Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 1)

“Đã ra quân là đánh thắng” – câu nói đã ngấm vào máu, khắc vào xương, là niềm tự hào đồng thời cũng là trách nhiệm cao cả của những người lính xe tăng đã viết lên những bản hùng ca 52 năm qua.

Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Năm 1968, lần đầu tiên xe tăng Việt Nam xuất kích, địch đã hoàn toàn bị bất ngờ, hoảng loạn chỉ còn biết tháo chạy. Chiến thắng vang dội ở Tà Mây – Làng Vây, góp phần vào chiến thắng chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, đi vào lịch sử Binh chủng Tăng – Thiết giáp như một mốc son chói lọi, mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”.

Ngày 5/8/1967, sau gần 8 năm thành lập, Bộ Tư lệnh thiết giáp được lệnh sử dụng 2 đại đội xe tăng vào Nam chiến đấu. Hai đại đội PT-76 (đại đội 3 và đại đội 9) của Trung đoàn xe tăng H03 được lựa chọn và tổ chức thành tiểu đoàn mang phiên hiệu 198. Ngày 1/10/1967, tiểu đoàn 198 bắt đầu Nam tiến.

Sáng tạo táo bạo

Hơn 2 tháng hành quân bằng bánh xích, vượt trên 1.000 km đường Trường Sơn, toàn tiểu đoàn đến vị trí tập kết với 100% trang bị chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân phải đảm bảo tuyệt đối bí mật ấy, những người lính xe tăng đã có nhiều sáng tạo đến táo bạo. Theo thiếu tướng Lê Xuân Tấu, nguyên trưởng xe tăng 555, đơn vị di chuyển chủ yếu vào ban đêm bằng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng.

Những đêm mù sương, các trưởng xe phải đi bộ trước mũi xe, khoác dù trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi phủ lên ống xả, vừa ngăn được tiếng ồn, vừa tránh bụi lửa phóng ra từ ống xả. Một bộ bánh xích chỉ cho phép chạy được từ 400 đến 500km trong điều kiện đường tốt. Lần này, do xe tăng của ta phải vượt đoạn đường với địa hình phức tạp, nhiều đá to, ngầm, sông… đặc biệt là phải đi dưới làn bom, đạn pháo địch, nên hơn 90% bánh đỡ nặng và gần 50% mắt xích bị hỏng.

Mắt xích và bánh chịu nặng của xe PT-76 đã vượt hơn 1.000km đường Trường Sơn vào tham gia trận đánh Làng Vây năm 1968. Ảnh: Hà Dương.

Các kíp xe đã đảo xích bên phải sang bên trái và ngược lại, đồng thời, lắp xen kẽ mắt xích lành với mắt xích hỏng để đảm bảo hành quân – cái sáng tạo chỉ có ở người lính xe tăng Việt Nam. Tới điểm tập kết, đơn vị đã nhanh chóng ổn định trú quân an toàn, khắc phục các sự cố của xe, sẵn sàng chiến đấu.

Hằng ngày, máy bay trinh sát địch luôn vè vè trên đầu, máy bay B-52 chốc chốc lại giội bom bừa bãi xuống những nơi nghi vấn, nhưng chúng không thể phát hiện ra hàng chục xe tăng nằm chình ình hơn 10 ngày ngay sát cứ điểm, trên đồi không có lấy một bóng cây chỉ bạt ngàn cỏ tranh. Vì xe đã được phủ bằt các sọt cỏ tranh được trồng và tưới nước hằng ngày.

Nguyên Đại đội trưởng Đại đội tăng 9 Ngô Xuân Nghiêm, cho biết, trong từng trận chiến đấu, tính sáng tạo của lính tăng cũng được thể hiện hết sức sinh động. Câu chuyện kíp xe 569 là ví dụ. Lái xe Phạm Văn Hương bị thương ở chân. Vì không có lái xe thay thế, kíp xe đã sáng kiến Hương lái, còn pháo thủ dùng chân đạp cần lái. Nhờ đó, xe tăng 569 vẫn cùng đồng đội lao về phía trước tiêu diệt địch. Hay chuyện chiếc kính ngắm của xe 565 bị hỏng, pháo thủ đã trực tiếp ngắm qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu… Những sáng tạo đó đã góp phần làm nên chiến thắng.

Tập kích bất ngờ

Thắng lợi Tà Mây – Làng Vây có vai trò rất lớn của việc bảo đảm bí mật, bất ngờ trong hành quân, trú quân và tập kết chiến đấu. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên của ta trên chiến trường và cũng không biết bằng cách nào ta có thể đưa được những chiếc xe tăng vượt qua núi rừng Trường Sơn điệp trùng hiểm trở.

Yếu tố bí mật đó thật sự tạo nên bất ngờ rất lớn trong trận Huội San (Tà Mây). Ngày 24/1/1968, đại đội xe tăng 3 đã tấn công cứ điểm này. Hai xe tăng 555 và 558 đã lao thẳng vào căn cứ của địch, bắn sập các lô cốt, hỏa điểm của địch. Bất ngờ trước sự xuất hiện của xe tăng ta, quân địch hoảng hốt tháo chạy tán loạn, quân ta làm chủ trận địa trong một thời gian ngắn.

Đoàn tiền trạm của Tiểu đoàn 198 chuẩn bị cho trận đánh Tà Mây – Làng Vây. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Đến khi đánh cứ điểm Làng Vây, yếu tố bất ngờ về sự xuất hiện của xe tăng không còn nữa, ta lại tạo ra sự bất ngờ mới về hướng tiến công. Để chuẩn bị tiến công, từ ngày 19/1/1968, đại đội tăng 9 đã nhiều lần cùng bộ đội công binh dùng mảng nứa, bí mật thăm dò lòng sông Sêpôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông và đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể.

