Chiến thắng mùa xuân 1975: Bản hùng ca không thể nào quên

(VnMedia)Sống giữa những bận rộn cuộc sống hàng ngày, nghe đâu đó một bài ca Cách mạng, mà đặc biệt là “Bài ca không quên”, tôi thấy thêm yêu mến những gì mình có, quý trọng những phút giây bình yên của cuộc sống để mà tiếp tục làm việc và biết cho đi nhiều hơn…

Chiến tranh! Nhắc đến từ đó người ta thường nói đến một quá khứ hào hùng trong lịch sử Việt Nam. Vì thế cũng có thể đơn giản hiểu tại sao cho tới bây giờ, nhiều người trên thế giới này mỗi khi nói đến “Việt Nam” lại nghĩ ngay đến “chiến tranh” – điều đó khiến bạn, một người Việt Nam thấy như thế nào: buồn hay tự hào? Tôi cũng từng được một người đặt ra cho mình câu hỏi đó…

Rất nhiều sách báo đã nói về một Việt Nam ghi dấu ấn trong lòng bè bạn thế giới là một Việt Nam anh hùng. Với mấy nghìn năm lịch sử dựng nước cũng là từng ấy thời gian dân tộc Việt Nam chống giặc giữ nước. Một lịch sử quá đậm nét sử thi từ thời các Hùng Vương cho tới khi giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Làm sao không nhắc đến chiến tranh cho được khi chính ở trong đó, người Việt Nam đã có nhiều bài học sâu sắc, trưởng thành và vững vàng cho đến ngày nay. Phải thế chăng mà người Việt sẽ còn nhắc mãi và không bao giờ quên niềm tự hào về những vết thương chiến tích còn sạm đen trên thân thể đất Việt.

Niềm tự hào ấy, lời nhắc nhở ấy đậm sâu được miêu tả rất nhiều lần trong thơ ca và những bài hát đi cùng năm tháng. Một trong số những tác phẩm đó có thể nói đến Bài ca không quên của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn. Nhạc phẩm này xuất hiện lần đầu tiên năm 1981 trong bộ phim cùng tên với sự thể hiện qua tiếng hát ca sĩ Cẩm Vân. Cũng kể từ đó, theo lời nghệ sĩ Cẩm Vân – ” Bài ca không quên không còn là của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn hay ca sĩ Cẩm Vân mà đã trở thành tác phẩm của công chúng” …

Chỉ riêng tựa đề của bài hát đã nói lên khá nhiều điều khiến ai cũng phải suy nghĩ. Đặc biệt khi nói đến nền độc lập và thái bình tự do tại Việt Nam thì không thể không tỏ lòng biết ơn đến những chiến công và sự hi sinh quên mình không chỉ của những chiến sĩ, đồng bào, những lãnh tụ sáng suốt mà còn của chính người mẹ lớn: Việt Nam – Đất nước đã sinh ra tâm hồn yêu nước thương nòi tha thiết, truyền thống dựng xây chung tay đoàn kết, tinh thần chiến đấu chiến thắng kiên trung và những tình cảm dạt dào niềm tin một ngày mai tươi sáng…

“Bài ca không quên” đặc biệt được yêu thích hơn 20 năm nay bởi chính sự giản dị trong ca từ, những giai điệu nhẹ nhàng da diết chất chứa trong đó lòng biết ơn và mong muốn đền đáp công ơn và sự hi sinh không vụ lợi. Tràn ngập trong bài hát là những hình ảnh rất đỗi bình dị như “lời mẹ ru con đêm đêm”, “những tháng ngày hành quân vất vả”, “đất rừng xứ lạ” .. nhưng cũng đẹp lạ lùng mà lại khiến người ta phải dừng lại nghĩ suy, một chút lòng thương và day dứt.

Ấy là người mẹ hậu phương trông ngóng tin con nơi chiến trường mà bạc tóc thời gian; là khi người chiến sĩ cả đêm trăng đứng gác mà vẫn ôm súng ngắm sao khuya; là bước đường hành quân đói lả nhưng điếu thuốc vẫn chia đôi, dù rừng lạnh sương giăng dồn bước hành quân trong cơn sốt rét vẫn gửi trọn niềm tin vào ngày độc lập; là chỉ một lần quen người em gái chống xuông vượt qua pháo nổ mà nên lời yêu không nói…

Ảnh minh họaCó thể nói ca sỹ Cẩm Vân là người thể hiện thành công nhất ca khúc này

Vẻ đẹp lãng mạn và sự bi tráng trong nhạc phẩm không những vẽ lên bằng hình ảnh về một quãng thời gian hào hùng của lịch sử, mà từ đó thêm nhắc nhở ý thức trách nhiệm về cuộc sống hiện tại của mỗi người, sống sao cho xứng đáng với những gian khổ và hi sinh của bao người đã giành độc lập cho Tổ quốc. Trong thời điểm hiện tại, điệp khúc cuối của bài hát vẫn như còn vang vọng mãi về những công ơn ấy:

Nhưng giờ đây có giây phút bình yên
Sao tôi quên
Có giây phút bình yên sao tôi quên sao tôi quên
Bài ca tôi đã hát
Bài ca tôi đã hát với em yêu , với đồng đội với cả lòng mình
Tôi không thể nào quên
Tôi không thể nào quên.

Bài ca không quên gắn liền với tên tuổi của ca sĩ Cẩm Vân từ thập niên 80, cho đến nay thì với chặng đường âm nhạc khá lâu bền, tác phẩm này cũng xuất hiện trong album cùng tên được phát hành thời gian qua. Với 8 ca khúc quen thuộc của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn: Bài ca không quên, Lối nhỏ vào đời, Thành phố tình yêu và nỗi nhớ, Đất nước, Khát vọng, Mùa xuân, Rừng gọi, Sao biển, tập hợp trong album “Bài ca không quên” – một album mà giọng hát không mới, hòa âm không mới, bài hát không mới nhưng đó dường như là sự thủy chung, là sự thương nhớ, là ký ức ngày xưa của chị dành cho những người yêu mến chị.

