. Báo chí đăng tải những sự kiện như lính Mỹ tàn sát cả một làng của người Việt ở Mỹ Lai.

Mùa xuân 1970, Nixon thông báo quân đội Mỹ đã xâm chiếm Campuchia để xóa sổ những địa điểm tiếp tế của Việt Cộng và Bắc Việt Nam. Dù cho binh lính đã rút khỏi đây vào tháng Sáu, nhưng phong trào phản chiến vẫn ngày càng sôi sục. Quốc hội có nghị quyết đòi việc ném bom Campuchia phải chấm dứt vào tháng Bảy.

Sinh viên đồng loạt biểu tình. Hơn 400 trường học đóng cửa. Từ ngày 9 đến 10/5/1970, khoảng 100.000 sinh viên tập trung trước Nhà Trắng. Thoạt đầu, Nixon gọi họ là những kẻ lười biếng vô công rồi nghề.

Sau đó ông ta tìm cách trò chuyện với họ trong trật tự và thân thiện. Nhưng thay vì nói về chiến tranh, ông chỉ đề cập đến bóng đá và lướt sóng. Một tờ báo viết về sự kiện này : “ Hai người Mỹ gặp nhau và ông nói gà bà nói vịt”.

Việc thương lượng hòa bình vẫn được tiến hành ở Paris. Ngày 8/10/1972, sau khi đã kiên nhẫn thảo luận, Kissinger tuyên bố một thỏa thuận ngừng bắn với Bắc Việt Nam chuẩn bị được ký kết. Hòa bình trong tầm tay. Ngày 23/10, ông ta lại nói việc ký hiệp ước bị trì hoãn vì có những điểm cần làm sáng tỏ.

Có một lý do mà Nam Việt Nam không chấp thuận. Đến tháng 11, việc làm sáng tỏ này vẫn chưa hoàn tất, Nixon ra lệnh huy động tổng lực không quân Hoa Kỳ tấn công Bắc Việt Nam. Thật không may, hầu hết doanh trại, kho hàng, nhà máy là những điểm chính của cuộc tấn công đều được đặt ở khu dân cư đông đúc. Nhà cửa, trường học, bệnh viện bị phá hủy ngoài chủ định, tổn thất trong người dân cũng rất cao.

Trước sự việc đó, nhiều đại biểu Quốc hội trước đó từng ủng hộ Nixon cũng đã lên tiếng đòi nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến. Cuối cùng thì ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ cũng ký vào bản thỏa thuận này. Mỹ rút quân nhưng vẫn chi viện cho Nam Việt Nam. Còn Bắc Việt Nam thì thả tù binh Mỹ.

Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. 46.000 binh lính Mỹ tử trận, 300.000 bị thương, tiêu tốn hết 137 tỷ USD. Một hậu quả vô hình khác là sự chia rẽ trong các gia đình Mỹ và cảm giác bứt rứt của người Mỹ.

Sự tôn trọng chính quyền liên bang cũng bị giảm sút bởi sự che đậy các hành động của họ trước dân chúng. Trong đầu người Mỹ đã xuất hiện cảm giác không muốn có bất cứ một trường hợp Việt Nam tương tự nào nữa, nhưng họ vẫn mơ hồ về việc nước Mỹ có nên tiếp tục quan tâm đến những lục địa phía Tây bán cầu nữa hay không.

Một hệ quả của cuộc chiến này là sự hạn chế quyền hạn của Tổng thống trong chiến tranh. Tháng 11/1973, Quốc hội thông qua nghị quyết Quyền hạn trong chiến tranh, nêu rõ: Tổng thống gửi quân đội ra nước ngoài phải giải trình với Quốc hội trong vòng 48 giờ. Quốc hội có thể ra quyết định rút quân trong vòng 60 ngày. Nixon phủ quyết nghị quyết này, nhưng nó vẫn được thông qua mà không cần đến sự đồng ý của ông ta…

Thay lời kết

Người bạn gửi tặng chúng tôi cuốn sách này là Nguyễn- kỹ sư cơ giới hạng nặng đang làm việc tại một thành phố nhỏ phía Nam nước Mỹ. Gần 30 năm trước anh đã từng trải những ngày tháng kinh hoàng của thân phận vượt biên trái phép.