Đại đội xe tăng 9 bơi xuôi theo dòng sông Sêpôn từ vị trí tập kết chiến đấu ở đồi Pê Sai vào tuyến điều chỉnh cuối cùng ở Làng Troài, cách địch gần 2km. Sông Sêpôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng, địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động theo dòng sông để tập kích vào hướng này.

Các chiến sỹ công binh đã bơi lặn trong dòng nước lạnh buốt đo mực nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm và phá những tảng đá to trên quãng sông nước cạn, để mở đường cho xe tăng đi bằng xích. Những đoạn có nhiều đá ngầm, các chiến sĩ công binh quấn dù trắng trên mình, đứng dọc hai bên để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng bơi. Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đến 23g cả 8 xe đều đến được vị trí cuối cùng ở khu vực cầu Bi Hiên cách cứ điểm địch khoảng 2km. Lúc này pháo binh địch từ Tà Cơn và hỏa lực địch trong căn cứ Làng Vây bắn mạnh ra trên cả hai hướng, máy bay địch cũng bắt đầu thả pháo sáng, bắn phá ngăn chặn ta tiến công.

Đúng 23g25, ngày 6/2/1968, Sở chỉ huy hạ lệnh và phát tín hiệu xung phong. Xe tăng của ta đồng loạt vượt cửa mở, dẫn bộ binh xung phong vào trong cứ điểm của địch. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao. Xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Advertisements

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ 2)

Ở Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp, có một hiện vật không thuộc nhóm vũ khí khiến khách tham quan không khỏi rưng rưng. Đó chính là nắm cơm bị cháy.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng

Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Đầu năm 1972, chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch xuân – hè nhằm tiêu diệt căn cứ Đăk Tô – Tân Cảnh bằng trận chiến hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia, góp phần tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch.

Như mũi tên thép

Đăk Tô – Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của ngụy quân ở bắc Tây Nguyên, mà Mỹ – ngụy cho là vành đai thép án ngữ hành lang Trường Sơn, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng địch được bố trí ở dãy cao điểm phía tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum.

Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh là giải phóng 1/3 mạn bắc tỉnh Kon Tum, làm sụp đổ tuyến phòng thủ bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn. Sau khi vừa tham chiến ở Đường 9 – Nam Lào trở về, tiểu đoàn 297 tăng thiết giáp lại được lệnh tiến vào chiến trường Tây Nguyên với khẩu hiệu “Tiến sâu – Ở lâu – Đánh thắng!”. Sau 2,5 tháng hành quân, đến đầu năm 1972 thì tới ngã ba biên giới Đông Dương.

Đêm 23/4/1972, từ ngầm sông Pô Kô Hạ, đại đội 7 gồm 9 chiếc xe tăng cùng trung đoàn 66 bộ binh bắt đầu xuất kích. 1g ngày 24/4/1972, xe 377 dẫn đầu tấn công vào hướng đông căn cứ e42 – Tân Cảnh, mở màn trận đánh tiêu diệt cụm cứ điểm này. Sau hơn nửa giờ chiến đấu ác liệt, căn cứ của địch chìm trong khói lửa.

Xe 377 cùng đồng đội xuất kích trong trận Đắk Tô – Tân Cảnh 1972 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Đến 4h30, xe 377 dẫn đầu cho bộ binh và xe 357 xốc tới, dũng mãnh tấn công, như một mũi thép lướt qua công sự, chiến hào, vật cản của địch… tiến thẳng vào sở chỉ huy e42, khiến đại tá cố vấn Mỹ, đại tá Lê Đức Đạt chết tại chỗ, đại tá Vi Văn Bình bị bắt sống. Đến 8h cùng ngày, ta cơ bản làm chủ khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh.

Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh ngụy. Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định điều một trung đội xe tăng, gồm xe 377, 354, 369 vận động theo đường 18 lên hiệp đồng với Trung đoàn 1, Đoàn 2, tiêu diệt địch ở căn cứ Đăk Tô 2.

Một đấu mười

Mặc dù không có thời gian chuẩn bị nhưng, Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển, Trung đội trưởng Trung đội tăng 3 (ngồi trên xe 377) đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, vừa cơ động, quan sát nắm địch, đồng thời dẫn trung đội vận động với tốc độ cao, dũng cảm vượt qua các trận địa, sự bắn phá ác liệt của máy bay địch để đến căn cứ Đăk Tô 2 trước thời gian.

Xe 377 lại tiếp tục dẫn đầu hai xe 354 và 369 lao thẳng vào cứ điểm. Vì gặp chướng ngại vật nên hai xe kia bị tụt lại phía sau. Địch thấy chỉ có mỗi một xe 377 đơn độc bèn cho xuất kích 10 chiếc tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây. Xe 377 lọt vào giữa vòng vây của địch. Cuộc đấu 1 chọi 10 diễn ra ác liệt.

Xe 377, huyền thoại của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trong tình thế nguy nan, Nguyễn Nhân Triển đã bình tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn cháy 7 xe M41, làm rối loạn đội hình địch. Xe tăng 354, 369 trên đường cơ động, biết xe 377 gặp khó khăn chờ chi viện đã chạy với tốc độ cao nhất lao lên trận địa, bắn cháy 3 xe tăng địch. Lúc đó, một xe tăng địch ở phía Nam sân bay dã chiến Phượng Hoàng bắn trúng xe 377.