Sống giữa những bận rộn cuộc sống hàng ngày, nghe đâu đó một bài ca Cách mạng, mà đặc biệt là “Bài ca không quên”, tôi thấy thêm yêu mến những gì mình có, quý trọng những phút giây bình yên của cuộc sống để mà tiếp tục làm việc và biết cho đi nhiều hơn…

Có một lần, khi nói chuyện với một người bạn người Mỹ, người đó cũng đã hỏi tôi “Người ta nhắc đến Việt Nam thì không hay nói đến thành viên WTO hay thành viên dự bị Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, mà nhắc đến một Việt Nam đang phát triển hay thậm chí còn trong chiến tranh. Cậu thấy sao?” Và tôi đã trả lời rằng: tôi tự hào về quãng thời gian làm nên một Việt Nam lịch sử, chiến tranh đã qua đi và bây giờ tôi tưởng nhớ nó để thấy Việt Nam đã lớn lên rất nhiều, điều đó quan trọng hơn và làm thay đổi ấn tượng của mọi người về Việt Nam. Đó là “Bài ca không quên” trong trái tim tôi…

Nghe ca khúc “Bài ca không quên” do ca sỹ Cẩm Vân trình bày:

Gia Hoàng

vnmedia.vn

Giải phóng hoàn toàn tỉnh Ninh Thuận

Sau những thất bại nặng nề từ đầu tháng 3/1975, tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu đã đưa lữ đoàn lính nhảy dù số 2, liên đoàn quân biệt động số 31 và thu thập số tàn quân của các đơn vị đã bị đánh tan tác ở vùng quân khu 1, huy động lực lượng không quân và hải quân tổ chức tuyến phòng ngự đặt dưới sự chỉ huy của bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 nguỵ ở tỉnh Ninh Thuận và thị xã Phan Rang, hòng cố thủ và ngăn chặn bước tiến mạnh mẽ của quân giải phóng.

Phối hợp chặt chẽ với quân và dân trên toàn miền Nam, thừa thắng, ngày 16/4, các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Ninh Thuận đã từ nhiều hướng đánh thẳng vào hướng phòng ngự của địch ở khu vực thị xã Phan Rang, sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3, bộ tư lệnh sư đoàn không quân số 6, các bộ tư lệnh quân biệt động, lữ đoàn lính nhảy dù ngụy số 2 và những đơn vị vừa tập họp lại, trận địa pháo và các cụm xe tăng, xe bọc thép của địch.

Đồng bào thị xã Phan Rang đã nổi dậy phối hợp cùng quân giải phóng nhanh chóng đập tan bộ máy kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ.

Đúng 7 giờ sáng ngày 16/4/1975, thị xã Phan Rang đã hoàn toàn giải phóng.

Tiếp đó quân giải phóng đã nhanh chóng tiến công địch ở sân bay Thành Sơn (cách thị xã Phan Rang 12 km về phía Tây Bắc), tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân địch ở đây.

Đến 10 giờ sáng ngày 16/4/1975, quân giải phóng đã làm chủ sân bay Thành Sơn. Toàn bộ tỉnh Ninh Thuận đã được hoàn toàn giải phóng. Hơn 30 vạn đồng bào tỉnh Ninh Thuận và thị xã Phan Thiết đã giành quyền làm chủ. Hàng ngàn binh lính sĩ quan, cảnh sát, nhân viên nguỵ quyền nghe theo lời kêu gọi của cách mạng đã mang vũ khí trở về với nhân dân.

(Theo Cổng thông tin điện tử Ninh Thuận)

Giải phóng thị xã Phan Thiết và toàn tỉnh Bình Thuận

Những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng năm 1975, trước khí thế cách mạng hừng hực tiến công, tinh thần quần chúng sôi động hẳn lên. Tin chiến thắng từ khắp nơi dội về cổ vũ quân dân ta.

Chớp thời cơ thuận lợi với tinh thần chủ động, ngày 4/4/1975, Tỉnh ủy Bình Thuận hạ quyết tâm: Giải phóng Ma Lâm (chi khu quận lị Thiện Giáo), và các ấp dọc đường 8, quốc lộ 1A, áp sát Phan Thiết; sau đó sẽ phối hợp với đại quân giải phóng Phan Thiết và toàn tỉnh.

Đêm mùng 7 rạng ngày 8/4/1975, các lực lượng của ta đánh vào chi khu Thiện Giáo. Mặc dù địch chống trả quyết liệt nhưng đến khoảng 20 giờ cùng ngày quân ta đã làm chủ vào giải phóng hoàn toàn quận lị này. Sau khi Ban chỉ huy quân giải phóng Bình Thuận được thành lập (ngày 9/4), quân ta chia làm 2 cánh tiến đánh giải phóng đường 8 và đoạn quốc lộ 1A (phía Bắc Phan Thiết).

Ngày 14/4/1975, phối hợp với đại quân, quân dân các huyện phía Bắc chủ động tiến công và nổi dậy, giải phóng Tuy Phong, Hòa Đa, Phan Lý, Hải Ninh. Bọn địch ở đồn Cây Táo rút chạy trước ngày 17/4 và bọn địch ở Tà Zôn (Thuận Phong) cũng phải tháo chạy.

Khoảng 20 giờ ngày 18/4, Lữ đoàn 203 của Quân đoàn 2 và lực lượng tại chỗ đã vượt qua cầu Phú Long tiến vào Phan Thiết. Suốt ngày 18/4, Bộ chỉ huy Quân giải phóng Bình Thuận cho pháo 105, ĐKB, H12 pháo kích mạnh mẽ vào tiểu khu Bình Thuận, Căng Ê-xê-pic, Lầu Ông Hoàng gây sát thương cho địch, tạo ra nhiều đám cháy nổ lớn, khiến cho địch phải hoang mang rối loạn; góp phần tích cực cho đại quân tiến vào Phan Thiết. Đến 2 giờ ngày 19/4, quân ta làm chủ hoàn toàn tỉnh lỵ Phan Thiết. 9 giờ sáng hôm ấy, Ủy ban Quân quản tỉnh Bình Thuận vào tiếp quản Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận được giải phóng (trừ đảo Phú Quý).

Cùng thời gian trên, quân dân tỉnh Bình Tuy cũng nhất loạt chủ động tấn công địch. Trên đường tiến quân vào Sài Gòn, để hỗ trợ cho địa phương, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã để lại một bộ phận giúp lực lượng Quân khu 6 và tỉnh Bình Tuy tiến công giải phóng La Gi.

Không thể chống cự nổi sức tấn công của bộ đội Bình Tuy, bọn địch ở Láng Gòn bỏ chạy từ 20/4. Khoảng 20 giờ ngày 22/4, đại quân ta tiến thẳng vào tiểu khu Bình Tuy và làm chủ ngay trong đêm đó. Sáng 23/4, tỉnh Bình Tuy hoàn toàn được giải phóng.

Trong lúc quân chủ lực tiêu diệt những nơi đầu não, then chốt của địch, thì bộ đội địa phương, đội công tác, dân quân du kích và cơ sở đoàn thể tại chỗ khẩn trương phát động nhân dân nổi dậy kêu gọi tề ngụy đầu hàng. Đến 27/4, với sự hỗ trợ của hải quân và đặc công của Bộ, đảo Phú Quý cũng được giải phóng.