Vài năm trở lại đây cuộc sống riêng ổn định, vợ chồng anh vẫn dành trọn những ngày cuối tuần làm việc thêm ngoài giờ để có thêm tiền gửi về hỗ trợ nhiều hoàn cảnh khó khăn trên mọi miền đất nước mà báo chí Việt Nam kêu gọi giúp đỡ, đồng thời chuẩn bị tỉ mỉ về một kế hoạch mở lớp dạy nghề cơ khí miễn phí cho trẻ nghèo sau ngày hồi hương.

Nguyễn tâm sự: Anh chỉ là một trong hàng triệu Việt kiều luôn tha thiết thương nhớ quê hương, ước mong được đóng góp thật nhiều cho đất nước.

>>Kỳ 2 —->> Kỳ trước

Hoàng Thiên Nga – Võ Phụng Hoàng

Anh hùng Nguyễn Tài và ký ức về ngày 30-4-1975

Đồng chí Nguyễn Tài trong những ngày ở nhà tù của Mỹ-ngụy.

Đúng trưa ngày 30/4/1975, đồng chí Nguyễn Tài được bộ đội ta giải thoát. Sau cảnh lao tù, ông trở lại với công việc của mình với cương vị Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban An ninh thành phố vừa mới được giải phóng, rồi là Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Năm tháng qua đi, vượt lên những thăng trầm và vết thương thời hậu chiến ông đã được nhà nước ta phong tặng danh hiệu LLVTND…

Chiến tranh đã lùi xa nhưng hằng năm cứ vào dịp kỷ niệm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất lại một dịp tôi nhớ đến một cán bộ lão thành đã từng là Trưởng ty Công an Hà Nội trong những ngày đầu dựng nước, 10 năm sau là Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị (Bộ Công an), tình nguyện đi chiến trường trong những năm cả nước sôi sục đánh Mỹ rồi bị địch bắt vào dịp Noel năm 1970. Mặt đối mặt với các nhân viên CIA trong suốt 4 năm, 4 tháng, 10 ngày trong nhà tù của Mỹ – ngụy, song ông vẫn giữ được khí phách trung kiên của người chiến sỹ Công an cách mạng.

Mùa xuân năm 1975 khi Sài Gòn được giải phóng, ông được bộ đội ta giải thoát. Sau cảnh lao tù, ông trở lại với công việc của mình với cương vị Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban An ninh thành phố vừa mới được giải phóng. Sau đó ít lâu, ông được bổ nhiệm giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Năm tháng qua đi, vượt lên những thăng trầm và vết thương thời hậu chiến ông đã được nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND). Người anh hùng ấy là đồng chí Nguyễn Tài.

Trong cuốn hồi ký của mình, đồng chí Nguyễn Tài viết: “Ngày 23/12/1970, tôi bị địch bắt trên đường đi công tác. Thời gian đầu còn dấu được tung tích, lừa địch bằng một bình phong giả tạo; nhưng 6 tháng sau do một sơ hở từ bên ngoài, rồi do bọn phản bội khai báo, nhận diện, tôi bị lộ tung tích.

Kể từ đó, một cuộc đấu tranh trực diện gay go, quyết liệt đã diễn ra đối với tôi trong hoàn cảnh bị biệt gian từ đầu đến cuối, khi thì với bọn tình báo ngụỵ, khi thì với bọn CIA Mỹ. Theo nhiều tin tức mà tôi nắm được, địch có chủ trương giết tôi vào những ngày cuối cùng tháng 4 năm 1975, nhưng bọn tay sai dưới quyền không dám thi hành vì thời điểm này quân ta đã tiến sát Sài Gòn. Cuối cùng tôi đã được bộ đội ta giải thoát khỏi nhà tù số 3 đường Bạch Đằng vào trưa ngày 30/4/1975”.

Đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn và đồng chí Ủy viên Ban An ninh TW Cục miền Nam Huỳnh Việt Thắng đón tiếp đồng chí Nguyễn Tài (Tư Trọng) từ nhà tù của địch trở về sau chiến thắng 30-4-1975.

Vẫn theo ký ức của anh hùng Nguyễn Tài thì buổi trưa ngày 30/4 năm ấy khi được giải thoát, bộ đội ta tạm đưa ông về nơi trú quân ở Bộ Tư lệnh Hải quân của ngụỵ cũng ở đường Bạch Đằng. Sáng 1/5/1975, do đơn vị này còn phải tiếp tục hành quân để thực hiện nhiệm vụ mới nên họ phải gửi ông cho một đơn vị bộ đội của ta ở Dinh Độc lập và đợi các thành viên của Ủy ban quân quản.