Dù xe bốc cháy, nhưng kíp xe vẫn kiên cường truy kích địch. Nhưng cuối cùng 4 chiến sĩ trong xe là Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển, Hạ sĩ pháo thủ Hoàng Văn Ái, Nguyễn Đắc Lương và Hạ sĩ lái xe Cao Trần Vịnh đã anh dũng hy sinh. Lúc này xe tăng, bộ binh ta mãnh liệt tiến lên tràn vào tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.

11h30 hôm ấy lá cờ của Tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 tung bay trên cứ điểm Đăk Tô. Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Bờ lêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận ĐăkTô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến ĐăkTô, về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kontum được giải phóng.

Xác những chiếc xe tăng Mỹ do kíp xe 377 bắn cháy tại trận Đắk Tô 2 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy xe 377 đang bốc cháy giữa ngổn ngang xác xe tăng địch. Bên cạnh thi thể không còn nguyên vẹn của các anh, là những nắm cơm mà các anh chưa kịp ăn giữa hai trận đánh đã bị cháy thành than. Tập thể kíp xe 377 đã lập kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao: 1 xe tăng tiêu diệt 7 xe tăng địch trong một trận đánh.

Với chiến công trên, tập thể xe 377 đã nêu tấm gương sáng về bản lĩnh kiên cường. Chiến công của xe 377 được coi là chuyện huyền thoại của Binh chủng tăng thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xe tăng 377 đã trở thành kỷ vật vô cùng thiêng liêng, tự hào của Đơn vị H73 và gia đình các liệt sĩ.

Ghi nhớ chiến công của các anh, chiếc xe tăng 377 đã trở thành tượng đài đặt ở giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô, nơi các anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Phần hài cốt của các anh đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Đăk Tô, mảnh đất nơi các anh đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho đất nước; còn nắm cơm đã cháy thành than, cùng các di vật của kíp xe 377 hiện vẫn đang được lưu giữ tại Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp. Ngày 1/9/2009 nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho kíp xe tăng 377.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Bản hùng ca trên tháp pháo (kỳ cuối)

Hơn 30 năm đã qua đi, nhưng hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống ngụy quyền trưa 30/4/1975 mãi là biểu tượng chiến thắng huy hoàng của dân tộc.

>> Kỳ 1: Đòn phủ đầu ngỡ ngàng
>> Kỳ 2: Nắm cơm bất tử

Kỳ cuối: “Nhân chứng” đặc biệt

(Đất Việt) Sau khi giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết, ngày 26/4/1975, toàn bộ lực lượng của ta bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ba ngày sau, đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong – Trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu tiến vào Sài Gòn.

Thần tốc, táo bạo

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về tử thủ ở ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn. Nửa đêm 29/4, tiểu đoàn 1 đi đầu đội hình đến phía bắc cầu Xa Lộ. Xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu.

Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu. Sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức. Sau khi đánh bại địch giữ cầu Xa Lộ, binh đoàn thọc sâu tức tốc vượt cầu, nhanh chóng vượt qua các tuyến ngăn chặn của địch.

Cánh cổng sắt Dinh tổng thống Nguỵ dưới vành xích xe 390.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

8h ngày 30/4/1975, trong đội hình đại quân thần tốc tiến vào nội đô Sài Gòn, kíp xe 390 gồm: Trung úy Vũ Đăng Toàn chỉ huy xe tăng 390, chính trị viên đại đội 4, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập – lái xe, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên – pháo thủ số 1 và Thiếu úy Lê Văn Phượng – pháo thủ số 2, đi đầu đội hình, vượt qua cầu Thị Nghè, gặp xe tăng địch ra ngăn chặn. Bằng một phát đạn xuyên táo, xe 390 diệt luôn 2 xe M113, số xe địch còn lại hoảng sợ bỏ chạy.

Xe tăng 390 tăng tốc theo đại lộ Hồng thập tự, tiến vào đánh chiếm Dinh tổng thống Nguỵ. Thiếu uý Lê Văn Phượng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 4 nhớ lại, theo phương án tác chiến, xe tăng 390 đến ngã tư thứ 7 thì rẽ trái là vào đến Dinh tổng thống Nguỵ, nhưng vì cả kíp xe không ai biết Dinh ở đâu, xe đã chạy quá một đoạn, nên phải quay lại, theo đường Công lý (nay là đường Nam kỳ khởi nghĩa).

Thắng nhanh để không đổ thêm máu

Sau khi quay lại, chỉ còn cách Dinh khoảng 30m, kíp xe 390 nhìn thấy xe tăng 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc nghiêng cánh cổng phụ bên trái. Do đột ngột gặp sức cản lớn, nên xe chết máy và kẹt ở đó. Khi thấy xe 843 bị vướng trước cổng phụ của Dinh, lái xe Nguyễn Văn Tập quay sang nói với chỉ huy xe Vũ Đăng Toàn: “Hay xe của anh Thận bị thương rồi, Thế nào anh Toàn, có cho xe vào dinh không?”.

“Tông thẳng vào”, Trung úy Toàn đã quyết đoán ra lệnh cho lái xe Nguyễn Văn Tập tông thẳng vào cổng chính của Dinh. Lập tức xe 390 tăng ga, lao thẳng và húc hai cánh cổng thép, xích xe chồm lên cánh cổng bên phải, còn cánh bên trái bung bản lề, nghiêng sang một bên.

Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, tông tiếp vào cánh cổng bên trái, cả hai xe tăng 390 và 843 cùng vượt qua cổng, tiến thẳng vào sân, mở toang cánh cửa cuối cùng vào sào huyệt kẻ thù, tạo điều kiện cho lực lượng ta tràn vào sân Dinh, bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong Dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng, hạ cờ chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh tổng thống nguỵ lúc 11h30 ngày 30/4/1975, thời khắc thiêng liêng báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Khi được hỏi, có nghĩ gì khi quyết định húc vào cánh cổng sắt của Dinh? Ông Vũ Đăng Toàn cho biết, lúc đó, chỉ có suy nghĩ duy nhất là phải giành được thắng lợi nhanh nhất, để đồng đội và nhân dân không phải đổ thêm xương máu nữa. Mặc dù, có thể “dính” mìn chống tăng hoặc vật cản nổ của địch bảo vệ cổng Dinh, có thể hy sinh, nhưng kíp xe không có lựa chọn khác.

Các sĩ quan cao cấp trong phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn
đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng trưa 30/4/1975.
Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Trung sĩ Nguyễn Văn Tập chia sẻ: “Khi thời cơ đến, chúng tôi chỉ biết đó là độc lập. Đất nước còn chiến tranh thì đau khổ vẫn còn, vậy thì quyết định nhanh chóng để bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng, chấm dứt chiến tranh”. Họ là những người hạnh phúc nhất được chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc.

Đó là giờ phút mà không phải người lính nào cũng có may mắn được trải nghiệm. “Cảm giác sung sướng đến phát khóc khi được chứng kiến khoảnh khắc lịch sử, đích đến cuối cùng sau bao nhiêu năm đồng bào, đồng chí đổ xương máu cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc”, Thiếu úy Lê Văn Phượng bồi hồi nhớ lại.

Năm tháng đã qua đi, nhưng hình ảnh xe tăng 390 húc tung cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975 mãi mãi là in đậm trong lòng những người lính xe tăng và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Hiện nay, xe tăng 390 được trưng bày tại Bảo tàng lực lượng Tăng – Thiết giáp. Câu chuyện về “nhân chứng” lịch sử đặc biệt này sẽ như một khúc ca truyền thống tiếp lửa cho các thế hệ những người lính Tăng – Thiết giáp.

Với ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của xe tăng 390 trong Đại thắng mùa Xuân 1975, tháng 8/2011, Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng đã xét duyệt hồ sơ và thẩm định hiện vật xe tăng 390, nhất trí đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.

Hoàng Hà

baodatviet.vn

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

sggp.org.vn

Địch phản kích thất bại

Binh lính ngụy bị bắt và giao nộp vũ khí

Ngày 13-3, hai trung đoàn 66 và 28 (Sư đoàn 10) từ Đức Lập hành quân đến Đông-Bắc thị xã Buôn Ma Thuột hỗ trợ các đơn vị bạn đánh địch phản kích. Trong ngày này, lực lượng ta đã đánh quân phản kích chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong khi đó, ở phía Bắc Tây Nguyên và trên chiến trường Trị-Thiên, Khu 5, bộ đội ta đẩy mạnh tác chiến phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, tạo thế chia cắt buộc Quân đoàn 2 ngụy phải phân tán lực lượng đối phó.

Sư đoàn 968 bộ binh đánh chiếm hai chốt địch ở Tây-Nam Pleiku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, pháo kích sân bay Cù Hanh, Kon Tum. Bộ đội địa phương Gia Lai và Kon Tum hoạt động mạnh ở Đông-Nam thị xã Pleiku. Sư đoàn 3 và trung đoàn 95 A chốt giữ các vị trí đã chiếm được Đường số 19, phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang và hướng Vườn Xoài.

Trung đoàn 25 bộ binh diệt một bộ phận quân địch từ Khánh Dương lên và tiếp tục chia cắt đường 21. Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 14 đặc công đánh chiếm một số ấp vùng ven, áp sát sân bay Nhơn Cơ (Quảng Đức).

Ở Trị-Thiên, lực lượng vũ trang gia tăng hoạt động tại vùng giáp ranh uy hiếp thành phố Huế từ phía Tây và Tây Bắc. Ở khu 5, Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 đã diệt chi khu quân sự Tiên Phước, chia cắt đường số 1, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ.

Thắng lợi lớn của ta ở Buôn Ma Thuột và hoạt động phối hợp ở các chiến trường khác đã làm địch lúng túng.

Q.A tổng hợp

sggp.org.vn

Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng

Tại mặt trận Tây Nguyên, sau nhiều ngày truy kích địch và giải phóng các tỉnh, ngày 24-3 được đánh dấu là ngày toàn thắng của chiến dịch Tây Nguyên. Khởi đầu chính thức từ ngày 4-3, bằng ba trận chiến then chốt (tấn công Buôn Ma Thuột; đánh địch phản kích; tiêu diệt địch tháo chạy trên đường số 7) lực lượng ta đã đánh tan Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, các lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung bộ.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Tại Quảng Nam, sau hơn một ngày tấn công, ta đã giải phóng thị xã Tam Kỳ vào lúc 10 giờ 30 ngày 24-3-1975. Tại Quảng Ngãi, 7 giờ sáng quân ta tiến đánh thị xã. Sau một ngày chiến đấu, địch bỏ chạy cùng với một đoàn xe trên 200 chiếc chạy theo đường số 1 về hướng Chu Lai.