Trải qua nhiều ngày đêm chiến đấu anh dũng, liên tục tiến công và nổi dậy, quân và dân 2 tỉnh Bình Thuận, Bình Tuy đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang giải phóng quê hương. Góp phần cùng quân dân cả nước làm nên mùa Xuân đại thắng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc cuộc trường chinh hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược. Bình Thuận xứng đáng và tự hào với 12 chữ vàng mà Trung ương Cục miền Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phong tặng: “ Tự lực, tự cường, chiến đấu oanh liệt, thắng lợi vẻ vang”.

(Theo Bình Thuận Online)

Họp bàn Tổng tấn công

Ngày 22/4/1975, tại Hà Nội, Bộ Chính trị triệu tập họp khẩn cấp để hội ý về sự phát triển của tình hình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam và đề ra chủ trương, phương châm lãnh đạo trong những ngày sắp tới. Ngay sau khi cuộc họp kết thúc, 15 giờ 30 phút, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn điện gửi các đồng chí Văn Tiến Dũng, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng và Lê Trọng Tấn, nêu rõ những nhận định và phân tích đánh giá của Bộ Chính trị, rằng “Tiếp theo những thất bại dồn dập, gần đây địch lại mất Phan Rang và buộc phải rút khỏi Xuân Lộc.

Chúng không những đã phát hiện lực lượng lớn của ta ở cánh ven biển hướng đông, mà còn phát hiện lực lượng lớn của ta ở hướng lộ 4 và tây – nam Sài Gòn, phần nào phát hiện lực lượng lớn của ta ở hướng bắc. Trước nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt, chúng đã vội vã điều chỉnh bố trí lực lượng. Thế bố trí mới không thể hiện rõ ý đồ cố thủ Sài Gòn, mà để lộ ý định giữ cho được hành lang đường số 4 từ Sài Gòn đến Cần Thơ… Ðể làm chậm cuộc tiến công của ta vào Sài Gòn, Mỹ – ngụy đã lập chính phủ mới, đưa ra với ta đề nghị ngừng bắn, đi đến một giải pháp chính trị, hòng cứu vãn tình thế thất bại hoàn toàn của chúng”(1). Ðiều đó cho thấy, kẻ địch của chúng ta đang hết sức hoang mang, rối loạn, lâm vào bước đường cùng, tìm mọi cơ hội có thể để nhằm cứu vãn sự sụp đổ hoàn toàn biết chắc là không tránh khỏi đang đến gần.

Từ những phân tích, đánh giá khoa học đó, Bộ Chính trị khẳng định “Thời cơ để mở cuộc tổng tiến công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi”(2). Do đó, quân và dân ta trên chiến trường miền nam cần phải nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, nỗ lực cao độ “tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công”. Bởi vì, “hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu để chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị”(3). Bộ Chính trị chỉ thị: “Ra mệnh lệnh ngay cho các hướng hành động kịp thời, đồng thời chỉ thị cho Khu ủy Sài Gòn – Gia Ðịnh sẵn sàng phát động quần chúng nổi dậy kết hợp với các cuộc tiến công của quân đội. Sự hợp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động”(4).

Cùng ngày, Quân ủy Trung ương điện cho đồng chí Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, nêu rõ: Ðịch trì hoãn để tìm cách đề nghị ngừng bắn, kéo dài sang mùa mưa… Sài Gòn không giữ nổi thì chúng rút về đồng bằng sông Cửu Long, lấy Cần Thơ làm trung tâm… Do đó, lệnh cho cánh quân hướng tây nam và đường số 4 sẵn sàng ngăn chặn, tiêu diệt địch trong tình huống chúng rút từ Sài Gòn về Cần Thơ.

Chấp hành sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, các cánh quân tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh của ta gấp rút làm công tác chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Tại sở chỉ huy cánh đông, sau khi nhận nhiệm vụ tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh do phái viên của Bộ Tư lệnh chiến dịch truyền đạt, ngay trong đêm 22/4, Ðảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã triệu tập họp khẩn cấp để kịp thời nghiên cứu, quán triệt nhiệm vụ được giao và xây dựng kế hoạch tác chiến của Quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Cũng trong ngày 22/4, Kế hoạch tiến công Sài Gòn-Gia Ðịnh được Ðảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức thông qua và phê duyệt lần cuối cùng với tư tưởng chỉ đạo bảo đảm chắc thắng; chú trọng những trận đánh quan trọng vòng ngoài; không cho địch co cụm về Sài Gòn; tổ chức các mũi thọc sâu đủ mạnh đánh thẳng vào các mục tiêu đầu não, nhanh chóng kết thúc chiến tranh… Các đồng chí Hoàng Cầm và Hoàng Thế Thiện, Tư lệnh và Chính ủy Quân đoàn 4, tới Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh báo cáo tình hình và thông qua quyết tâm với các đồng chí Phó Tư lệnh chiến dịch Lê Trọng Tấn và Phó Chính ủy chiến dịch Lê Quang Hòa.

Với quyết tâm giành thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tập trung binh lực lớn lên tới 270 nghìn quân (trong đó 250 nghìn bộ đội chủ lực, 20 nghìn bộ đội địa phương) và 180 nghìn lực lượng bảo đảm hậu cần chiến dịch).

Như vậy, trên cơ sở nắm bắt tình hình chiến sự kịp thời, Bộ Chính trị đã sáng suốt đề ra quyết tâm chiến lược chỉ đạo quân và dân ta tranh thủ thời gian quý báu từng giờ, tích cực chuẩn bị lực lượng áp đảo, chính thức mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường miền Nam.

——————————————-

(1), (2), (3), (4): Ðảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Ðảng toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004, tr 166-167.

(Theo Nhân dân)

Bắt đầu “Chiến dịch Hồ Chí Minh”

Ngày 1/4/1975 chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”. Ngày 14/4/1975 Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của bộ chỉ huy chiến dịch đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, phương án chiến dịch được thông qua lần cuối. Ta huy động vào chiến dịch này một lực lượng lớn hơn bất cứ chiến dịch nào trước đây, bao gồm cả lực lượng vũ trang và chính trị.

Bộ Chính trị điện cho Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh: “Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi… Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc thắng nhất để giành thắng lợi hoàn toàn”. 17 giờ ngày 26/4/1975 cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, các mục tiêu tấn công ngập chìm trong bão lửa. Mỹ vội vàng mở chiến dịch “người liều mạng” để di tản. Các tướng tá quân đội Sài Gòn từ các sư đoàn bị đánh tơi tả, kẻ bị bắt, kẻ đầu hàng, kẻ tự sát, kẻ cởi quân phục lẩn trốn vào đám tàn quân. Tổng thống ngụy muốn xin “bàn giao chính quyền”, các đại diện Mỹ, Pháp tìm kế hoãn binh… Nhưng tất cả đã không thể ngăn cản được sức tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng trong “trận đánh cuối cùng” để kết thúc chiến tranh 30 năm.