Do nóng lòng gặp lại tổ chức, ông quyết định rời khỏi Dinh Độc lập để tìm gặp gia đình cơ sở, nơi đã nuôi dưỡng và che chở ông một thời gian dài trong những ngày ông hoạt động bí mật ở thành phố. Nhưng khổ một nỗi, ra khỏi trại giam, bước ra đường phố, ông không một xu dính túi, chỉ kịp thay bộ quần áo khác, râu ria mọc tua tủa. Giữa lúc còn đang tính đường đi, lối lại, ông gặp 2 nữ sinh tuổi 15 mặc đồng phục trắng ở đầu phố cạnh Dinh Độc lập.

Vừa nhìn thấy ông, 2 nữ sinh đã hỏi thăm. Sau khi biết ông vừa thoát khỏi nhà tù Mỹ- ngụỵ và có nguyện vọng tìm đến Ủy ban quân quản nhưng chưa gặp được nên phải tìm đường về gia đình cơ sở ở đường Bình Thới, quận 11. Nghe vậy, 2 nữ sinh đã nhận lời dẫn ông đi. Đến một bến xe buýt gần khu vực chợ Bến Thành, 2 nữ sinh mời ông lên xe và mua vé cho ông. Hết chặng, họ tiếp tục mua vé cho ông về Bình Thới. Trước khi tạm biệt ông, các nữ sinh không quên dặn một hành khách trên xe rằng, đến khu vực Bình Thới nhớ nhắc ông xuống xe.

Đêm đó, tại gia đình cơ sở ở Bình Thới, TP HCM, là một đêm ông sống với bao ký ức về những việc làm của gia đình chị Ba- gia đình mà đã từng giúp đỡ ông ăn, ở và hoạt động trong suốt một thời gian dài. Theo ông kể thì: “Sáng 2/5/1975, cháu Nhơn – con trai lớn của anh chị Ba, người mà thoát li từ đợt 2 trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mùa xuân năm Mậu Thân (1968), dừng xe ôtô ngang trước cửa nhà. Vừa bước vào nhà, chưa kịp hỏi thăm ba, má, cháu nhìn thấy tôi rồi ôm chầm và khóc. Thì ra các đồng chí ở Ban An ninh T4 cũ, đã không ngờ tôi vẫn còn sống và trở về. Hỏi ra mới rõ cháu Nhơn vẫn là cán bộ bảo vệ anh Sáu Dân (Đồng chí Võ Văn Kiệt). Trên đường cùng anh Sáu Dân vào tiếp quản Sài Gòn, cháu được anh Sáu Dân cho phép về thăm gia đình. Sau khi gặp tôi, cháu vội đến gặp anh Sáu Dân để báo là tôi vẫn còn sống. Một lát sau, anh Sáu Ngọc (tức đồng chí Lê Thanh Vân, nguyên Giám đốc Công an TP HCM) và anh Hai Ngự, cán bộ An ninh T4 đến nhà anh chị Ba đón tôi về trụ sở Công an TP. Ít ngày sau, tôi được công nhận đảng tịch liên tục và được phân công là Ủy viên thường vụ Thành ủy Sài Gòn, Trưởng ban An ninh thành phố. Kể từ thời điểm ấy, tôi lao vào công việc”.

Đồng chí Nguyễn Tài và phu nhân (người thứ 2,3 từ trái qua) tại buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Vẫn theo lời ông thì ít ngày sau, đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn vào đến Sài Gòn. Biết tin ông vẫn còn sống, Bộ trưởng đã đến gặp ông và điện báo cho gia đình ông ở Hà Nội. Gặp lại Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn và người bạn đời từ Hà Nội vào, trong lòng ông tràn ngập niềm vui. Song Sài Gòn và miền Nam vừa giải phóng với biết bao công việc đảm bảo an ninh, trật tự, ông tạm gác lại những câu chuyện về những ngày xa cách, cũng như những vết thương còn hằn sâu từ thời gian tù đày ở nhà giam của Mỹ – ngụy, phấn khởi tiếp nhận công việc mới: Giám đốc Công an TP HCM. Ít lâu sau, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và giữ cương vị này đến cương vị cuối năm 1981.

36 năm trôi đi kể từ khi miền Nam giải phóng, song giờ đây TP HCM, cũng như đâu đó ở nhiều tỉnh Nam bộ, cứ mỗi lần nhắc đến tên ông, người ta vẫn gọi ông với cái tên trìu mến: Anh Tư Trọng. Cái tên đó xem ra đã gắn bó với tên đất, tên làng của những người đồng chí, đồng nghiệp và người dân nơi ông từng sống và hoạt động. Với ông nơi đây vẫn chôn chặt, bao ký ức về một thời gian khổ mà hào hùng, sự gắn bó máu thịt giữa người dân và những cán bộ Công an cách mạng.