Trước đó, lực lượng ta đã tiến công các vị trí phòng thủ của liên đoàn 11 biệt động quân, cắt đường số 1, đoạn từ Sơn Tịnh đi Bình Sơn, chặn đường rút về Chu Lai của địch. Địch lọt vào trận địa phục kích của ta đã thiệt hại nặng nề: 550 tên bị diệt, 3.500 tên bị bắt sống, 206 xe quân sự bị phá hủy.

Nhờ đó, ta đã uy hiếp thế phòng thủ của địch tại phía Nam Đà Nẵng. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu lại phải kêu gọi “tử thủ Đà Nẵng”. Nếu không giữ được Đà Nẵng thì phải cầm cự 1-2 tháng để bố trí lại thế phòng thủ chiến lược và di tản một triệu dân hòng gây tác động chính trị xấu cho ta, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao ép buộc ta ngừng tấn công.

Vào ngày này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và khẳng định thời cơ chiến lược lớn đã đến. Bộ Chính trị quyết định: Hành động nhanh chóng, táo bạo bất ngờ đánh địch, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

N.T.H.H tổng hợp

sggp.org.vn

Ngày 21/4: Nguyễn Văn Thiệu bị “thí”

Nguyễn Văn Thiệu.

Nguyễn Văn Thiệu sụt sùi thuyên bố rút khỏi cái gọi là “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa”.

Ngày 21/4, quân ta giải phóng thị xã Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh cũ.

7h sáng, Trung đoàn 4 (Sư đoàn 6) phối hợp với nhân dân và công nhân ở “Sở ông Quế” đánh tan Tiểu đoàn 2, Chiến đoàn 43, Sư 18 ngụy khi chúng đang trên đường tháo chạy.

8h sáng, nguỵ quân ngụy quyền thuộc tỉnh Long Khánh tan rã hoàn toàn. Tuyến phòng thủ Xuân Lộc bị đạp tan, cửa ngõ tiến quân vào Sài Gòn đã mở.

Trước những thắng lợi to lớn của ta ở chiến trường miền Nam, Chính quyền Pho-Kissinger ra lệnh di tản. Một lực lượng lớn không quân, hải quân Mỹ gồm 35 tàu chiến, có 4 chiếc tàu sân bay và hàng trăm máy bay hoạt động nhộn nhịp trong một cuộc hành quân tháo chạy hốt hoảng bắt đầu từ ngày 21/4/1975.

Cùng ngày đó, Nguyễn Văn Thiệu sụt sùi thuyên bố rút khỏi cái gọi là “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa”. Hắn than thân trách phận và oán thầy, chửi tớ. Thiệu tiếc nhất không có đủ viện trợ của Mỹ, không có sự can thiệp của Mỹ để kéo dài chiến tranh và thách Mỹ có giỏi thì vào một lần nữa để đánh “Việt cộng”.

Mỹ đưa Trần Văn Hương, một tay sai đắc lực khác của Mỹ lên thay Thiệu./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ

Ngày 23-4-1975, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”. Tiếp đó, Mỹ quyết định di tản người Mỹ ra khỏi Sài Gòn. Đô đốc Noel Gayler, chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương, quyết định thành lập một cầu hàng không tới Sài Gòn.

Lúc này thành phố Sài Gòn như lên cơn sốt. Địch đào các hố cá nhân, xây dựng nhiều chướng ngại vật hình chữ chi, tổ chức nhiều cụm súng máy, súng cối trên các ngõ đường vào Sài Gòn. Lực lượng phòng thủ Sài Gòn của địch lúc này còn khá đông.

Ở vòng ngoài, có các sư đoàn 5, 18, 25, 22 bố trí thành tuyến phòng thủ cách trung tâm Sài Gòn từ 30 đến 50km, từ Long An qua Tây Ninh, Biên Hòa đến Long Bình. Địch còn le lói hy vọng dựa vào các căn cứ và các cụm cứ điểm lớn, vững chắc để ngăn và đẩy lùi các cuộc tiến công của ta.

Ở vùng ven Sài Gòn, lực lượng địch có 3 lữ đoàn dù và thủy quân lục chiến, 3 liên đoàn biệt động quân được bố trí ở Hóc Môn, Tân Sơn Nhất, Bình Chánh, Gò Vấp, Nhà Bè làm nhiệm vụ khu vực và sẵn sàng cơ động ứng cứu cho vòng ngoài. Ở nội thành, địch tổ chức thành 5 liên khu với lực lượng chủ yếu là cảnh sát và phòng vệ dân sự.

Trong lúc này, tiên liệu được chiến thắng giải phóng Sài Gòn, Ban Bí thư đã chỉ đạo chuẩn bị khẩn trương nhà in và giấy để kịp ra báo ngay từ đầu khi giải phóng Sài Gòn.

Trước đó, Bộ Chính trị đã cho ý kiến về công tác tiếp quản Sài Gòn với các yêu cầu: tiếp quản tốt các cơ sở quân sự, kinh tế, chính trị, hành chính, văn hóa… của địch, giữ gìn tốt tài sản quốc gia; lập lại nhanh và giữ vững an ninh trật tự, quản lý tốt ngụy quân, ngụy quyền, trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng; khôi phục nhanh chóng sinh hoạt bình thường của nhân dân; phát động được phong trào cách mạng trong quần chúng; đạt được ảnh hưởng chính trị tốt trong và ngoài nước.