Năm Quân đoàn chủ lực hùng mạnh phối hợp nhịp nhàng cùng lực lượng 3 thứ quân tại chỗ và sức mạnh nổi dậy của quần chúng trên tất cả các hướng chiến dịch đều hừng hực khí thế xung trận, quyết chiến quyết thắng.

Ở hướng Đông, Quân đoàn 4 đánh chiếm Chi khu quân sự Trảng Bom. Quân đoàn 2 đánh chiếm Chi khu quân sự Long Thành, Trường sĩ quan thiết giáp ngụy ở căn cứ Nước Trong…, phát triển theo hướng Biên Hòa, Nhơn Trạch. Đặc công, biệt động Miền thọc sâu đánh chiếm và giữ các cầu trên sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, bảo đảm cho đại quân tiến vào Sài Gòn. Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đánh chiếm phía Nam Bà Rịa, phát triển theo hướng thành phố Vũng Tàu. Bộ đội địa phương, dân quân du kích Bà Rịa đánh chiếm các đồn bót, quận lỵ, chi khu giải phóng phần lớn tỉnh. Pháo binh tầm xa của ta ở Hiếu Liêm đánh tê liệt sân bay Biên Hòa, buộc địch phải di tản máy bay về Tân Sơn Nhất.

Ở hướng Tây Nam, lực lượng của Quân khu 8 cắt đường số 4 (nay là quốc lộ 1B), hai trung đoàn chủ lực của Quân khu tiến nhanh vào phía Nam quận 8 Sài Gòn. Đoàn 232 (tương đương Quân đoàn), sử dụng một sư đoàn mở đầu cầu trên sông Vàm Cỏ Đông ở An Ninh, Lộc Giang cho sư đoàn 9 binh khí kỹ thuật vượt sông hướng vào nội đô.

Ở hướng Bắc, Quân đoàn 1 thọc sâu tiến công quân địch đứng chân phía Bắc Thủ Dầu Một. Ở hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 tiến công cắt đứt đường số 1 và 22, chặn các trung đoàn của sư đoàn 25 ngụy từ Tây Ninh về căn cứ Đồng Dù. Trung đoàn Gia Định đánh chiếm làm chủ con đường vành đai Sài Gòn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre, mở cửa phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất, chuẩn bị cho các binh đoàn chủ lực tiến công.

Tính từ chiều 26/4 đến ngày 28/4 ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài và siết chặt vòng vây chung quanh Sài Gòn.

(Theo KTĐT)

Cờ giải phóng bay trên đỉnh Nhà Tròn – Bà Rịa

Ngày 27/4/1975 quân và dân ta nổi dậy tiến công giải phóng TX. Bà Rịa

17 giờ ngày 26/4/1975, trọng pháo của Sư đoàn Sao Vàng đồng loạt nổ súng vào tỉnh đoàn bảo an, khu tiếp liệu, tiểu khu Bà Rịa, Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp. Đại đội 4 xe tăng xuất kích từ hướng Núi Dinh cùng Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 141 theo sự hướng dẫn của đội biệt động thị xã tiến dọc đường Lê Lợi vào Bà Rịa.

Sáng ngày 27/4, đội hình Tiểu đoàn 7 tiếp tục đánh vào khu tiếp liệu, khu an ninh, Ty cảnh sát và Sở chỉ huy Liên đoàn bảo an. 6 giờ sáng, ta chiếm toà hành chính rồi phát triển lực lượng ra hướng Cầu Mới, Ty chiêu hồi. Một mũi đánh ngược lên hướng Lộ 2, điểm nhà đá Cây Cầy. Trưa 27/4, ta làm chủ đoàn bảo an. Các cụm pháo Ông Trịnh, Láng Cát trên lộ 15 lần lượt rút chạy.

Ở phía Tây, Tiểu đoàn 9 đánh chiếm khu vực Núi Dinh, tiến vào thị xã Bà Rịa. Khẩu đội ĐKZ của Tiểu đoàn liên tiếp bắn cháy 2 xe tăng, buộc địch phải rút chạy. Trong khi đó, ở phía Đông, Tiểu đoàn 8 tiến công Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp, tình hình chiến sự phát triển thuận lợi. Đại đội 4 xe tăng cùng Tiểu đoàn 9 đánh xuống cầu Cỏ May, chuẩn bị tiến về giải phóng Vũng Tàu.

Tại Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp, bọn tân binh cùng bọn tàn binh tổ chức phòng thủ, ngoan cố chống trả. Tiểu đoàn 8 tổ chức tấn công quyết định. 15 giờ ta đập tan ổ kháng cự này. Ủy ban quân quản thị xã Bà Rịa thành lập lúc 18 giờ cùng ngày. Cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh lầu nước (Nhà Tròn) và khắp các đường phố của thị xã Bà Rịa.

Huyện giải phóng huyện, Xã giải phóng xã

Thực hiện phương châm tiến công và nổi dậy nói trên, sáng ngày 27/4/1975, khi lực lượng vũ trang Xuyên Mộc bao vây, áp sát chi khu, địch tháo chạy hỗn loạn về Bà Rịa và Vũng Tàu. Trưa ngày 27/4, Xuyên Mộc được giải phóng.

Tại Long Điền, C25 bộ đội huyện Long Đất cùng 15 du kích phối hợp với Tiểu đoàn 445 đánh vào Long Điền. 9 giờ sáng ngày 27/4, đồng chí Phạm Văn Quán, cơ sở mật tại Long Điền đã cắm cờ Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam lên nóc chi khu quân sự địch. Sau khi làm chủ Long Điền, Tiểu đoàn 445 bố trí hai đại đội chốt ở ngã ba Long Điền, đánh tan các toán quân địch từ Bà Rịa và Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp chạy về, bảo vệ cho Sư đoàn Sao Vàng phát triển lực lượng về hướng Long Hải và Vũng Tàu.

Tại Đất Đỏ, trưa 27/4, đại đội du kích liên xã Long Tân – Phước Thạnh – Phước Thọ – Phước Hoà Long vừa được thành lập, phối hợp với đại đội 25 của huyện Long Đất tiến công Đất Đỏ, địch tan rã, bỏ súng, bỏ đồn chạy thoát thân. Các xã Phước Thạnh, Phước Thọ, Phước Hoà Long được giải phóng lúc 12 giờ 30 phút ngày 27/4/1975.

Lực lượng chính trị huyện và các chi bộ xã vận động quần chúng xuống đường thu chiến lợi phẩm, tước vũ khí, 16 giờ cùng ngày, xã Phước Lợi được giải phóng. C25 bộ đội Long Đất tiến về Long Hải chặn toàn bộ số tàn quân địch, huyện Long Đất được giải phóng hoàn toàn. Chiều 28/4/1975, ngư dân Phước Tỉnh được lệnh đưa bộ đội qua sông, giải phóng Vũng Tàu.