Có lẽ vì thế mà sau khi rời khỏi cương vị Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan để nghỉ hưu theo chế độ và trở thành một công dân bình thường, không còn được nhà nước bao cấp tiền tàu, xe, lưu trú, ông vẫn dùng tiền riêng của gia đình vào thăm TP HCM và các tỉnh phía Nam. Tại các chuyến đi như thế, ông lại tìm đến thăm các đồng chí, đồng nghiệp – những người đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi trong những năm tháng chiến đấu gian khổ ở chiến trường; thăm các gia đình cơ sở, bà con cô bác, những người đã đùm bọc, che chở cho ông trong những thời khắc khó khăn của cuộc chiến.

Đến đâu “anh Tư Trọng” cũng được đón tiếp như những người anh em ruột thịt trong gia đình. Nhiều bà má, người chị, người em bật khóc khi gặp lại ông… Còn ở Hà Nội, thời điểm mới nghỉ hưu không còn chế độ xe đưa, đón, thi thoảng người ta vẫn thấy ông đi chiếc xe đạp cà tàng đến thăm gia đình này, đồng đội kia. Nghỉ hưu, quỹ lương hưu của vợ chồng ông như bà Bắc (vợ ông) nói: Chỉ đủ để trang trải cho tiền điện, nước và sinh hoạt hàng ngày.

Khi ông còn đương chức, gia đình ông có căn hộ ở tầng 2, nhà B4, tập thể Trung Tự (Hà Nội). Ông đã nhượng lại căn hộ này cho người khác để về sống với người con trai và dành tiền cho những chuyến vô Nam thăm đồng chí, đồng nghiệp và các gia đình cơ sở. Nêu ra các chi tiết ấy, chúng tôi muốn đề cập đến một thực tế rằng, trong cái bộn bề của thời mở cửa, có người muốn quay lưng lại với quá khứ, lo thu vén cho gia đình cá nhân, phũ phàng với những kỷ niệm ngày xưa… thì với ông – quá khứ luôn ẩn hiện. Phải chăng đó là phẩm chất của người anh hùng.

Có lẽ vì thế mà tại Công văn số 33 ngày 8 tháng 4 năm 1978, tập thể Thường vụ Thành ủy TP HCM đã có nhận xét rất tốt đẹp về ông: “Trong suốt thời gian công tác ở TP cho đến lúc bị địch bắt, đồng chí Tư Trọng ( tức Nguyễn Tài) là một cán bộ cốt cán tích cực, xông xáo, không sợ hiểm nguy, không chùn bước trước khó khăn, lăn vào chiến trường và đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự lãnh đạo của thành ủy và xây dựng Ban An ninh thành phố”.

Điều đáng phải kể thêm là đơn vị trinh sát vũ trang, đơn vị điệp báo thuộc Ban An ninh T4 do ông phụ trách đã được phong danh hiệu Anh hùng LLVTND. Tương tự thế, trước đó tại Cục Bảo vệ chính trị do ông làm Cục trưởng, rồi tại Công an Hà Nội do ông lãnh đạo, cũng có những tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đương thời, trong lá thư gửi Thành ủy TP HCM, đồng chí Võ Văn Kiệt, khi ấy là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, nguyên Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định và đã có thời gian hoạt động với ông, hiểu ông từ tính cách đến việc làm đã viết thư đề xuất với Đảng và Nhà nước ta xét phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông.

Trong bức thư ấy, đồng chí Võ Văn Kiệt đã nhận xét: “Quá trình hoạt động cũng như quá trình đấu tranh kiên trung, mưu trí khi bị địch bắt trong thời kì kháng chiến chống Mỹ của đồng chí Nguyễn Tài cho thấy, đồng chí thực sự xứng đáng là một anh hùng. Sau giải phóng, đồng chí đã kiên trì, thẳng thắn đấu tranh có nguyên tắc để bảo vệ mình trước những nghi vấn về thời gian bị địch bắt, giam cầm và đã được các cơ quan của Đảng xác nhận. Việc đó càng làm sáng tỏ hơn phẩm chất anh hùng của đồng chí”.