NTHH tổng hợp

SGGP Online

Dinh Độc Lập ngày 30/4

Những thước phim, tấm ảnh định mệnh

Giadinh.net – Sau khi độc lập, người dân Sài Gòn ùa ra đường để xem mặt những người lính cộng sản như thế nào, có người còn sờ vào mông bộ đội để xem có đúng là họ “mọc đuôi” không…

Nhà báo Phạm Việt Tùng:

Tôi đã vào Dinh Độc Lập như thế nào?

Một trong những may mắn định mệnh của nhà báo Phạm Việt Tùng là đã quay được những thước phim cực kỳ quý giá về giải phóng miền Nam và quang cảnh Dinh Độc Lập ngay sau khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Hơn 30 năm sau, ông cũng là người thực hiện bộ phim tài liệu vô cùng xúc động về những người lính từng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trong “Người lính xe tăng 390 ngày ấy”.

Bức ảnh lịch sử do nhà báo Kỳ Nhân chụp tại thời điểm Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Bức ảnh lịch sử do nhà báo Kỳ Nhân chụp tại thời điểm Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Như người lính vào chiến trường

Dù đã không còn công tác tại Đài Truyền hình Việt Nam hơn 10 năm nhưng nhìn nhà báo Phạm Việt Tùng không ai nghĩ ông đã hơn 70 tuổi. Khi được hỏi về những thước phim mà ông quay năm đó, giọng ông trở nên hào sảng vô cùng. Ông kể: “Tháng 4/1975, Đài Truyền hình Việt Nam cử 3 đoàn phóng viên vào chiến trường miền Nam để quay chiến thắng của quân giải phóng. Lúc đó tôi 37 tuổi, cũng là một người từng trải trong nghề rồi.

Ngày 24/4 chúng tôi bắt đầu lên đường, dẫn đầu đoàn đi là nhà báo Huỳnh Văn Tiểng – Phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. Trong đoàn còn có chị Tú Uyên, là vợ của anh Tiểng. Vừa cưới nhau xong thì anh chị cũng đồng thời lên xe cùng với đoàn chúng tôi để thực hiện nhiệm vụ. Chuyến đi đó cũng coi như là “tuần trăng mật” của hai vợ chồng. Còn vợ chồng tôi chia tay nhau ở 58 phố Quán Sứ, cũng bịn rịn như những người lính lên đường đi chiến đấu vậy.

Nhà báo Phạm Việt Tùng

Là nhà báo nhưng chúng tôi được Ban Thống nhất TƯ cấp đầy đủ vật dụng, quân trang gồm quần áo, súng và đạn để tự vệ. Chúng tôi mặc quần áo bộ đội, tư trang găm nặng người. Và có một thứ không thể thiếu được đó là tấm nilon rất rộng và dày vừa làm võng nằm, vừa có thể làm “áo quan” nếu chẳng may có nằm xuống. Nói như thế để thấy rằng dù không phải là người lính trực tiếp chiến đấu nhưng mỗi chúng tôi đều ý thức rất rõ sự nguy hiểm của chuyến đi đó. Vì thế, nỗi sợ khi bước chân đi là có thật, bởi chiến trường tên bay đạn lạc, ai biết sẽ sống chết như thế nào?

Tôi vẫn còn nhớ khi quay cảnh đánh nhau ở rừng cao su trong vách núi (giữa rừng cao su ở Đồng Nai), chị Tố Uyên run ôm chầm lấy tôi bảo: “Tùng ơi, kiểu này thì chết mất thôi”. Chúng tôi cũng sợ không kém nhưng rồi lại nghĩ: “Chết thì chết, nhưng vẫn tự hào là người Hà Nội đóng góp một phần nhỏ bé cho chiến trường miền Nam”.

Chúng tôi bắt đầu quay từ Huế trở vào, quân giải phóng chiến thắng ở đâu thì chúng tôi quay đến đó. Đoàn chia ra làm 3 mũi, đoàn của tôi đi theo đường 1. Dù đi theo đoàn nhưng mỗi người đều phải tự nghĩ ra trong đầu mình một cái tứ nào đó, nếu cứ quay tùy tiện, ngẫu hứng thì lấy đâu ra phim.

Suốt chặng đường từ Bắc vào Nam, lúc nào tôi cũng ôm khư khư cái máy trong người cho đỡ xóc chứ không dám để trong thùng. Nhiều khi tôi cứ hay nói đùa la: “Vợ có khi không quý bằng cái máy quay”, bởi để có được những thước phim đó chúng tôi đã phải tốn rất nhiều công sức và cả sự mạo hiểm. Lúc nào cũng chỉ sợ đúng lúc đánh nhau mà máy giơ lên không quay được, vì thế cái máy lúc đó là quý hơn người.

Để vào Sài Gòn lúc đó là rất khó khăn bởi quang cảnh đổ nát vì cuộc chiến và đâu đâu cũng ngổn ngang các vật dụng, ba lô của lính Mỹ, ngụy chất thành đống cao ngất. Rồi người dân kéo ra đường để đón tiếp quân giải phóng, đường sá lúc đó tắc kinh khủng. Hơn nữa, làm báo trong điều kiện khi đó không giống như bây giờ vì muốn đi phải có sự đồng ý của địa phương đó thì mới được đến. Đi phải theo đoàn chứ không phải ai muốn tác chiến thế nào là tuỳ đâu, có khi còn bị bắt ấy chứ”.