Trưa 27/4/1975, xã Mỹ Xuân được giải phóng. Được sự chỉ đạo của huyện, xã Phước Hoà tổ chức hai cánh quân giải phóng ấp Lam Sơn và khu trung tâm xã, sau đó tiếp tục bung ra chiếm lĩnh, kiểm soát các ấp còn lại. Chính quyền cách mạng lâm thời xã Phước Hoà được thành lập lúc 12 giờ ngày 27/4/1975.

(tổng hợp)

Cuộc hành quân thần tốc, diệu kỳ

(VnMedia) Ngày 27/3/1975, đại tướng Văn Tiến Dũng đã lệnh cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng kết thúc chiến dịch ở đây và cơ động về phía Sài Gòn. Sau khi kết thúc chiến dịch Tây Nguyên, Bộ tư lệnh chiến dịch lại phải giải 1 bài toán nan giải là ngày 25/4 phải tập kết tại Củ Chi. Từ đó 1 cuộc hành quân thần tốc, diệu kì đã diễn ra.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước

Cuộc hành quân “đa phương tiện”

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, lúc đó đang là Tham mưu trưởng chiến dịch Tây Nguyên thực sự lo lắng trước mệnh lệnh của cấp trên. Khoảng cách không phải là vấn đề duy nhất. Các sư đoàn còn rải ra chiến đấu ở nhiều điểm khác nhau. Có những điểm cách Sài Gòn đến 600 cây số. Vừa phải thu quân, vừa bổ sung quân số, trong khi đó thương binh ở những trận đánh trước đó cũng rất nhiều. Việc truyền lệnh đến các nơi cũng gặp những thách thức khi nhiều nơi không có đường dây điện thoại, sóng điện đàm.

Khó khăn vẫn chưa dừng lại ở đó. Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên còn phải đối chọi với vấn đề phương tiện, vũ khí. Quan trọng nhất trong hoạt động hành quân là vấn đề phương tiện. Quân đoàn chỉ đảm bảo được phương tiện cho 2/3 quân số. Những người còn lại phải tự lo lấy phương tiện đi lại của mình.

Trước tình hình đó, Tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước đã tương kế tựu kế. Cứ đơn vị nào mà nhận được lệnh thì lập tức hành quân ngay. Và cuộc hành quân thần tốc, diệu kỳ đã diễn ra.

Không có phương tiện, bộ đội ta đã chủ trương nhờ đến sự giúp đỡ của dân. Từ xe máy, xe đạp, xe lam, xe đò…, tất cả những phương tiện có thể di chuyển được đều lấy ra dùng hết. Thậm chí xăng dầu để vận hành đoàn cuộc hành quân “đa phương tiện” cũng phải nhờ nhân dân giúp đỡ, hỗ trợ.

Đoàn quân “đa phương tiện” đó cứ băng băng tiến về Sài Gòn. Qua mỗi tỉnh, thành mới giải phóng, bộ đội lại vận động thêm nhiều người dân nữa cùng giúp sức đóng góp phương tiện, nhiên liệu để tham gia chiến dịch, giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Rất vui, đoàn quân đi đến đâu cũng được dân giúp đỡ hết sức nhiệt tình.

Trung tường Nguyễn Quốc Thước bồi hồi kể tiếp về cuộc hành quân đó: “Có trong hoàn cảnh đó mới thấy quân dân Việt Nam đồng sức đồng lòng. Bộ đội của ta hầu hết đều xuất thân từ nông dân cả. Có ai biết sử dụng xe máy, xe đò, xe lam đâu. Thậm chí có những người ở những miền quê xa lắc, phải đến khi vào bộ đội, đi qua nhiều miền đất mới thấy được những loại phương tiện đó. May mà nhân dân không chỉ góp phương tiện, họ còn là những nhân tố chính điều khiển các phương tiện. Cứ thế, 1 xe máy chở 2, 3 người. Xe lam chở 13, 14 người còn xe đò chở đến mấy chục người, cả đoàn hừng hực khí thể tiến đến Sài Gòn.”

Trên đường đi, các đoàn nhiều lần phải đối đầu với máy bay địch. Có những sư đoàn, đặc biệt là Sư đoàn 10 chịu tổn thất hết sức nặng nề. Nhưng cuối cùng, ngày 24/4 Sư đoàn 10 cũng có mặt tại điểm tập kết, và là Sư đoàn cuối cùng có mặt ở Củ Chi.

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Mới nghỉ ngơi được mấy ngày sau cuộc hành quân vất vả, Sư đoàn 10 đã lập tức nhận mệnh lệnh đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu Ngụy quyền.

Sân bay Tân Sơn Nhất là sân bay cuối cùng của địch. Việc đánh chiếm sân bay là đặc biệt quan trọng, nó sẽ ngăn chặn việc địch dùng máy bay, chúng cũng không thể chống trụ lại hỏa lực của ta nữa.

Nhưng đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất là một nhiệm vụ không hề dễ dàng. Ở đây có Bộ tư lệnh dù và Bộ tư lệnh không quân 2 cực kỳ tinh nhuệ và cũng là đơn vị mạnh nhất của địch lúc đó.

Để có thể tiến đánh sân bay, ta buộc phải tiêu diệt được Sư đoàn 25 được mệnh danh là “Tia chớp nhiệt đới” của ngụy quân. Sư đoàn này án ngữ ở ngay trước khu vực Củ Chi – Đồng Dù. Nhiệm vụ đập tan thế phòng thủ, phá vỡ “Cánh cửa thép” “Tia chớp nhiệt đới” được giao cho sư đoàn 320.

Quân địch mạnh, tinh nhuệ nhưng thiếu chí khí chiến đấu đã bị đoàn quân hừng hực chí căm thù của quân ta đánh bại chỉ trong 1 đêm chiến đấu ác liệt. Lúc “Cánh cửa thép” hoàn toàn bị xuyên thủng cũng là lúc Sư đoàn 10 lập tức xông vào đánh thẳng vào khu vực sân bay Tân Sơn Nhất của địch.

Khi Sư đoàn 10 vừa cận kề sân bay thì cũng là lúc Sư đoàn 320 “dọn dẹp” sạch khu vực Đồng Dù. Bộ tư lệnh quân đoàn ra lệnh cho Sư đoàn 10 đánh luôn nhưng Bộ tư lệnh chiến dịch đã yêu cầu dừng lại, chờ các mũi tấn công khác áp sát vào thì tấn công luôn lúc. Trước sự chống trả quyết liệt của địch, Sư đoàn 10 vẫn áp sát ngoài hàng rào sân bay.

11 giờ 30, quân ta chiếm hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất, cũng là sân bay cuối cùng của Ngụy quyền.