Còn nhớ, khi đến thăm ông vào thời điểm ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, tôi có một cảm nhận, cả vợ chồng ông đều khỏe và trẻ ra. Bà Bắc, phu nhân của ông không giấu nổi niềm vui và xúc động kể với tôi rằng: “Từ hôm ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, đồng đội, bạn bè gần xa, đặc biệt là bà con nơi ông từng sống và hoạt động liên tiếp điện ra chia vui”. Không vui sao được, bởi cuộc đời đã trả lại sự công bằng cho ông – đồng chí Nguyễn Tài trong những ngày ở nhà tù Mỹ – ngụy

Lưu Vinh

cand.com.vn

Phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhìn từ Đại thắng mùa Xuân 1975

Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những vấn đề mới trong điều kiện tác chiến đang có sự vận động, phát triển không ngừng. Những bài học về nghệ thuật tác chiến trong Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn còn nguyên giá trị.

Tuy nhiên, sự vận dụng kinh nghiệm lịch sử ngoài sự kế thừa có chọn lọc, cần có sự sáng tạo mới, gắn với điều kiện mới… Từ sự suy nghĩ như vậy, bài viết đề cập một số nội dung về phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở nhìn từ Đại thắng mùa Xuân 1975.

Tác chiến chiến lược là vấn đề rất rộng lớn, hệ trọng, có tác động trực tiếp đến thành, bại của cuộc chiến tranh. Phương thức tác chiến chiến lược là một trong những nội dung cơ bản, quyết định đến thắng lợi của tác chiến chiến lược. Phương thức tác chiến chiến lược phù hợp với điều kiện tác chiến của mỗi cuộc chiến tranh. Sau năm 1975, chúng ta đã nghiên cứu phương thức tác chiến chiến lược phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong hoà bình, thống nhất.. Tuy nhiên, để hoàn chỉnh lý luận phương thức tác chiến, cần được đầu tư nghiên cứu đầy đủ hơn.

Phương thức tác chiến chiến lược là toàn bộ cách thức và phương pháp tiến hành đấu tranh vũ trang, sử dụng các lực lượng vũ trang tiến hành các hoạt động tác chiến trên quy mô toàn cục của chiến tranh theo quyết tâm chiến lược, nhằm đánh bại các biện pháp tác chiến chiến lược của địch, thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình chiến tranh.

Nói rõ hơn, phương thức tác chiến chiến lược là toàn bộ cách thức, phương pháp, biện pháp và thủ đoạn tác chiến như: phòng thủ, phòng ngự, phản công, tiến công, chống tập kích chiến lược, chống bao vây, phong toả và chia cắt chiến lược… Toàn bộ các hình thức và phương pháp sử dụng các thứ quân, lực lượng tại chỗ và các binh đoàn cơ động, các quân binh chủng, các binh đoàn chiến dịch và tập đoàn chiến lược… tiến hành các hoạt động tác chiến, nhằm thực hiện mục đích của chiến tranh hoặc mục đích của giai đoạn chiến lược trong chiến tranh.

Phương thức tác chiến chiến lược là căn cứ để nghiên cứu, giải quyết nhiều vấn đề của chiến lược quân sự như: tổ chức các lực lượng chiến lược, xây dựng thế trận chiến lược, hậu phương chiến lược, cơ sở vật chất kỹ thuật và hậu cần chiến lược… nhằm chuẩn bị đất nước chủ động và tạo ra những điều kiện để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tác chiến chiến lược trong chiến tranh.

Phạm vi của phương thức tác chiến chiến lược là giải quyết những hoạt động đấu tranh vũ trang, trong mối kết hợp với các hoạt động đấu tranh khác, nhằm chỉ đạo những hoạt động tác chiến chiến lược. Đây là phương thức tác chiến chiến lược trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN, chống chiến tranh xâm lược của CNĐQ và các thế lực thù địch.

Xác định phương thức tác chiến chiến lược cần phải nhận thức, mỗi cuộc chiến tranh có thể được tiến hành theo những phương thức riêng của nó; vì vậy, nghiên cứu phương thức tác chiến chiến lược là nghiên cứu phương thức trong một cuộc chiến tranh cụ thể. Khi xác định phương thức tác chiến chiến lược cần xem xét kỹ lưỡng và nghiêm túc các căn cứ sau đây:

Tính chất, đặc điểm của cuộc chiến tranh, trên cơ sở phân tích cả nguyên nhân và điều kiện phát sinh; mục đích và nhiệm vụ của cả ta và địch trong chiến tranh; quy mô sử dụng lực lượng vũ trang và tính chất các phương tiện sẽ sử dụng, tính đến sự tham gia của các lực lượng đồng minh của mỗi bên tham chiến; những điều kiện và yếu tố mới của cuộc chiến tranh… Các vấn đề đó ảnh hưởng rất lớn đến việc định ra phương thức tác chiến chiến lược.