Gặp may

Đúng sáng 1/5/1975 nhà báo Phạm Việt Tùng có mặt ở Sài Gòn. “Sài Gòn lúc đó như một đống rác khổng lồ, thứ được tìm mua nhiều nhất là cờ giải phóng. Nhưng vào đến nơi, chúng tôi cũng không ý thức được là phải vào Dinh Độc Lập đâu. Ai cũng nghĩ, qua sông Bến Hải là vào đến miền Nam, quay được cảnh giải phóng ở đó là ổn chứ có ai nghĩ đến việc là phải vào Dinh Độc Lập để quay đâu. Với lại, vào Sài Gòn lúc đó chắng khác gì nhà quê ra tỉnh, có muốn đi cũng không biết đường mà vào. Chỉ có thằng láu cá và khôn như tôi thì mới nghĩ ra là vào Dinh Độc Lập, mà ngẫm ra cũng là “ăn may” thôi vì lúc đó, các đồng nghiệp của tôi đều vào đài Sài Gòn, có người còn vào tận Vũng Tàu để quay. Tôi lớ ngớ thế nào lại bỏ đoàn để đi theo đoàn sinh viên Vạn Hạnh và được họ chỉ đường rất nhiệt tình”.

Chứng kiến những gì đang diễn ra ở Sài Gòn khi đó, nhà báo Phạm Việt Tùng ngẫm đến câu nói của Bác Hồ: Cuộc chiến tranh của chúng ta là chiến tranh nhân dân. “Lúc đó tôi mới thấm nhuần được rằng đó là dân tộc ta thắng Mỹ chứ không phải chúng ta thắng ngụy đâu. Ngay cả một bộ phận lính ngụy cũng bỏ súng xuống và đi theo mình. Sinh viên Sài Gòn lúc đó là lực lượng ủng hộ quân giải phóng nhiệt tình nhất”.

Khi được hỏi về điều gì khiến ông xúc động nhất khi đến Sài Gòn, nhà báo Phạm Việt Tùng nói: “Có 2 điều khiến tôi xúc động đó là: Sau khi độc lập, người dân Sài Gòn ùa ra đường để xem mặt những người lính cộng sản như thế nào, có người còn sờ vào mông bộ đội để xem có đúng là họ “mọc đuôi” không. Có người thốt lên: Ô hô, Việt cộng làm gì có đuôi như tuyên truyền xuyên tạc của ngụy. Mừng nhất là các sư sãi, sinh viên, kể cả những người lính của phía bên kia họ cũng ra để xem cộng sản thế nào. Có người còn đổi đôla sang tiền Việt Nam Dân chủ cộng hòa để chiêm ngưỡng dung mạo Cụ Hồ như thế nào.

Điều thứ 2 là tâm thế của Tổng thống Dương Văn Minh khi trả lời phỏng vấn báo chí trong và nước ngoài. Ông ấy cười rất tươi và nói: “Hôm nay tôi rất mừng vì tôi đã được 60 tuổi và được là người dân độc lập của nước Việt Nam” (sau này được chữa lại là “của nước Việt Nam độc lập”). “Tức là ông ấy chúc mừng thắng lợi của nước Việt Nam chứ không nghĩ đến số phận và tâm thế của một kẻ thất bại”, nhà báo Phạm Việt Tùng nói.

Nhà báo Đậu Ngọc Đản – Tổng biên tập tạp chí truyền hình (nguyên phóng viên chiến trường của Tổng cục chính trị):

Đó là may mắn lớn của tôi

Hồi đấy tôi mới 24 tuổi, là phóng viên mang quân hàm thiếu uý của Tổng cục chính trị. Vào Sài Gòn khi đó có rất nhiều phóng viên báo chí trong và ngoài nước nhưng có người vào muộn, có người vào sau vì nhiều lý do khác nhau.

Sở dĩ tôi có mặt tại Dinh Độc Lập vào sáng ngày 30/4/1975 để chứng kiến cảnh Tổng thống Dương Văn Minh bị bắt là bởi tôi có 2 may mắn lớn đó là: Tôi là phóng viên của quân đội, lại được đi theo tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn xe tăng 203, là cánh tiến thẳng vào Sài Gòn. Trong đó, chiếc xe tăng thứ 4 mà tôi được đi cùng là chiếc tiến vào Dinh Độc Lập.

Các chiến sĩ Quân đoàn 2 đưa Tổng thống Dương Văn Minh ra đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng.

Các chiến sĩ Quân đoàn 2 đưa Tổng thống Dương Văn Minh ra đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng.

Khi quân giải phóng tiến vào Dinh, tôi cũng đã nhanh tay chụp được bức hình trung uý Phạm Xuân Thệ đưa Dương Văn Minh đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng.

Nhà báo Đậu Ngọc Đản

Khi chụp xong bức hình này, trong đầu tôi chỉ nghĩ đến việc làm thế nào đó để nhanh chóng đưa nó về Hà Nội để kịp thời đưa tin đến nhân dân cả nước. Vì thế mà tôi không đến đài phát thanh để chứng kiến những gì xảy ra ở đó nữa. Tôi nghĩ đến việc nhờ một cảnh sát của Việt Nam cộng hoà (vì họ có xe ô tô) và nói: “Tôi là phóng viên, bây giờ tôi đang cần đưa tin bài gấp về Hà Nội, ai trong số các anh có thể giúp tôi được không?”.

Lúc đó khoảng vài người xung phong đưa chúng tôi đi và tôi đã chọn một người tên là Võ Cự Long, một cảnh sát chuyên dẫn đường cho xe của tổng thống. Anh này đưa tôi và anh Hoàng Thiểm chạy từ Dinh Độc Lập ra Đà Nẵng để lên chuyến máy bay đầu tiên trở về Hà Nội. Còn tôi thì trở lại Bộ Tổng tham mưu (vì là phóng viên quân đội) để nghi lại những hình ảnh ở đó.