Kể lại những năm tháng oai hùng ấy, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước vẫn không khỏi bồi hồi, xúc động. Ông kể về câu chuyện đáng nhớ nhất: “Lúc đó, để ngăn chặn quân ta, toàn bộ xe tăng của địch kéo ra cả ngã tư Bảy Hiền. Thế giằng co, quân ta cũng bị thiệt hại nhiều. Trong trận, có 1 xe tăng của ta bị địch bắn toác cả nòng, nhưng các chiến sỹ trên xe vẫn không dừng lại. Họ lao vào đánh giáp la cà bằng xe tăng với địch. Khi xe địch bị xe ta ép chặt vào tường, chúng sợ quá bỏ cả xe chạy thục mạng”

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước bảo ông kể lại câu chuyện này cũng để chúng tôi, thế hệ trẻ được sinh ra trong hòa bình thấy được ý chí chiến đấu của quân đội ta như thế nào. Để thế hệ sau có thể tự hào về quân đội Việt Nam, dân tộc Việt Nam anh hùng. Để lớp lớp hậu thế có thể sống ý nghĩa hơn, xây dựng đất nước mà cha ông đã đổ máu để giữ lấy.

Hoàng Đức Nhã

Nghe Sư trưởng 304 kể chuyện “tiến về Sài Gòn”

(VnMedia) – Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, quân đoàn 2 đã bước sang tuổi 83. Tuổi già, sức khỏe cũng đã yếu, nhưng khi kể về câu chuyện của những ngày tháng oanh liệt của 35 năm về trước, lòng ông chộn rộn đến lạ. Ông say sưa kể cho chúng tôi nghe về câu chuyện đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chuyện những ngày vào Sài Gòn lúc giải phóng mà ông lúc đó là người chỉ huy và cũng là 1 người lính bình dị.

Ảnh minh họaTrung tướng Nguyễn Ân

Chiếm căn cứ Nước Trong

Quân địch sau khi thất thủ ở Huế đã dồn 10 vạn quân về Đà Nẵng. Trước khi quân ta tấn công vào đây, tên tướng địch Ngô Quang Trưởng đã tuyên bố tử thủ tại Đà Nẵng. Nhưng khi quân ta tấn công, hắn đã co giò chạy ra tàu chiến bỏ trốn, bỏ lại hơn 10 vạn quân như rắn mất đầu. Ngày 29 quân ta đã giải phóng Đà Nẵng.

Trong những ngày đóng ở Đà Nẵng thì Quân đoàn 2 nhận được lệnh của Quân ủy Trung Ương tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Bấy giờ cả quân đoàn chuẩn bị lương thực, vũ khí, phương tiện, đi dọc theo Quốc lộ 1 tiến quân. Cả đoàn hơn 3 vạn quân và khoảng 600 xe, dài đến 5 – 6km, lừng lững hành quân từ Đà Nẵng vào Sài Gòn. Trên đường hành quân, quân đoàn nhận được lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Trong lúc này, ai còn do dự thì có tội với đất nước, với nhân dân”.

Dọc đường đi, tàu chiến và máy bay của địch thường xuyên bắn chặn. Đến Phan Rang thì gặp tuyến phòng thủ bên ngoài của Sài Gòn. Quân đoàn lúc đó còn lữ 203 xe tăng, sư đoàn 304, 325. Đánh quân Ngụy ở Phan Rang trong mấy ngày thì bọn chúng tan vỡ. Đến ngày 23, quân đoàn triệu tập các sư trưởng và chính ủy lên để giao nhiệm vụ. Sư đoàn 203 nhận nhiệm vụ đánh vào văn cứ Nước Trong.

Trung tướng Nguyễn Ân, lúc đó là Sư đoàn trưởng nhận lệnh với không ít lo lắng. Cả sư đoàn gồm toàn lính từ ngoài Bắc vào, không biết gì về địa hình ở khu vực, cũng không có người dẫn đường, chỉ biết nhận lệnh qua bản đồ. Nhận lệnh ngày 23, thì ngày 26 đã phải nổ súng rồi. Nhưng rất may, tối 23 thì trinh sát của quân ta vớ được tù binh của địch, bắt nó dẫn đến vị trí căn cứ Nước Trong.

Căn cứ Nước Trong nhưng thực tế là không hề có nước. Sư đoàn phải đóng quân chỗ sông Buông, cách căn cứ 5km. Khi trinh sát nắm được địa hình của địch thì quân ta bắt đầu tổ chức tấn công. Khi đó Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 đã kết hợp với Lữ 203 xe tăng lấy ở quân đoàn làm binh đoàn thọc sâu. Lúc đó trong tay Sư đoàn trưởng Nguyễn Ân chỉ còn có 2 trung đoàn, phải đánh vào căn cứ Nước Trong rất kiên cố. Trước tình thế cấp bách, ban chỉ huy vừa tổ chức trinh sát lại vừa giao nhiệm vụ, kế hoạch tác chiến luôn trên thực địa.

Pháo binh, xe tăng của ta đánh hơn 1 tiếng đồng hồ thì đập tan căn cứ Nước Trong. Nhưng lúc đó, tên Trung tướng Nguyễn Văn Toàn của địch đã lập tức điều 2 thiết đoàn ra phản kích. Quân ta phải đánh từ 27/4 – 28/4 mới đánh tan 2 thiết đoàn gồm toàn xe tăng, xe bọc thép của địch. Sáng 29 mở được đường, đến được Ngã 3 đường 15. Đi đến cầu Sông Buông bị địch phá cầu. Toàn bộ quân ta phải dừng lại để tổ chức chiến đấu. Vừa đánh để giãn địch, vừa cho sửa cầu, gần 2 tiếng mới sửa được xong. Sửa xong cầu, binh đoàn thọc sâu đi trước, đến cầu Xa Lộ (Đồng Nai). Lúc đó gặp Trung đoàn đặc công 116, cùng đánh chiếm cầu Xa Lộ. Vượt qua cầu Xa Lộ, đi đến Thủ Đức, thì quân ta lại gặp ngay địch đánh chặn. Quân ta phải dùng 1 trung đoàn để đánh lại. Toàn bộ sư đoàn và xe tăng thiết giáp vừa đi vừa bắn, đến thẳng cầu Sài Gòn.

Đến cầu Sài Gòn, địch bố trí lực lượng chặn không cho ta tiến công. Quân ta đã điều pháo binh bắn thẳng, đánh tan quân địch ở đây. Vượt qua cầu Sài Gòn cũng là lúc địch bị tiêu diệt gần hết.