Tình hình địch, về các mặt: tiềm lực kinh tế, khả năng huy động cho chiến tranh; số lượng, chất lượng các lực lượng vũ trang và phương tiện kỹ thuật; âm mưu, chủ trương và các biện pháp tác chiến chiến lược; tình hình chính trị trong nội bộ địch và trong khối liên minh quân sự của chúng…

Tình hình ta, trên mọi mặt, đặc biệt phải căn cứ vào tiềm lực kinh tế, quốc phòng; khả năng động viên nền kinh tế và nhân lực cho cuộc chiến tranh; số lượng và chất lượng các lực lượng vũ trang, phương tiện, binh khí kỹ thuật; truyền thống quân sự của dân tộc, tinh thần chính trị của nhân dân; yếu tố lãnh đạo, phương châm tiến hành chiến tranh, tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự.

Môi trường địa lý của chiến trường chiến tranh và chiến trường tác chiến, trên cơ sở phân tích đặc điểm địa lý quân sự, khó khăn và thuận lợi của điều kiện địa hình, thời tiết có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tác chiến chiến lược của đôi bên trong chiến tranh….

Tính toán được tất cả những nhân tố và điều kiện nói trên, mới có cơ sở khoa học để xác định các phương thức tác chiến chiến lược và vận dụng một cách chủ động, sáng tạo trong từng trường hợp cụ thể để đánh bại các phương thức tác chiến chiến lược của địch, giành thắng lợi.

Xác định phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể tập trung vào những nội dung chủ yếu:

1. Giữ vững, phát huy thế trận chiến tranh nhân dân, tạo lập thế trận vững chắc, chuyển hoá linh hoạt, bảo tồn lực lượng, phòng tránh đánh trả kịp thời, có trọng điểm đòn tiến công hoả lực, tác chiến điện tử của địch.

Khi chiến tranh nổ ra, thế trận chiến tranh nhân dân được chuyển hoá, phát triển từ thế trận quốc phòng toàn dân đã có từ thời bình, thế trận đó phải được giữ vững, phát huy để tiến hành các hoạt động tác chiến. Các hoạt động tác chiến chỉ có thể diễn ra một cách hiệu quả khi thế trận chiến tranh nhân dân được giữ vững, lực lượng được bảo toàn. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) là cuộc chiến tranh trong điều kiện hiện đại, phải đánh trả lại cuộc tiến công xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của địch, nên ngay từ đầu sẽ rất quyết liệt, phức tạp. Địch sẽ đánh ta từ nhiều hướng, bằng lực lượng và thủ đoạn rất đa dạng. Chính vì vậy, ta phải có thế trận vững chắc, chuyển hoá linh hoạt, giữ ổn định tình hình trước mọi tình huống và đánh địch kịp thời, có hiệu quả.

Trong tác chiến hiện đại, tiến công hoả lực và tác chiến điện tử được coi là một trong những biện pháp tác chiến chủ yếu của địch ở phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Do vậy, phòng tránh có hiệu quả, đánh trả kịp thời có trọng điểm đòn tiến công hoả lực, tác chiến điện tử của địch là nội dung có ý nghĩa chi phối trong toàn bộ hoạt động tác chiến.

Theo thượng tướng, giáo sư Hoàng Minh Thảo: Thế trận chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là một điển hình về thế trận có tính vững chắc và cơ động cao. Đó là một thế trận liên hoàn cả ba vùng từ bắc vào nam của lực lượng tại chỗ (lực lượng vũ trang và chính trị) kết hợp với các binh đoàn chủ lực cơ động và đội dự bị chiến lược mạnh đứng chân trên các hướng chiến lược trọng yếu, được tổ chức và chuẩn bị chu đáo. Thế trận đó cho phép vừa đánh địch trên diện rộng, vừa tập trung được vào trọng điểm, có thể mở những chiến dịch tiến công vào những khu vực quan trọng nhất, có thể hình thành thế kìm hãm chia cắt, bao vây chiến lược, chiến dịch, đồng thời có thể cơ động lực lượng kịp thời, chớp thời cơ đột biến, phát triển tiến công vào tận sào huyệt cuối cùng của địch.