Ra đến sân bay Tân Sơn Nhất, tôi lại gặp một may mắn nữa khi hình ảnh nữ biệt động thành Trung Kiên (tên thật là Cao Thị Nhíp) tự nguyện dẫn đường cho xe tăng của quân đoàn 3 vào Sài Gòn. Sau này đó cũng được coi là một bức ảnh đẹp của tôi và được nhiều người biết đến.

Nữ biệt động thành Trung Kiên dẫn đường cho xe tăng của Quân đoàn 3 tiến vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.

Nữ biệt động thành Trung Kiên dẫn đường cho xe tăng của Quân đoàn 3 tiến vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.

Khi vào Sài Gòn, cảm giác của tôi giống như một cậu học trò ở quê lần đầu ra tỉnh vậy. Đó là một thành phố phồn hoa đô hội nên chúng tôi không tránh khỏi sự ngỡ ngàng. Nhưng với tâm thế của người chiến thắng nên tự nhiên cũng thấy tự tin hơn. Đang tác nghiệp nhưng chính chúng tôi cũng muốn hoà mình vào không khí chiến thắng ấy vì thấy người dân miền Nam ai cũng niềm vui ngập tràn trên khuôn mặt, không khí rộn ràng vô cùng.

Nếu nói về hình ảnh ấn tượng nhất với tôi trong ngày giải phóng thì đó chính là cảnh trung uý Phạm Xuân Thệ áp giải nội các tổng thống Dương Văn Minh từ Dinh Độc Lập lên xe để đến đài phát thanh. Hình ảnh anh bộ đội trở nên hiên ngang, cao lớn với một tâm thế của người chiến thắng. Hình ảnh thứ 2 là nữ biệt động thành Trung Kiên, tay ôm khẩu súng và đứng trước xe tăng dẫn đường với tôi là một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ.

Sau ngày chiến thắng, tôi có gặp lại cô ấy một đôi lần nên được biết hoàn cảnh của cô ấy cũng rất đáng thương. Được biết sau này cô ấy tái hôn với một Việt kiều người Đức và định cư luôn ở đó. Vừa rồi tôi cũng có đề nghị với chị Thu Uyên của chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” để tìm lại “o Nhíp” năm xưa nhưng không biết cô ấy có liên lạc được không.

Sau này, thấy tôi có một vài lần xuất hiện trên truyền hình, ông Võ Cự Long có gọi điện cho tôi hỏi thăm, nhưng giờ ông ấy ở đâu tôi cũng không được biết nữa. Đó là những người mà tôi phải biết ơn và mong muốn được gặp lại họ một lần nữa.

Nhà báo Kỳ Nhân, cựu phóng viên Hãng AP từ năm 1972-1975:
Tôi đã chụp rất nhanh bức hình đó

Tại thời điểm Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh Sài Gòn, có một nhà báo Việt Nam và là người duy nhất chộp được bức hình lịch sử đó. Ông là nhà báo Phạm Kỳ Nhân (bút danh Kỳ Nhân), phóng viên của Hãng AP tại Sài Gòn khi đó. Ông nhớ lại:

Tôi túc trực tại Dinh Độc Lập bắt đầu từ ngày 28/4 vì thấy lúc này tinh thần của chính quyền ngụy đã rệu rã lắm rồi. 10 giờ sáng ngày 30/4, tôi vào Dinh Độc Lập để tiếp tục theo dõi những diễn biến trong nội các của Dương Văn Minh.

Cùng có mặt trong Dinh lúc đó với tôi còn có nhà báo Tây Đức Borries Gallasch (giờ ông ấy đã mất rồi). Lúc đó, ngoài Dinh một vài lính Lôi Hổ đang tụ tập trong sân, vứt súng, quân phục xuống đất và có những hành động phản đối việc Tổng thống Dương Văn Minh có ý định đầu hàng quân giải phóng.

Ở trong Dinh, Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu lúc đó đều không có vẻ buồn của người thua trận. Trái lại, tôi thấy họ rất vui và tâm trạng thì rất bồn chồn chờ quân giải phóng vào để bàn giao chính quyền.

Khi quân giải phóng vào và đưa nội các Dương Văn Minh đến đài phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng, tôi đã dùng xe riêng của mình để chở các ông Cả và Lâm (họ đều không đeo quân hàm) đến đài phát thanh.

Nhà báo Kỳ Nhân

Lúc đó các nhà báo chỉ có tôi và Borries Gallasch nhưng nhà báo này chỉ ghi âm thôi chứ không chụp hình. Thấy đó là thời khắc quan trọng nên tôi đã chụp rất nhanh bức hình đó và gửi về Hãng AP.

Sau này, những bức ảnh tôi chụp được khi đó cũng đều bán lại cho Mỹ. Một vài bức cũng được gửi cho Báo ảnh Việt Nam. Rời đài phát thanh, tôi hoà vào dòng người của quân giải phóng để tiếp tục tác nghiệp. Thấy tôi chụp ảnh, nhiều bộ đội giải phóng còn thấy rất lạ, thậm chí còn có vẻ ngơ ngác khi thấy tôi giơ máy ảnh lên chụp.

Trong đời làm phóng viên của mình, bằng những tác phẩm báo chí viết về chiến thắng 30/4 năm đó, tôi vô cùng tự hào vì mình đã đóng góp được một phần nhỏ bé để ghi lại những thời khắc lịch sử quan trọng của đất nước.

Thanh Hà

Gia đình.net.vn