Vào Sài Gòn ngày giải phóng

Vào đến Sài Gòn, đoàn quân gặp khó khăn vì không biết đường sá. Đến bên kia cầu Sài Gòn thì rất may là gặp ngay biệt động và dân Sài Gòn, họ dẫn đường vào Dinh Độc Lập. Trên đường đi, dân kéo ra vô cùng đông đúc, chật hết đường, chỉ vừa xe đi. Có nhiều người có cờ giải phóng mang ra phất. Dân hô vang: “Hòa bình rồi, chiến tranh không xảy ra trong thành phố”. Đó cũng là nguyện vọng lớn của dân Sài Gòn. Vì như chúng ta đã biết, nếu đánh nhau trong thành phố mức độ thiệt hại sẽ to lớn như thế nào.

Nhớ lại những thời khắc ấy, Trung tướng Nguyễn Ân hài hước kể: “Lúc ấy tôi đi chiếc xe jeep mui trần lấy được của địch. Đi trên đường, nhiều người dân đã chen nhau sờ vào tay tôi và nói: “Đ…m thằng Ngụy. Thế này mà chúng nó lại bảo Việt Cộng đói, khát đến nỗi bám cành đu đủ không gãy. Tại sao mà Việt Cộng mập và đẹp trai thế này”. Lúc đó tôi nặng 72kg cơ mà”.

“Vào đến dinh độc lập, xe tăng và trung đoàn đã vào trước rồi. Lúc đó các nhà báo nước ngoài nhảy cả lên xe tăng chụp ảnh, quay phim. Tôi ra lệnh mời các nhà báo đó xuống. Ai ngờ tất cả bọn họ đều biết tiếng Việt. Họ giới thiệu và xin chúng tôi cho phép được quay phim, chụp ảnh để làm tư liệu về cuộc đấu tranh vĩ vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam.” – Trung tướng Nguyễn Ân kể tiếp.

Trung tướng Nguyễn Ân trong những ngày chỉ huy chiến dịch, từ ngày 23 cho đến ngày 30/4 không hề ngủ 1 giấc nào. Thỉnh thoảng trên đường cũng chỉ chập chờn ngủ được trong tích tắc. Ăn cũng chỉ toàn ăn lương khô với 1 chút nước ít ỏi. 7 ngày đêm liên tục như thế. Cho đến chiều 320/4 bàn giao dinh Độc Lập cho quân đoàn 4, Trung tướng Ân mới được ăn 1 bát mì ruột gà và được…tắm.

Bảy ngày đêm không tắm, trong chiến dịch đất cát bắn đầy lên người. Đến khi được tắm ở hầm tắm của Bộ nội vụ. Bao nhiêu đất cát, khói bom, thuốc súng bám vào cơ thể trong 7 ngày thì đến bây giờ mới được gột bỏ. Tắm xong, Trung tướng Ân ngủ 1 giấc đầu tiên sau những ngày tháng chiến đấu gian khổ. Ngủ đến 2, 3 giờ sang, dân khắp nơi hô vang: “Hòa bình muôn năm, độc lập muôn năm”. Trung tướng Nguyễn Ân bừng tỉnh, phải mất 1 lúc ông mới định hình lại là mình nằm ở đâu và cảm nhận hương vị chiến thắng lâng lâng, tràn ngập con tim.

Hoàng Đức Nhã

Cuộc đối mặt bất ngờ

Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ nói với Dương Văn Minh: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao gì cả."

(VnMedia) – Chiến tranh đã lùi xa 36 năm về trước nhưng ký ức về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, về hình ảnh đánh chiếm Dinh Độc Lập, bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn tới Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng vẫn in rõ trong tâm trí Trung tướng Phạm Xuân Thệ.

Cuộc hành tiến vào nội đô

Tôi đến gặp Trung tướng Phạm Xuân Thệ khi ngày kỷ niệm chiến thắng lịch sử 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước cận kề.

Năm nay ông 63 tuổi đã về hưu, nhưng trông ông vẫn rất phong độ. Trung tướng Phạm Xuân Thệ quê ở Khả Phong, huyện Kim Bảng, Hà Nam, ông tình nguyện vào chiến trường chiến đấu tháng 8 năm 1967. Sau 4 tháng huấn luyện ở Thái Nguyên, ông Phạm Xuân Thệ được bổ sung vào Trung đoàn 66 – Sư đoàn 304 là đội quân thuộc lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2.

“Tôi cũng như bao người chiến sỹ khác với tinh thần đâu có địch là chiến đấu. Trách nhiệm rõ ràng là phải đánh thắng địch trong mọi tình huống. Tham gia chiến đấu chỉ nghĩ đến hòa bình. Và tôi có được may mắn là tham gia tất cả các chiến dịch”. Ông bắt đầu câu chuyện.

Ngày đó, ông là đại uý, Trung đoàn phó Trung đoàn 66, được Ban chỉ huy Sư đoàn giao nhiệm vụ chỉ huy đội hình bộ binh đi đầu là tiểu đoàn 7”.

Ông Thệ nhớ lại: “Nhiệm vụ của chúng tôi là thực hành tiến công nhanh chóng vào nội đô thành phố Sài Gòn, với mục tiêu là đánh chiếm Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh và Bộ tư lệnh Hải quân của địch. Binh đoàn thọc sâu của chúng tôi gồm có Trung đoàn bộ binh 66 thuộc sư đoàn 304, Lữ đoàn xe tăng 203 và một số đơn vị pháo binh của Quân đoàn 2 tiến vào Sài Gòn”.

“Binh đoàn bắt đầu xuất phát từ 17 giờ ngày 29/4. Khoảng 3-4 giờ sáng 30/4, đến ngã tư Thủ Đức, gặp địch chống cự nhưng khi thấy lực lượng của ta hùng mạnh, quân địch vội bỏ chạy. Rạng sáng ngày 30/4, binh đoàn đến cầu Sài Gòn. Địch ở khu vực cầu Sài Gòn phòng ngự rất mạnh, có cả xe tăng, bộ binh, hải quân… Chúng bố trí các ụ súng, lô cốt, hoả lực mạnh, pháo bắn thẳng, xe tăng từ bên kia sông bắn sang. Không thể tiếp tục tiến, binh đoàn phải dừng lại triển khai chiến đấu. Địch bắn sang rất dữ dội. Ta vừa triển khai đội hình, vừa bắn trả quyết liệt”.

Trung đoàn phó Thệ khi đó nằm ép mình trên mặt đường, bám sát dải phân cách của cây cầu để chỉ huy lực lượng. “Lúc đó đạn tránh mình chứ mình không thể tránh được. Trước mặt mình là kẻ thù, không bắn nó thì nó cũng bắn mình” – ông Thệ kể.