2. Phát huy sức mạnh các lực lượng tại chỗ, chủ động đánh địch rộng khắp, sát thương, tiêu hao nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch.

Nội dung phương thức này thể hiện đặc trưng nhất cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện-là một trong những điểm cốt lõi về phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân. Lực lượng tại chỗ là lực lượng đánh địch kịp thời, rộng khắp-là huy động lực lượng toàn dân đánh giặc mà nòng cốt là lực lượng vũ trang ba thứ quân, trong đó chủ yếu là lực lượng vũ trang địa phương. Các thế lực hiếu chiến gây chiến tranh ngày càng chú trọng lấy vũ khí, trang bị kỹ thuật thay cho vai trò của con người, nhằm hạn chế thương vong trên chiến trường; cho nên, tiêu hao sinh lực địch là đánh vào điểm yếu cốt tử của chúng. Các lực lượng tại chỗ với cách đánh linh hoạt (chủ yếu là lối đánh du kích) cho phép bám sát, cài xen để diệt sinh lực, phương tiện địch với hiệu suất cao và có thể đánh địch thường xuyên, liên tục ở khắp nơi.

Trong Đại thắng mùa Xuân 1975, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương (lực lượng tại chỗ) có ý nghĩa chiến lược góp phần cùng lực lượng chủ lực giành thắng lợi hoàn toàn. Lực lượng vũ trang địa phương đánh địch khắp nơi, tiêu diệt làm tan rã nhiều đơn vị địch; bức hàng bức rút nhiều đồn bốt, đánh phá giao thông, đập tan bộ máy kìm kẹp ở cơ sở, trực tiếp hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở địa phương. Nhiều nơi, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương đập tan lực lượng vũ trang và chính quyền tại chỗ của địch, nhanh chóng xây dựng chính quyền cách mạng, hỗ trợ bộ đội chủ lực tác chiến.

3. Nắm chắc thời cơ, kiên quyết tiến hành các đòn tác chiến có tính quyết định, có trọng điểm của các binh đoàn chủ lực, thực hiện tiêu diện lớn, đánh bại địch trên các hướng chiến lược.

Có thể khẳng định: cuộc tiến công xâm lược của địch chỉ có thể bị đánh bại khi ta thực hiện các đòn tác chiến chiến lược có tính quyết định (chiến dịch Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp, chiến dịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ). Trong điều kiện hiện nay, sử dụng các binh đoàn chủ lực để thực hiện các đòn đánh lớn (chiến dịch-chiến lược, chiến dịch quyết chiến chiến lược) là rất khó khăn, nhưng phải tạo, nắm thời cơ và kiên quyết tiến hành. Chỉ có như vậy, mới tiêu diệt được bộ phận quan trọng lực lượng chiến lược của địch, từ đó mới đánh bại được các biện pháp tác chiến chiến lược của chúng, tạo ra sự chuyển hoá về chiến lược hoặc kết thúc chiến tranh. Tác chiến của các binh đoàn chủ lực phải được chuẩn bị kỹ, tiến hành trên các hướng chiến lược trọng điểm.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là đỉnh cao của nghệ thuật nắm thời cơ và thực hiện các đòn đánh có tính quyết định. Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng trận đột phá chiến lược vào Buôn Ma Thuột, tiêu diệt tập đoàn phòng ngự quan trọng của địch ở chiến trường miền Trung-Tây Nguyên, tạo nên sự chuyển hoá đột biến, dẫn đến sự tan rã và sụp đổ về chiến lược của địch. Chiến dịch Huế-Đà Nẵng với sự tham gia của Quân đoàn 2 (binh đoàn chủ lực mạnh) cùng với Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5 là chiến dịch của thời cơ, có ý nghĩa chiến lược, quét sạch quân địch ở vùng ven biển miền Trung; cùng với chiến dịch Tây Nguyên làm thay đổi hẳn tương quan so sánh lực lượng có lợi cho ta, làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, tạo ra thời cơ chiến lược vô cùng quan trọng để đánh đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng. Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tập trung sức mạnh của cả nước đánh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, tạo điều kiện quyết định để quân và dân các tỉnh đồng bằng Nam Bộ đồng loạt tiến công, nổi dậy giành chính quyền và kết thúc chiến tranh.

4. Tiến hành triệt để các biện pháp chia cắt, đánh phá hậu phương địch và chống chia cắt chiến lược, bao vây phong toả của địch.

Chia cắt trong nghệ thuật quân sự là để “căng địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt”. Biện pháp tác chiến này nhằm chia cắt, cô lập quân địch làm cho chúng lực lượng đông mà bị phân tán, kìm giữ; ta có điều kiện tập trung lực lượng đánh vào nơi và lúc có lợi bằng những đòn quan trọng, quyết định.

Đánh phá hậu phương địch trong tác chiến chiến lược ở điều kiện hiện nay có nhiều khó khăn, nhưng phải nỗ lực thực hiện. Hậu phương địch có thể gồm: hậu phương chiến tranh, chiến lược, chiến dịch. Căn cứ vào điều kiện thực tế và khả năng của ta, vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo của các lực lượng làm cho hậu phương của địch luôn mất ổn định.

Đặc điểm địa lý của nước ta dễ bị địch chia cắt chiến lược. Vấn đề đặt ra là, ta phải tổ chức thế trận chiến trường tác chiến, bố trí lực lượng (các tập đoàn, cụm lực lượng chiến lược, các tập đoàn chiến dịch) thế nào để hoạt động tác chiến được linh hoạt, có điều kiện tập trung được sức mạnh khi cần thiết, không để địch chia cắt phá thế chiến lược và làm phân tán lực lượng ta.

Đại thắng mùa Xuân 1975, ta đã thực hiện rất thành công đòn chia cắt trong tác chiến chiến lược khi địch tập trung mạnh hai đầu phía Bắc và Nam của chiến trường miền Nam, ta tiến hành chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi tạo nên sự chia cắt hoàn toàn về mặt chiến lược đối với quân địch. Trong chiến dịch này, ta cũng thành công trong chia cắt chiến dịch, “trói” địch ở Buôn Ma Thuột để tiêu diệt, bằng cắt đứt đường bộ giữa bắc và nam Tây Nguyên, giữa Tây Nguyên với đồng bằng ven biển miền Trung. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, với cách đánh đồng thời từ 5 hướng tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch, vừa chia cắt bên ngoài với bên trong thành phố, vừa loại bỏ hoàn toàn khả năng co cụm của địch ở Sài Gòn và chiến trường Tây Nam Bộ.

5. Kiên quyết đập tan nhanh, gọn các hoạt động bạo loạn bên trong của các lực lượng phản động. Kết hợp chặt chẽ tác chiến và các mặt đấu tranh.

Cuộc chiến tranh xâm lược của địch (nếu xảy ra) sẽ có sự phối hợp hoạt động bạo loạn bên trong của các lực lượng phản động, vì chúng rất coi trọng lực lượng phản động bên trong-lực lượng quan trọng, hỗ trợ nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Do đó, kiên quyết đập tan nhanh, gọn các hoạt động bạo loạn, tiêu diệt triệt để các lực lượng phản động bên trong là chặt đứt một hướng chiến lược của địch; tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng tác chiến chiến lược của chúng. Xử lý bạo loạn của lực lượng phản động bên trong càng nhanh, gọn bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với hoạt động đấu tranh chính trị, ngoại giao để phân hoá kẻ thù. Đây là truyền thống trong nghệ thuật đấu tranh cách mạng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự của ta. Sự kết hợp đó tạo nên sức mạnh tổng hợp cho hoạt động tác chiến chiến lược ở hướng, mục tiêu chiến lược.

Trong Đại thắng Mùa xuân 1975, kết hợp giữa tác chiến với đấu tranh chính trị được tiến hành rất thành công. Thành công đó là sự kết hợp đòn tiến công quân sự và đòn đấu tranh chính trị, nổi dậy giành chính quyền của lực lượng quần chúng nhân dân; là sự kết hợp giữa đòn quân sự và binh địch vận; là sự kết hợp giữa đòn quân sự và đấu tranh ngoại giao để làm phá sản mưu đồ của các thế lực thù địch muốn níu kéo, chia sẻ quyền lực, dựng lên một chính quyền mới tại miền Nam mới giải phóng, phục vụ cho âm mưu tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam của chúng…

Đại thắng Mùa xuân 1975, ngoài việc đưa đến thắng lợi trọn vẹn của cuộc chiến tranh giải phóng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN luôn kế thừa, phát huy và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm, truyền thống đánh giặc của cha ông, trong đó có phương thức tác chiến chiến lược trong Đại thắng mùa Xuân 1975, đưa cách mạng nước ta tiến lên theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Đại tá, PGS TS Nguyễn Thanh Sơn
Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam

quocphonganninh.edu.vn