Kết quả, sau gần một tiếng chiến đấu quyết liệt, binh đoàn tiêu diệt được bốn chiếc xe tăng của địch gồm hai chiếc M41, hai chiếc M113, bắn cháy hai tàu chiến dưới lòng sông Sài Gòn, phá hủy nhiều ụ súng, lô cốt ở bên kia bờ sông…Đến 8h sáng ngày 30/4, tiếng súng thưa dần, địch bỏ chạy…

Chiếc xe Jeep chở đại uý Phạm Xuân Thệ khi đó cùng trung uý Phùng Bá Đam (trợ lý cán bộ trung đoàn), trung uý Nguyễn Khắc Nhu (trợ lý tham mưu trung đoàn), lái xe Đào Ngọc Vân, hai chiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng và Bàng Nguyên Thất nhanh chóng bứt lên, hành tiến vào nội đô.

Cuộc đối mặt bất ngờ

Theo lời ông Thệ kể, trước khi tiến qua cầu Sài Gòn, thậm chí ông và các đồng đội còn chưa biết đường dẫn vào Dinh Độc Lập. Ông Thệ còn nhớ như in hình ảnh người đàn ông trung niên, dáng người chắc nịch mặc áo sơ mi cộc tay, cầm cờ giải phóng chạy từ Thảo Cầm Viên ra, đứng trước xe và nói “Quân Giải phóng cho tôi lên xe Jeep, tôi sẽ đưa đi.”

“Khi đến cổng Dinh Độc Lập, xe tăng thứ nhất do anh Bùi Quang Thận chỉ huy húc vào cánh cổng bên trái của cổng chính Dinh Độc Lập và mắc kẹt vào đó. Xe tăng thứ hai do anh Lê Đăng Toàn chỉ huy đâm bật tung cánh cổng chính tiến vào sân… Chiếc xe Jeep của chúng tôi theo xe anh Toàn đi vào. Rất nhanh, lái xe Đào Ngọc Vân giật lá cờ trong tay người đàn ông đi cùng chỉ đường. Ông ta cầm cán kéo lại và kêu “Cờ này của tôi,” tôi bèn nói: “Cờ của ai cũng mang lên để cắm” – ông Thệ hào hứng kể.

Trong thâm tâm ông Thệ và các chiến sỹ hôm đó chỉ nghĩ vào Dinh để cắm cờ mà không ngờ rằng Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn có mặt trong đó. “Tới tiền sảnh, gặp các phóng viên báo chí dưới chân cầu thang rất đông, tôi hỏi đường lên cắm cờ trên nóc Dinh. Đi vòng tay trái đi lên hết tầng một, một người to cao đứng chặn trước mặt tôi và ông ta giới thiệu: “Tôi là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh, toàn bộ nội các chính quyền ông Minh đang ở đây, trong phòng họp, mời cấp chỉ huy vào làm việc.” – ông Thệ kể.

Súng vẫn lăm lăm trong tay, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chững lại, ý nghĩ cắm cờ y biến mất. Ông quyết định vào gặp nội các của Tổng thống Dương Văn Minh. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh dẫn ông cùng các chiến sỹ Quân Giải phóng tới căn phòng tổng thống Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng) cùng toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn đã ngồi chờ sẵn.

Sau khi nghe Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh giới thiệu, Tổng thống Dương Văn Minh tiến lại gần Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ và nói: “Chúng tôi đã biết Quân giải phóng tiến công vào nội đô, đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao.” Lúc này, Phạm Xuân Thệ nói: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao gì cả.” Dương Văn Minh mặt cúi gằm, dáng vẻ sợ sệt, móc trong túi khẩu súng ngắn trao lại cho Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ.

Ảnh minh họaTrung đoàn phó Phạm Xuân Thệ cùng đồng đội đưa Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ra Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng.

Biết Tiểu đoàn 8 của mình đã chiếm được Đài phát thanh, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ yêu cầu Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh.

Ông Thệ kể, thấy súng nổ van trời khắp mọi nơi, Dương Văn Minh sợ nói rằng:
– “Ra Đài Phát thanh sợ không đảm bảo an toàn?”.
– “Chúng tôi đã làm chủ Sài Gòn và sẽ đảm bảo an toàn cho ông…” , ông Thệ nói.

Sau đó, cả Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cùng đồng ý đi đến Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Xuống hết bậc cuối cùng của Dinh, tới sân cỏ, Dương Văn Minh chỉ sang tay trái và nói “mời cấp chỉ huy lên xe của tôi”, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ nói chúng tôi đã có xe để đưa ông đi rồi, rồi đưa cả hai người cùng lên ngồi trên xe Jeep. Chính Dương Văn Minh là người chỉ đường đi đến Đài Phát thanh.

Bản tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh “Tôi: Đại tướng Dương Văn Minh – Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi quân lực cộng hoà hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng miền Nam-Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam – Việt Nam” đã vang lên trên sóng phát thanh.

Tiếp theo là lời tuyên bố của Chính uỷ Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng: “… Chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của Tổng thống chính quyền Sài Gòn… Thành phố Sài Gòn – Gia Định đã hoàn toàn giải phóng” đã đánh dấu thời khắc lịch sử của chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện tại Đài Phát thanh.

Sau khi tuyên bố đầu hàng xong, Dương Văn Minh cùng Vũ Văn Mẫu trở lại chiếc xe Jeep để về Dinh Độc lập và được giao lại cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2.

Sài Gòn hôm ấy súng nổ như đêm 30 Tết. Tiếng súng nổ rất nhiều nhưng không phải là tiếng súng chiến đấu mà là tiếng súng mừng chiến thắng của quân Giải phóng – ông Phạm Xuân Thệ bồi hồi.

Giọng âm trầm xuống: “Đất nước hòa bình thống nhất, nhưng đồng chí, đồng đội hy sinh nhiều quá!”. Ông hồi tưởng lại ngày tháng máu lửa đó… Dường như trong ông vẫn còn hằn sâu nỗi đau về những người đồng đội đã hy sinh bên cầu Sài Gòn, nơi mà chỉ cách trung tâm không xa, hay nói đúng hơn họ đã chết trước giờ toàn thắng. ”Giây phút mà các anh hy sinh chỉ cách có mấy tiếng là giành độc lập…” – Ông nhớ lại.

Ông Thệ chia sẻ, dành được hòa bình, độc lập, tự do rất là quý giá. Nhưng cái giá phải trả thì quá lớn. Thế hệ ngày nay được thừa kế truyền thống của quý báu của cha ông, nhưng hiểu biết và trân trọng cái quý giá đó thì lớp trẻ cần phải được rèn luyện. Bởi, thời buổi kinh tế thị trường, đất nước hòa bình, con người nghĩ tới hưởng thụ nhiều hơn cống hiến, thế hệ trẻ dễ bị sống sai lệch. Xu hướng đồng tiền, vũ khí tinh thần hoặc vũ khí khác thay cho vũ khí nặng thì làm cho con người dễ sa ngã, chao đảo. “Xây dựng, phát triển, giữ và tuyên truyền lịch sử truyền thống phải song song với nhau”, ông Thệ nói.

Kim Thảo